Anh Hùng Đông A – Gươm Thiêng Hàm Tử (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 88

Anh Hùng Đông A – Gươm Thiêng Hàm Tử (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 88

ANH HÙNG ĐÔNG A – GƯƠM THIÊNG HÀM TỬ
* Tiểu Thuyết Lịch Sử
* Tác giả: Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ
* Nguồn: Blog Trần Đại Sỹ (https://trandaisy.wordpress.com)

* Để đọc những phần đã đăng, xin vào khung Search this site (Tìm Kiếm) và gõ tên tác giả: Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ.

HỒI THỨ TÁM MƯƠI TÁM
Lưỡng quốc công thần

Trong khi sự việc rung chuyển trời đất diễn ra tại Yên kinh, Khai bình, Hoa lâm, thì tại Nam Tống: Tể tướng Giả Tự Đạo sau khi ký hòa ước với Mông cổ trở về Lâm an mặt đầy kiêu khí với Cảnh Định hoàng đế (Tống Lý Tông).

* Ghi chú: Cảnh Định là niên hiệu của Tống Lý Tông trong thời gian 1960 – 1964. Tống Lý Tông tên thực là Triệu Quân, lên ngôi năm 1225, trải qua các niên hiệu: 1225 Bảo khánh, 1228 Thiệu định, 1234 Đoan bình, 1237 Gia huy. 1241 Thuần hựu, 1253 Bảo hựu, 1260 Cảnh định. 1264 Băng năm Giáp Tý.

Triều đình Tống ngày đêm lo sợ Mông cổ, bây giờ họ thấy Tống chỉ mất một số vàng bạc tương đương với số tiền chi phí nuôi một hiệu binh trong hai năm mà cái ách Mông cổ được gỡ ra, cái họa kị mã Mông cổ đốt nhà giết tuyệt cả một huyện, một thành phố không còn nữa, thì mừng chi siết kể.

Giữa bữa tiệc vua tôi, văn võ bá quan vui mừng ấy thì Khu mật viện đệ lên tấu chương của Tiết độ sứ Ích châu, nội dung tâu chiến thắng Bồ lăng, giết Mông ca. Vương Kiên còn xin xuất quân ra ngả Phù phong, đánh Võ đô, Hán trung, Vị Nam, Hàm dương. Xin triều đình cho quân vượt Trường giang đánh lên tái chiếm Kinh châu.

Giả Tự Đạo bỏ tấu chương vào túi, lệnh cho sứ giả của Vương Kiên nhập tiệc.

Tiệc tàn, Giả Tự Đạo lệnh ngày hôm sau, bách quan thiết đại triều nghe đình nghị về chiến cuộc Ích châu và hòa ước Ngạc châu.

Hôm sau, trong buổi thiết đại triều, khi các lễ nghi dứt, vì Tể tướng Giả Tự Đạo được ban ân: khi tâu trình không phải xưng tên, không phải quỳ. Ông bước ra:

– Muôn tâu thánh hoàng, sau hơn tháng nghị hòa với Mông cổ , triều đình đã đạt được thắng lợi vô cùng lớn lao là Mông cổ chịu rút về Bắc, trả lại ta 11 châu, 144 thành. Tuy nhiên từ khi động binh họ phải chi quân phí quá nhiều, binh tướng chết vô kể. Họ đòi quân phí. Từ ngày nghị hội đầu tiên, điều kiện họ đưa ra để ngưng chiến là ta phải nộp vàng, bạc, lụa, và ngưng chiến tại chỗ. Tức chỗ nào họ chiếm được, họ giữ nguyên. Ta thì đồng ý nộp vàng lụa, nhưng không chịu cắt đất. Thế nhưng buổi hội cuối cùng, họ lại đồng ý rút quân về Bắc, trả ta 11 châu, 144 thành. Thực nằm mơ thần cũng không thể tưởng nổi. Chỉ mới hai ngày qua thôi, mà họ đã rút quân sang bên kia sông hết rồi.

Ông tự hào:

– Còn vàng, bạc, gạo nộp cho họ còn ít hơn quân phí một hiệu binh trong hai năm. Không biết bệ hạ cùng triều đình có gì cần nghị không?

Một văn quan bước ra tâu:

– Thần Văn Thiên Tường, Khu mật viện sứ xin kính tâu: Mông cổ đang khăng khăng đòi đất, rồi thình lình mềm như con chi chi, nhận tất cả điều kiện của ta, vì họ đại bại tại Ích châu. Đại Hãn của họ bị ta giết chết. Mông cổ đang có cuộc tranh dành ngôi Đại Hãn giữa hai người em của Mông Ca là Hốt Tất Liệt với A Lý Bất Ca. Hốt Tất Liệt chịu điều kiện của ta, để y rút quân về Bắc tranh thắng với A Lý Bất Ca.

Từ nhà vua cho đến văn võ bá quan nghe tin quân Tống giết Đại Hãn của Mông cổ đều kinh ngạc, mở to mắt nhìn nhau ngỡ ngàng.

