Anh Hùng Đông A – Gươm Thiêng Hàm Tử (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 90 (Tiếp theo)

Anh Hùng Đông A – Gươm Thiêng Hàm Tử (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 90 (Tiếp theo)

ANH HÙNG ĐÔNG A – GƯƠM THIÊNG HÀM TỬ
* Tiểu Thuyết Lịch Sử
* Tác giả: Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ
* Nguồn: Blog Trần Đại Sỹ (https://trandaisy.wordpress.com)

* Để đọc những phần đã đăng, xin vào khung Search this site (Tìm Kiếm) và gõ tên tác giả: Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ.

HỒI THỨ CHÍN MƯƠI
Hoài văn hầu Trần Quốc Toản
(Tiếp theo)

Tạ Phương Đắc đã sai người báo cho Tuyên vũ sứ Quảng tây, nên khi sứ đoàn tới biên giới, Tuyên vũ sứ cùng các quan thuộc Quảng tây nam lộ chờ đón.

Tuyên vũ sứ họ Hoàng tên Nam Anh, xuất thân Tiến sĩ. Vì trấn nhậm ở biên giới Hoa Việt, lập được nhiều công, được phong tước Bá. Tuy Quảng tây nam lộ quá xa với chiến trường Tứ xuyên, Kinh châu. Nhưng những tin về đạo quân Mông cổ như hùm, như hổ, tàn ác, khi chúng đi đến đâu thì giết tuyệt không còn một người. Y cũng lo lắng ngay ngáy trong lòng. Y được biết Mông cổ chiếm Tây tạng, Đại lý rồi đánh xuống Đại Việt. Chúng bị Đại việt phá. Vũ Uy vương là một trong các tướng phá Mông cổ. Rồi y nghe Mông cổ chiếm Tứ xuyên. Mặt đông vượt Trường giang đánh chiếm 10 châu 144 thành. Tống triều như ngọn đèn trước gió, thì Vũ Uy vương đem quân cứu viện, giết chết vua Mông cổ là Mông Ca, đuổi Mông cổ khỏi Tứ xuyên. Mông cổ phải ký thỏa ước trả 10 châu, 144 thành, rút khỏi Nam Trường giang. Nhờ vậy mà Tống còn. Tống triều phong cho Vũ Uy vương tước Thái sư, thượng trụ quốc Hành Sơn đại vương. Quảng đông nam lộ, Quảng tây nam lộ đều thống thuộc lĩnh địa của vương. Bây giờ vương lên đường nhậm chức, Hoàng cùng các quan văn võ đi đón với tất cả kính trọng. Coi vương như cây cột chống căn nhà ọp ẹp sắp đổ của Tống.

Tạ Phương Đắc đề nghị với Hành Sơn đại vương (từ đây chúng tôi dùng tước của Vũ Uy vương do Tống phong là Hành Sơn đại vương):

– Khải vương gia, vương gia, vương phi cùng chư tướng nhận tước phong của triều đình thì nên dùng triều phục của Tống, để dân chúng, quan chức dễ nhận ra.

Hành Sơn đại vương hỏi thuộc hạ:

– Ý kiến của Tạ sứ như vậy, ta có nên theo không?

Đúng là cáo chết ba năm quay đầu về núi. Vương Chân Phương từng thấy những phụ nữ mặc y phục phu nhân, tiểu thư, nàng hằng ước mơ được mặc những bộ quần áo thướt tha này. Bây giờ được hỏi ý kiến, nàng nói ngay:

– Thưa chú! Chú là Hành Sơn đại vương, chồng cháu, anh Lô đều là tước hầu thì nên mặc phẩm phục của Tống, để dân chúng biết rõ đây là những mệnh quan.

Biết rõ thâm ý của Chân Phương, Địa Lô trêu:

– Còn chị, tước phong của chị là công chúa. Vậy chị phải mặc phẩm phục công chúa. Nhưng tìm đâu ra phẩm phục này bây giờ.

Tạ Phương Đắc đề nghị:

– Đợi tới Trường sa, thần sẽ ra lệnh cho thợ của Tòa tổng trấn may phẩm phục tước đại vương cho vương gia, tước hầu cho Yết Kiêu, Địa Lô, tước công chúa cho vương phi và phu nhân của hai hầu tước. Còn y phục cấp tướng quân cho bốn vị ngưu tướng thì có sẵn.

Châu trị của Hành Sơn vương là thành Trường sa. Không muốn làm phiền các quan lại địa phương, vương ban chỉ đoàn tùy tòng dùng thuyền ngược giòng sông Tương lên thẳng Trường sa.

Hồi hiệu binh Thiệu hưng mới thành lập, vì các tướng Hoa kiều chưa quen chỉ huy, nên triều đình Đại Việt cử Yết Kiêu thống lĩnh cùng một số tướng Việt. Từ sau trận đánh Tứ xuyên, hiệu binh được trao cho các tướng Hoa kiều chỉ huy. Các tướng được Tống triều phong chức tước, được phối trí tại điểm nóng Trường sa.