Nhà vua hỏi:

– Khanh tâu chi tiết hơn về việc Mông Ca bị giết.

Sứ giả tâu trình chi tiết các trận đánh Điếu ngư, Trường thảo, Bồ lăng. Cuối cùng kết luận:

– Khi thần lên đường về đây thì Vũ Uy vương của Đại Việt cùng Vương Tiết độ sứ đang ra quân đánh như sét nổ, tái chiếm lại toàn bộ Tứ xuyên. Mông cổ đã rút hết quân từ Ích châu về Hàm dương. Vương Tiết độ sứ muốn xin bệ hạ chấp thuận cho người khôi phục lại Đông xuyên, Tây xuyên, xuất binh ra Tà cốc chiếm Phù phong, Vị Nam, Hàm dương, Lâm đồng. Người xin triều đình xuất quân tái chiếm Kinh châu.

Giả Tự Đạo lắc đầu:

– Vương Kiên bị Mông cổ đánh chiếm gần hết Tứ xuyên, sức cùng, lực kiệt. May nhờ Đại Việt viện binh, xuất kỳ bất ý mà thành công. Mông Ca tuy chết, nhưng các tướng của y đâu có hèn? Mông cổ ở vùng ấy còn tới 30 vạn kị binh như hùm, như hổ. Bây giờ Vương Kiên định đem mấy hiệu binh ọp ẹp chọi với chúng e chết uổng mà thôi. Xin bệ hạ ban chỉ cho Vương Kiên: chỉ nên tái chiếm lại Ích châu là có đại công lớn vô cùng. Triều đình đã ký hòa ước với chúng, để được yên rồi. Không nên chọc chúng nữa.

Quản Khu mật viện Văn Thiên Tường cãi:

– Từ trước tới nay Hốt Tất Liệt muốn lấn áp Mông Ca. Vì vậy Mông Ca mới lập ra Câu khảo cục để tỉa bớt vây cánh của y, rồi thu binh quyền, đem y về Hoa lâm ngồi chơi. Mông Ca đem quân nghiêng nước vào đánh Trung nguyên, chính y thân chinh đánh Tứ xuyên, còn mặt trận phía Đông y trao cho Tháp Sát Nhi. Vì bị ta đánh bại, nên Tháp Sát Nhi bị Mông Ca cách chức trao cho mặt trận phía Bắc. Bất đắc dĩ Mông Ca phải gọi Hốt Tất Liệt ra thay thế.

Ông ngừng lại cho mọi người theo kịp, rồi tiếp:

– Đúng ra Mông Ca là con cả của Đà Lôi chết, thì con thứ là Hốt Tất Liệt sẽ lên thay. Đây Mông Ca để di chiếu cho em thứ ba là A Lý Bất Ca thay, thì đời nào Hốt Tất Liệt chịu ngồi yên? Y phải đem quân về tranh ngôi với A Lý Bất Ca. Chính vì vậy y buông mặt trận Ngạc châu, đem quân về Bắc. Cho nên mới hôm trước y nằng nặc đòi giữ 11 châu, 144 thành; mà hôm sau y đổi thái độ. Mông Cổ đang có nội chiến. Tại sao ta không nhân dịp này quét chúng khỏi Trung nguyên? Vương Kiên có lý khi muốn xuất binh đánh ra Hàm dương. Ta cũng nhân dịp này đánh thốc lên Bắc phục hồi cố thổ!

Thế rồi văn võ bách quan cùng nhau tranh luận. Cuối cùng nhà vua ngả theo phe Giả Tự Đạo:

– Suốt bao năm qua, ta chịu binh ách khổ cùng cực. Kho lẫm, quốc khố trống rỗng. Binh tướng chết quá nhiều. Bây giờ Hốt Tất Liệt chịu trả đất, rút binh, là dịp bằng vàng. Ta tạm thời ngồi trông anh em Hốt Tất Liệt tranh dành. Cuộc nội chiến này ít ra phải 3 tới 5 năm. Hai cọp tranh thắng, cuối cùng một cọp chết, một cọp bị thương, trong khi ta huấn luyện, bổ sung quân khí, phục hồi kho lẫm. Bấy giờ ta quay lên tranh phong với chúng cũng chưa muộn.

Nhà vua ban chỉ:

– Triều đình ghi công Vương Kiên cùng tướng sĩ Tứ xuyên. Binh bộ hãy xét công lao, phủ tuất gia đình tướng sĩ vị quốc vong thân. Thăng thưởng cho tướng sĩ có công. Đối với Vũ Uy vương và binh tướng Đại Việt thì tùy nghi, nếu họ muốn ở lại giúp ta, ta điều hai hiệu binh thiện chiến này trấn tại Tương dương, Phàn thành. Nếu họ muốn rút về thì triều đình gửi sứ sang tạ ơn Quốc vương Đại Việt, xin thăng thưởng cho tướng sĩ Việt có công.

Văn Thiên Tường tâu:

– So với Đại Việt thì Tống là đại quốc. Binh tướng Đại Việt sang đây xả thân vì Tống, thì Tống nên xét công thăng thưởng cho họ. Họ có thể có chức tước của Đại Việt, nay thêm chức tước của Tống, họ càng thêm hãnh diện. Nhất là hiệu binh Thiệu Hưng, họ gồm các Hoa kiều tài trí ở Đại Việt. Họ bỏ đời sống an nhàn, về nước đánh Thát đát. Triều đình cần phong chức tước cho họ. Lại sai sứ sang Đại Việt phong hàm cho cha mẹ của họ.

Nhà vua nhỏ nhẹ:

– Trẫm chuẩn lời tâu của Văn Thái phó. Vậy Binh bộ, Lễ bộ xét công tâu lên để thăng thưởng cho họ càng sớm càng tốt.

Nhà vua suy nghĩ một lát rồi tiếp:

– Trẫm nghe Vũ Uy vương, vương phi là những người có tài đại tướng, lại là những đấng bút mặc văn chương. Trẫm khẩn khoản kính mời vương, vương phi cùng các đại tướng Việt tới Lâm an, để triều đình tỏ lòng ngưỡng mộ. Không biết ai đi sứ được đây? Phải mời cho được ba đại tướng có mỹ danh Dã Tượng, Yết Kiêu, Đại Đởm Nguyễn Thiên Sanh.

Giả Tự Đạo tâu:

– Vũ Uy vương, vương phi có tài dùng binh như Tôn Ngô, võ công cao không biết đâu mà lường. Cả hai lại là những đấng tài tử, bút mặc văn chương. Vậy cần phải có một danh sĩ đi sứ thì mới tỏ ra triều đình trọng vọng vương.

Trấn Viễn đại tướng quân Giả Nghị tâu:

– Danh sĩ tại triều thì nhiều vô kể. Thần xin tiến cử một trong ba vị là Lưu Khắc Trang, Tạ Phương Đắc, Văn Thiên Tường.

Nhà vua trì nghi:

– Nên cử hai vị là Thái phó Văn Thiên Tường và Phong đô hầu Tạ Phương Đắc. Trẫm nghe khi Tạ Phương Đắc từ Thục về triều, thì Vũ Uy vương phi gửi hai sư đệ là kiếm thuật danh gia theo hộ tống. Hôm trước Tạ Phương Đắc nhục mạ thậm từ Tể tướng bị đầy ra Hưng quốc quân. Vậy hãy ban chỉ ân xá cho Phong đô hầu, khiến hầu đem hậu lễ vào Thục mời Vũ Uy vương, vương phi và những đại tướng Việt có công về triều. Triều đình phải tổ chức tiếp đón thực long trọng, để tỏ lòng tri ân.

oOo

Tại Thành đô, sau khi quân Mông cổ rút khỏi Ích châu, thì Vương Kiên, Gia Huyễn Ông bận rộn vô cùng, vì phải lo phối trí lại lực lượng, tu bổ các thành trì, tái huấn luyện binh tướng, bố nhiệm các quan văn võ mới. Những việc này Vũ Uy vương không giúp gì được cả.

Vũ Uy vương cho họp các tướng hai hiệu binh Văn Bắc, Thiệu Hưng, kiểm điểm quân số tổn thất. Hiệu Thiệu Hưng bị thiệt hại nhẹ trong trận đánh Bồ lăng. Hiệu Văn Bắc thiệt hại chút ít trong trận Thảo trường khi giao chiến với đội Cấm quân. Các tướng vô sự.

Yết Kiêu đặt vấn đề:

– Mục đích của triều đình là cứu viện Tống. Nay Mông cổ đã rút khỏi Tứ xuyên. Triều Tống ký thỏa ước ngừng chiến với Mông cổ. Vậy chúng ta rút về Đại Việt hay tiếp tục ở lại?

Dã Tượng bàn:

– Binh tướng xa nhà đã lâu. Hiện Mông cổ đang có nội chiến khốc liệt, ta nên rút về càng sớm càng tốt.

Vũ Uy vương ban chỉ:

– Cô gia đã gửi biểu về triều. Hãy đợi chỉ dụ của triều đình đã.

Có sứ giả của Vương Kiên đến. Sứ giả là Kiêu kị thượng tướng quân Nguyễn Văn Lập. Sứ giả khải:

– Thưa vương gia, vương phi cùng chư tướng. Triều đình sai hai vị sứ giả là Tạ Phương Đắc, Văn Thiên Tường tới để thăng thưởng cho tướng sĩ Tống, Việt có công trong trận đánh vừa qua. Vương Tổng trấn xin chỉ dụ của vương gia.

– Hiện sứ giả ở đâu?

– Sứ giả đang ở trong thành.

– Được rồi, chúng tôi đi ngay.

Vương cho mời tất cả các tướng soái hai hiệu binh Thiệu Hưng, Văn Bắc từ cấp Quân trưởng lên đường vào thành.

Lễ nghi tất.