Tuyên vũ sứ dàn hiệu binh Thiệu Hưng ra đón. Trấn bắc thượng tướng quân, Linh viễn đình hầu Phùng Tập, báo cho binh tướng hiệu Thiệu hưng biết, người cựu chỉ huy của họ là Yết Kiêu cũng đi theo Hành Sơn vương.

Lễ nghi tất.

Hành Sơn vương họp với bộ tham mưu tòa Tổng trấn Trường sa để biết rõ tình hình địch, tình hình Tống và dân tình. Mọi việc xong xuôi, vương dẫn vương phi, Yết Kiêu, Dã Tượng đi Lâm an dự buổi thiết đại triều.

Trước khi về Lâm an, vương phi Ý Ninh dặn Dã Tượng, Yết Kiêu, Cao Mang, Địa Lô:

– Mỗi buổi thiết đại triều, Tống có hằng mấy trăm quan dự. Họ thuộc rất nhiều thành phần phức tạp. Mình từ phương xa tới, lần đầu chỉ nên nghe để hiểu, không nên phát biểu. Nhất là mình nói tiếng Hán vùng Lâm an không chuẩn. E có sự hiểu lầm. Nếu như nhà vua hay các quan có ngợi khen, thì phải hết sức nhũn nhặn.

Tạ Phương Đắc thuyết trình về triều Tống:

– Hàm Thuần hoàng đế mới lên ngôi vua, tuổi còn trẻ, kiến thức cực rộng, là người biết chiêu hiền nạp sĩ. Ngặt vì Tống triều bị Liêu, Kim, Mông cổ xâm lăng biết bao lần, trong gần 200 năm, nên các quan không có chí tiến thủ chiếm lại Hoa Bắc. Họ chỉ muốn giữ những gì hiện có. Thời tiên đế, Tể tướng Giả Tự Đạo nhân nhà vua tuổi già, y lạm quyền. Hồi đám tang tiên đế, ông ta bị Hoa sơn ngũ hiệp đột nhập dinh, dí kiếm vào cổ bắt phải tuân theo mười điều. Nên nay tương đối đỡ hơn nhiều. Hiện trong triều có ba vị đại thần tài trí phi thường, nên ông ta lùi trở lại với vị trí một thư lại.

Yết Kiêu hỏi:

– Ba vị đại thần tài trí đó là những ai vậy?

– Một là Văn Thiên Tường. Hai là Trương Thế Kiệt. Ba là Lục Tú Phu.

Vương Chân Phương hỏi:

– Ba ông này có hợp nhau không?

– Ba ông như ba cây cột chống căn nhà nghiêng ngả của Tống. Ba là một, một là ba. Họ là người tài trí phi thường, hành sự lỗi lạc. Biết chiêu hiền nạp sĩ.

Trước buổi thiết triều đã có một rắc rối, khó khăn về thủ thủ tục lễ nghi, khiến quan Quang minh điện đại học sĩ không giải quyết được. Nguyên do Tống triều là một triều trọng Nho học cực kỳ, lễ nghi nghiêm túc, không có nữ quan, cũng chưa từng cho các công chúa, vương phi, phu nhân dự buổi thiết triều. Bây giờ phải xếp chỗ cho vương phi Ý Ninh, Vương Chân Phương, Thúy Hồng tước công chúa; Thái Ngọc Hồng tước phu nhân. Hai Ngưu tướng Vũ Trang Hồng, Phạm Trang Tiên tước Ngưu vệ tướng quân.

Cuối cùng Tể tướng Giả Tự Đạo phải lấy một điển hồi mới lập Tống triều. Bấy giờ vương phi của Trịnh Ân, nghĩa đệ của Thái tổ tên Đào Tam Xuân, bà là một đại tướng. Khi thiết triều, thì phía sau chỗ ngai vàng của hoàng đế để cái ghế, bà ngồi đó. Quan Quang minh điện đại học sĩ truyền lấy 6 cái ghế, để sẵn.

Buổi thiết đại triều bắt đầu vào giờ Mão tại Trường hy điện.

Các quan tề tựu, theo thứ tự, phẩm hàm. Nhạc trỗi lên, nhà vua từ trong đi ra. Tể tướng Giả Tự Đạo hô lớn:

– Bách quan khấu đầu bái kiến thánh hoàng.

Nhà vua vẫy tay:

– Các khanh bình thân. Miễn lễ.

Quang Minh điện đại học sĩ tâu:

– Tâu thánh hoàng, buổi thiết triều hôm nay có Hành sơn đai vương Trần Nhật Duy, vương phi; ba vị hầu Trần Quốc Kinh, Trần Quốc Vỹ, Nguyễn Địa Lô và hai phu nhân. Đặc biệt có cả 4 Ngưu vệ tướng quân cũng về chầu.