Văn Thiên Tường hướng tất cả tướng sĩ Việt:

– Hoàng thượng cùng triều đình đã gửi sứ giả sang Thăng long, tạ ơn Thượng hoàng, Thiệu Long hoàng đế cùng triều đình Đại Việt đã mở rộng kho lẫm giúp Tống trong cơn khốn khó. Đại Việt lại gửi binh hùng, tướng giỏi tài trợ Trung nguyên. Triều đình sai tôi vào đây trước là phong chức tước cho tướng sĩ hiệu binh Thiệu Hưng, Văn Bắc, sau là kính thỉnh vương gia, vương phi cùng chư tướng về Lâm an để được diện kiến chư vị anh hùng Nam phương.

Văn Thiên Tường đọc chiếu chỉ tuyên dương công trạng cho toàn thể binh tướng Đông xuyên, Tây xuyên, Hán trung, Thành đô đã xả thân báo quốc.

– Vương Kiên chức tước cũ là:

Thái tử thiếu bảo, Trấn viễn thượng tướng quân, Tây xuyên quốc công, Ích châu Tiết độ sứ.

Nay được thăng:

Thái tử Thái phó, Hán trung quốc công. Trấn viễn đại tướng quân, Trung vũ quân Tiết độ sứ.

– Tạ Phương Đắc, chức tước cũ là :

Binh bộ tham tri, Khu mật viện sứ, Thái tử thái bảo, Phong đô hầu,

Nay được thăng:

Thái tử thiếu sư, Binh bộ thượng thư, Phó quản Khu mật viện, Phong đô công. Bình Tây đại tướng quân.

– Gia Huyễn Ông chức tước cũ là:

Khu mật viện phó sứ, Thái tử thiếu sư, Long nhương thượng tướng quân, Thành tâm hầu. Giám quân Thành đô.

Nay được thăng:

Khu mật viện sứ, Thái tử thái bảo, Văn thành hầu. Tổng trấn Thành đô.

– Nguyễn Văn Lập chức tước cũ là:

Phó trấn thủ Điếu ngư. Kiêu kị thượng tướng quân, Trung nghĩa hầu.

Nay được thăng:

Phiêu kị thượng tướng quân, Đại thắng hầu. Tổng trấn Hợp châu.

Ngoài ra hầu hết tướng sĩ Tống có công đều được thăng chức, ban tước. Phu nhân Minh Anh của Vương Kiên, Hoa sơn ngũ hiệp, Kim sơn tam anh, đều được thăng thưởng.

Các tướng hướng về Lâm an tạ ơn.

* Ghi chú: Tất cả chức tước cũ, và mới của bốn tướng, tôi lấy trong bộ Tống triều công thần bi ký.
Sau khi Tống triều mất, dân chúng các nơi lập đền thờ bốn vị tướng này, rồi tạc bia kỷ niệm.
Đến đời Thanh, vua Khang Hy ra lệnh cho hai đại thần là Trần Hy Cương, Tống Đạm sưu tầm tất cả văn bia các công thần Tống soạn thành bộ sách mang tên Tống triều công thần bi ký. Bộ này soạn vào Mậu-Tuất (1718), niên hiệu Khang Hy thứ 57. Nội dung sao chép tất cả văn bia, mộ chí các công thần nhà Tống . Thư viện Quảng-châu, Liễu-châu, Côn minh, Thành đô đều có bộ này.

Hướng về các tướng Việt, Văn Thiên Tường nói bằng giọng đầm ấm:

– Từ nghìn xưa, người Hán dù lưu lạc bất cứ phương nào, từ nguyên do nào, đều luôn hướng về quê hương. Người Hán lưu lạc sang Đại Việt, được các triều đại Đại Việt ưu ái cho kiều ngụ, tất cả đều khá giả. Nay nhân đất nước bị rợ Thát đát tàn phá, muốn trở về quê hương đuổi giặc, được Thiệu Long hoàng đế cùng triều đình nghĩ tình Tống-Việt môi hở răng lạnh, đã cho tổ chức thành hiệu binh Thiệu hưng rồi huấn luyện trang bị. Giữa lúc Ích châu như ngọn đèn trước gió, hiệu binh Thiệu hưng được đem về cứu viện. Với lòng yêu quê hương nhiệt thành, với tinh thần quyết đuổi giặc, đánh đâu thắng đó.

Ông nhìn các tướng hiệu Thiệu Hưng:

– Triều đình quyết định lao tưởng huân công, phong chức tước như sau:

– Đại tôn sư Phùng Tập chức tước như sau: Trấn Bắc thượng tướng quân, Linh viễn đình hầu.

– Tất cả các Quân trưởng được phong chức Uy viễn tướng quân. Tước Thiện tâm bá.

– Tất cả các Vệ trưởng được phong chức Đô thống, tước Kiêu kị tử.

– Tất cả các Đô trưởng được phong chức Tá lĩnh, tước Hùng uy nam.

– 18 đệ tử của Thiên Phong đại sư được phong: Đại từ, Minh tâm, Thông huyền đại sư.

Văn Thiên Tường hướng về Vũ Uy vương và các tướng Việt:

– Triều đình đã gửi sứ sang Đại Việt tạ ơn Thái thượng hoàng và Thiệu Long hoàng đế, xin phép được phong tặng cho tướng sĩ Việt. Quả Thượng hoàng là một Bồ tát hóa thân, lòng dạ người rộng như biển, người ban chỉ: “Trong lịch sử Hán Việt, có không biết bao nhiêu người Việt từng được các triều đại Trung nguyên thụ phong. Bây giờ Cảnh Định hoàng đế ban chức tước cho tướng sĩ Bắc Viện, càng thắt chặt tình ruột thịt con cháu vua Thần nông. Vì vậy triều đình đã nghị. Xin chư tướng tiếp chỉ.

Các tướng Việt quỳ gối tiếp chỉ. Văn Thiên Tường đọc chiếu chỉ. Chiếu chỉ là một bản văn ca tụng tinh thần, tài trí của các tướng Việt, rồi phong:

– Vũ Uy vương:

Chức tước Đại Việt phong cho là:

Thái tử thái bảo, Đồng bình chương sự, Võ hiển đại học sĩ, Bắc cương Tiết độ sứ, Trấn Bắc đại tướng quân, Tước Vũ Uy đại vương. Trấn ngự Bắc cương.

Chức tước Tống phong cho là:

Thái sư, thượng trụ quốc, Khai phủ nghị đồng tam tư, Nam phương trung thứ công thần, Phụ quốc đại tướng quân, Đồng bình chương sự, Kinh Nam tiết độ sứ. Hành sơn đại vương.

Như vậy chức tước Tống phong cho lớn hơn chức tước của Đại Việt bốn bậc, cao nhất của Tống triều. (Thái sư là hàm cao nhất của Tống triều. Khai phủ nghị đồng tam tư, được mở phủ đệ riêng, như một triều đình nhỏ. Phụ quốc đại tướng quân, cấp bậc cao nhất trong 18 đại tướng triều Tống. Đồng bình chương sự, chức Văn, tức Tể tướng. Kinh Nam tiết độ sứ: tư lệnh quân đội miền Nam Kinh châu. Hành sơn vương: vương tước ăn lộc miền Hành sơn).

– Tước của Vương phi Ý Ninh tại Đại Việt là:

Thạc hòa, Minh đức, Trang duệ, Vũ thắng trưởng công chúa.

Nay thêm:

Linh mẫn huyền quân.

Như vậy ngang với hàm của các bà Thái hậu Tống.

– Nguyễn Thiên Sanh: Chức tước của Đại Việt phong cho là:

Đại đởm đại tướng quân, Tước An xuyên hầu.

Nay thăng lên:

Đại đởm, đại tướng quân, Minh tâm, dũng lược, duệ mưu công thần, Nam phương, thần vũ Quốc công.

So với chức tước Đại Việt phong cho cao hơn bốn bậc.

Các Đại đởm dũng sĩ được Đại Việt phong cho hàm Vệ úy. Nay tất cả đều được thăng lên Tá lĩnh, ban cho mỹ tự Hổ uy, tước Minh tâm Nam.

– Dã Tượng: Chức tước Đại Việt phong cho là:

Tả thiên ngưu vệ đại tướng quân, Tước Khâu bắc Bá.

Nay thăng lên:

Thiên tượng đại tướng quân, Nam phương uy dũng công thần. Tước Khâu Bắc đình Hầu.

Cao hơn chức tước Đại Việt phong cho 4 cấp.

– Vì Thúy Hồng tước của Đại Việt là công chúa, Tống triều thể theo lệ phong cho các hoàng hậu, công chúa, phong cho tước:

Nam phương, đại từ, thạc hòa huyền quân. Vũ uy, quang minh công chúa.

– Yết Kiêu: Chức tước Đại Việt phong cho là:

Hữu thiên ngưu vệ thượng tướng quân, Tước An biên Tử.

Nay thăng lên:

Đông hải Thiên kình đại tướng quân, Nam phương hùng uy, công thần. Tước An biên đình Hầu.

Cao hơn chức tước Đại Việt phong cho 8 bậc.

– Phu nhân Vương Chân Phương là thần dân Tống, từng theo quân thiết kế, theo chồng ra trận, an ủi tướng sĩ, công rất lớn, theo nữ quan giai Tống thì đầu tiên phong cho tước phu nhân rồi từ từ lên nhất phẩm phu nhân, rồi quận chúa, sau mới thăng công chúa. Nhưng vì công lao lớn nên một bước được phong ngay:

Hồng đức, trang hòa Công chúa

– Nguyễn Địa Lô: Chức tước Đại Việt phong cho là:

Văn Bắc thượng tướng quân, Tước Văn sơn Tử.

Nay thăng lên:

Binh bộ tham tri, Trung lang tướng, Tước Văn sơn Hầu.

Tức là thăng lên 12 bậc.

– Phu nhân Thái Ngọc Hồng được phong Nhu mẫn, hồng anh nhất phẩm phu nhân.

– Phó thống lĩnh hiệu binh Văn Bắc: Lý Đại, các Quân trưởng hiệu Văn Bắc là Trần Nhị, Vũ Tam, Phạm Tứ, Hoàng Ngũ đều được phong hàm Đô thống, tước Vũ uy Nam.

– Tất cả các Ngưu tướng nam nữ đều được phong Ngưu vệ tướng quân, tước Nam thiên tử.

Trấn Bắc thượng tướng quân Phùng Tập kính cẩn nói với Văn Thiên Tường:

– Thưa Thái phó, tất cả tướng sĩ hiệu Thiệu hưng đều có ước vọng được ở lại quê cha, chống Thát đát. Thượng hoàng cũng như Đại Việt hoàng đế đã chấp thuận. Xin Thái phó tâu với hoàng thượng cho anh em chúng tôi được toại nguyện.

Văn Thiên Tường cực kỳ cao hứng:

– Khi tôi lên đường, hoàng thượng cùng triều đình đã nghị về việc này. Tất cả đều biết rõ tấm lòng yêu quê hương của hiệu Thiệu Hưng. Hoàng thượng muốn dùng hiệu Thiệu Hưng trấn ở phía Nam hồ Động đình làm trừ bị cho Tương dương, Phàn thành.

Ngưu vệ tướng quân Lý Long Đại đưa mắt cho vợ là Vũ Trang Hồng rồi khải với Vũ Uy vương:

– Khải vương gia, hiện trong nước vô sự, tại Tống giặc Thát đát tạm yên. Thần lớn mật xin vương gia cho phép vợ chồng thần được thăm hồ Động đình, cánh đồng Tương là nơi phát tích ra hai vị Quốc mẫu Đại Việt!

Trang duệ, Thạc hòa công chúa, Linh anh huyền quân Vương Chân Phương nói với Văn Thiên Tường:

– Thưa Thái phó, trong gần 2 năm sống với tướng sĩ hiệu Văn Bắc, tôi có dịp truyện trò với họ. Họ cùng có tâm nguyện rằng kỳ Bắc viện này sẽ được thăm khu đất linh hồ Động đình. Xin Thái phó tâu lên triều đình chuẩn cho.

– Thưa công chúa, không cần tôi tâu. Mà hoàng thượng muốn mời vương gia, vương phi cùng chư tướng về Lâm an để triều đình được thấy uy vũ các vị. Trong buổi yết kiến, chư vị có ước nguyện gì cứ tâu thẳng.

Vũ Uy vương quyết định:

– Hiệu Thiệu Hưng sẽ lên đường đi Trường sa, do Tạ Binh bộ thượng thư điều động. Hiệu Văn Bắc sẽ do Thủy quân chở về Giang an, rồi lên bộ về Đại Việt. Các tướng phải đi theo quân. Sau khi về tới Đại Việt, các tướng được nghỉ ba tháng. Trong ba tháng đó sẽ có sứ Tống triều đón đi Lâm an yết kiến Tống Thiên tử, rồi du ngoạn hồ Động đình. Cô gia với vương phi sẽ đi cùng chư tướng.

Tạ Phương Đắc quyết định:

– Bây giờ Thái tử thái bảo Gia Huyễn Ông sẽ cho thủy quân sẽ đưa hiệu Thiệu Hưng xuôi Trường giang rời Thục vào hồ Động đình. Tuyên vũ sứ Trường sa đã được chỉ dụ của triều đình tiếp đón, chỉ định khu vực đóng quân. Thái bảo đi theo giúp Trấn Bắc thượng tướng quân, Linh viễn đình hầu Phùng Tập, là người của triều đình giúp quan quân Trường sa với binh tướng hiệu Thiệu Hưng hiểu nhau.

Trước khi rời Thục, trong tiệc tiễn đưa các tướng Việt, Văn Thiên Tường, Tạ Phương Đắc, Gia Huyễn Ông, Vương Kiên dùng lời lẽ hết sức cảm động cảm ơn. Cuối cùng Văn Thiên Tường thiết tha nói với vương phi Ý Ninh:

– Khải phi! Trong những ngày gần phi. Tường này thấy phi có tầm nhìn xa khác người. Ngày mai chúng ta kẻ Nam, người Bắc không biết bao giờ gặp lại nhau. Tuy nhiên vương gia, vương phi dã nhận tước phong của triều đình, thì những thành bại của triều đình vương phi đều quan tâm. Xin phi cho mấy lời khuyên!

Vương phi Ý Ninh cảm động:

– Đa tạ Thái phó đã coi trọng tôi. Trước đây tổ Trần Tự Mai của chúng tôi đã từng là Phò mã Tống triều, lập công với vua Nhân Tông. Bây giờ vợ chồng tôi lại theo gương người xưa.

* Ghi chú: Xin đọc bộ Nam quốc sơn hà, cùng tác giả, để biết hành trạng của tổ họ Trần là Trần Tự Mai kết hôn với công chúa Tống là Triệu Huệ Nhu, mà trở thành phò mã Tống, giúp Tống đánh đông dẹp bắc, được phong tước Thái sư Kinh Nam vương.

Phi nhấn mạnh:

– Chúng tôi trở về Đại Việt mà lòng để ở bên Tống. Cái họa Mông cổ chỉ mới tạm yên. Bây giờ Mông cổ đã bị cắt ra thành 5 nước thì không còn mạnh như trước nữa. Cuộc nội chiến Mông cổ trước sau gì rồi cũng chấm dứt. Dù A Lý Bất Ca thắng hay Hốt Tất Liệt thắng thì chúng cũng sẽ đem quân đánh Tống. Vì sao? Vì từ thời Thành Cát Tư Hãn đã phác họa cho con cháu biết rằng lãnh thổ Mông cổ đều ở vùng khí hậu lạnh cắt da, xé thịt, tài nguyên nghèo nàn. Cần tìm một vùng đất để di dân vào lập nghiệp. Cuối cùng Thành Cát Tư Hãn thấy Trung nguyên là nơi có thể đáp ứng nhu cầu. Cho nên Mông cổ xâm chiếm vùng đất sát Trường thành tới Yên kinh, Sơn tây, Tứ xuyên, Sơn Đông, rồi ào ạt di dân vào.

Phi cười nhạt:

– Nhưng kế hoạch di dân của Thành Cát Tư Hãn bị thất bại quá nặng.

Gia Huyễn Ông kinh ngạc:

– Phi nói thất bại quá nặng ư? Bọn Mông cổ tràn vào Trung nguyên chiếm lĩnh đất cát, ruộng vườn của người Hán rồi canh tác, khiến trời sầu đất thảm mà!!!

Phi cười lớn:

– Tôi hỏi tiên sinh nhé: Liêu, rồi Kim từng chiếm Hoa Bắc, xua dân vào định cư, cai trị người Hán hơn trăm năm. Nay khắp Hoa Bắc có còn người Kim, người Liêu nào không? Họ thành người Hán hết rồi!

Thấy cả bốn đại thần Tống đều ngơ ngác, phi tiếp:

– Tôi nói Thành Cát Tư Hãn thất bại quá nặng. Bởi từ ngày ông ta cho di dân vào Trung nguyên nay trải 50 năm, tuy số dân di vào thì nhiều, mà như ném nắm muối xuống biển. Họ biến đâu mất hết rồi. Vậy số di dân đó đi đâu? Các vị có thấy dân Mông cổ ở Yên kinh không? Nhìn bề ngoài dường như không có xóm nào, thôn nào có dân Mông cổ. Sự thực họ vẫn còn đó, họ sinh đẻ rất nhanh. Họ thành người Hán hết rồi. Mấy năm trước chúng tôi từng tới Yên kinh, từng đi thăm khắp các vùng đất từ Lâm đồng, Đồng quan cho tới Trương gia khẩu. Tôi thấy di dân Mông cổ đã mất hết đặc tính dân lều trại. Nhà cửa của họ là nhà tộc Hán. Y phục của họ là y phục tộc Hán. Con cháu họ không còn nói tiếng Thảo nguyên nữa, mà chỉ nói tiếng Hán. Họ dùng văn tự Hán. Đi đâu cũng nghe người Mông cổ bàn về Phục Hy, Thần Nông, Hoàng Đế. Họ dẫn chứng toàn truyện Khổng tử, Mạnh tử. Hễ mở miệng ra là bàn truyện Hán, Đường. Họ không còn dùng tên Mông cổ, mà đổi ra dùng tên Hán. Nghĩa là họ thành người Hán rồi. Cơ đồ này chỉ vài chục năm nữa, những di dân gốc Thảo nguyên chết đi thì không còn vết tích của Mông cổ nữa, mà con cháu họ sẽ tự nhận là người Hán hết.

Tạ Phương Đắc tỏ ra hiểu vấn đề. Ông nói:

– Chúng tôi quả không chú ý đến điều vương phi nhận xét. Nhờ vương phi mà chúng tôi như người mù được mở mắt ra.

Vũ Uy vương phi nói tiếp:

– Chúng tôi đã gây cho Mông cổ có nội chiến. Hiện Hốt Tất Liệt đã hủy bỏ hết những tố chức chính sự, phong tục Thảo nguyên. Y dùng Hán pháp mà thành công. Xung quanh y toàn mưu sĩ, văn quan người Hán. Binh tướng của y ba người Hán mới có một người Mông cổ. Y bỏ ngôi Đại hãn, mà xưng là Trung Thống hoàng đế. Triều đình của y tổ chức giống triều đình Đường-Tống. Nếu y thắng trong cuộc chiến này, thì có nghĩa tập đoàn lều trại bại, tập đoàn định cư thắng thế. Trung nguyên trở thành Thiên quốc, Mông cổ trở thành thuộc quốc. Dĩ nhiên sau đó người Mông cổ bỏ lều trại ào ạt vào Trung nguyên sống. Ít lâu sau họ thành người Hán hết. Dân chúng sống tại Thảo nguyên trở thành thiểu số. Đế quốc Mông cổ không thể phục hồi nữa.

Phi thấy bốn đại thần Tống như người trong cuộc cờ, mê mê, tỉnh tỉnh. Mình ngồi ngoài cuộc cờ mà thấy rõ. Phi tiếp:

– Nếu A Lý Bất Ca thắng, y cũng sẽ cho dân Mông cổ tràn vào Trung nguyên. Không sao! Năm ba chục năm sau họ cũng thành người Hán. Họ sẽ không còn nhận mình là giòng sói xám, mà tự nhận là con cháu Thần Nông, Phục Hy, Hoàng Đế.

Vương Kiên hỏi:

– Nếu như Trung Thống thắng, y đem quân đánh Tống, thì vương phi nghĩ sao?

– A Lý Bất Ca thắng, y đem quân đánh Tống có nghĩa là rợ Thát đát xâm Trung nguyên. Sĩ dân Hán sẽ hết sức cùng Tống triều chống ngoại xâm. Tống triều sẽ tồn tại rất lâu. Còn như Trung Thống thắng, dân Hán coi triều Nguyên như Hán, như Đường. Y đem quân đánh Tống thì có nghĩa triều Nguyên đánh triều Tống. Như Hạng Võ chiến Lưu Bang. Bởi y khéo chiêu hiền, nạp sĩ, các tướng Tống sẽ hàng Nguyên, đánh Tống. Trường hợp này Tống sẽ không thể tồn tại lâu được.

Vũ Uy vương, vương phi dẫn bộ tham mưu cùng hiệu binh Văn Bắc dùng thuyền từ Thành đô theo đường thủy đi Giang an, rồi vào Chiêu thông, sau đó về Khâu Bắc, Văn sơn. Phải mất 10 ngày, đoàn quân chiến thắng mới trở về tới biên giới Việt-Hoa.

Vừa lúc đó có sứ giả Tống bao tin Tống Cảnh Định hoàng đế băng. Thái tử Triệu Kỳ lên nối ngôi, lấy niên hiệu là Hàm Thuần (sau này băng, miếu hiệu là Độ Tông).

Vũ Uy vương cùng chư tướng dừng lại giữa đường lập bàn thờ tế vọng, tất cả tướng sĩ nhận chức tước của Tống đều để tang.

Phụ quốc Thái úy Chiêu Minh vương Trần Quang Khải; Tổng trấn Thăng long kiêm quyền Tổng trấn Tây Bắc cương Chiêu Quốc vương Trần Ích Tắc; Quản khu mật viện Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật; dẫn các quan văn võ thuộc Tòa Tổng trấn đi đón. Trong đoàn đón còn có cả Vũ sơn Công Tạ Quốc Ninh, phu nhân Hoàng Liên; Văn sơn Hầu Nguyễn Địa Lô, phu nhân Thái Ngọc Hồng; Chiêu võ thượng tướng quân, Chiêu dương Nam, và phu nhân Kha Li Đa.

* Ghi chú: Chức tước của triều đình ban Ngũ ưng thấp hơn chức tước của Tống ban cho, nên từ nay, chúng tôi dùng chức tước của Tống. Chức tước của cho Địa Lô mà triều Trần ban cho là Văn Bắc thượng tướng quân, tước Văn sơn Tử. Nhưng chức tước mới của Tống phong cho cao hơn nhiều: Binh bộ tham tri, Trung lang tướng, Văn sơn Hầu.

Vũ Uy vương phi hỏi Chiêu Minh vương:

– Vũ sơn Công Tạ Quốc Ninh về nước từ bao giờ?

– Công từ Đại lý về nước hơn nửa năm. Em trao cho công giữ chức Phó quản khu mật viện. Nhưng công xin cáo từ vì tuổi già sức yếu. Còn phu nhân thì do Địa Lô đưa về đã ba tháng.

Vũ Uy vương hỏi:

– Côi sơn Nam Cao Mang với phu nhân Kha Li Đa từ Hồi cương về nước bao giờ?

– Mới được ba ngày.

Chiêu Minh vương than:

– Tiếc quá, trong buổi mừng chiến thắng này, Thiên trường ngũ ưng vắng mặt Đại Hành.

Căn cứ vào sổ ghi công của Vũ Uy vương, Chiêu Minh vương thăng thưởng cho tướng các cấp Lượng trưởng, Ngũ trưởng, binh sĩ. Còn lại từ cấp Đô trưởng, Vệ trưởng trở lên, thì gửi tấu chương về triều xin thăng thưởng. Tất cả tướng sĩ được nghỉ ba tháng về thăm nhà.

Một buổi khao quân linh đình được tổ chức. Để bảo mật, các vương không hỏi nhiều về việc Bắc viện, mà dành cho Vũ Uy vương tấu trình trong buổi thiết đại triều.

(Còn tiếp Hồi 88)

Share this post