Trong điện có tới hơn bốn trăm người mà không một tiếng động. Vì từ hồi Tống đang như ngọn đèn trước gió, được viện binh Việt vào Tứ xuyên đánh bại Mông cổ, giết Mông ca, mà Tống thu hồi được 10 châu, 144 thành. Các quan đều nghe danh Vũ Uy vương, cùng chư tướng Việt. Hôm nay họ mới được thấy người mà họ khâm phục.

Nhà vua ban chỉ:

– Thỉnh vương gia, vương phi cùng chư tướng vào.

Nhạc quan cho các nhạc công cử bản chiến thắng, chào đón các anh hùng Nam phương. Hành Sơn đại vương cùng phái đoàn vào điện. Nhà vua vẫy tay:

– Miễn lễ!

Tạ Phương Đắc trình diện từng người một. Các đại thần Tống đều là những nhà nho đạo đức. Họ tự hào, họ đang sống ở Hàng châu, vùng nổi danh sản xuất ra những giai nhân mà khi thấy vương phi Ý Ninh, Vương Chân Phương, Thúy Hồng, Thái Ngọc Hồng, họ đều ngơ ngác. Họ thấy cái đẹp của vương phi Ý Ninh là một giai nhân luyện võ, chân khí sung mãn, tươi hồng, thân thể nảy nở cân đối. Rồi khi thấy hai tướng trâu Vũ Trang Hồng, Phạm Trang Tiên, da tuy ngăm đen, nhưng mắt sáng như sao, chỉ nhìn cũng thấy đầy sinh khí.

Nhà vua truyền kéo ghế mời vương, vương phi, các phu nhân ngồi. Nhà vua tuyên chỉ:

– Trẫm cũng như bách quan từng nghe đại danh Hành Sơn đại vương, vương phi, các tướng Yết Kiêu, Dã Tượng, Đại Đởm. Vậy phiền chư khanh đứng ra giữa điện để mọi người được thấy phong thái anh hùng. Văn Thái phó tường thuật trận Bồ lăng mà An biên hầu đánh tan 4 vạn kị binh Mông cổ cho các đại thần nghe.

Yết Kiêu, Dã Tượng tuân chỉ đứng giữa điện.

Văn Thiên Tường thuật chi tiết trận đánh như thế nào. Tể tướng Giả Tự Đạo nói:

– Kỵ mã Mông cổ là những binh mạnh bất khả đương. Thế mà bị Ngưu binh đánh bại. Hôm nay có 4 Ngưu tướng tại đây. Nào mời 4 tướng đứng ra giữa điện để thánh hoàng thấy khí sắc anh hùng.

Lý Long Đại, Vũ Trang Hồng; Trần Long Nhất, Phạm Trang Tiên đứng ra giữa điện. Các quan nhìn hai cặp vợ chồng tuy trẻ, nhưng khí sắc tinh anh. Quan Hình bộ thượng thư Lục Tú Phu hỏi:

– Liệu Hành sơn vương có thể huấn luyện cho Tống mươi đội Ngưu binh không?

Phạm Trang Tiên lễ phép:

– Kính Thượng thư, hiệu binh Thiệu hưng có ba quân bộ binh. Mỗi quân đều có một một Vệ Ngưu binh 80 người. Các Vệ Ngưu binh vẫn ngày đêm thao luyện. Nếu triều đình muốn thì ba Vệ Ngưu binh có thể đào tạo thêm mấy chục Vệ nữa.

Sau buổi thiết triều, Khu mật viện họp để cùng Hành Sơn vương bàn mật sự. Hành Sơn vương tâu với nhà vua:

– Hiện sứ quân Lý Đảm đang có 15 vạn hùng binh. Lý thấy sau trận nội chiến, binh lực Đại nguyên tan tác. Lý muốn khởi binh đánh thẳng vào Đại đô. Nhưng Lý khởi binh thì không có chính nghĩa. Thần lớn mật xin bệ hạ ban chiếu chỉ phong chức tước cho Lý, gửi một hịch cần vương cho dân chúng miền Bắc. Lý nhân đó tuyên bố tuân chỉ của triều đình khởi binh đuổi Thát đát ra khỏi Trung nguyên.

Thái phó Văn Thiên Tường tán thành:

– Như vậy triều đình nên phong vương cho Lý.

Nhà vua hài lòng:

– Ai có thể đi sứ trong vụ này?

Vương phi Ý Ninh chỉ Yết Kiêu:

– Đông hải Thiên kình đại tướng quân, Nam phương hùng uy, công thần, An biên đình hầu Trần Quốc Vỹ là người của triều đình. Phu nhân cũng nhận tước phong Hồng đức, Trang hòa Công chúa. Công chúa là em vợ của Lý Đảm.

Tể tướng Giả Tự Đạo trì nghi:

– Liệu Lý Đảm có nhận chức tước của triều đình không?

Lại bộ thượng thư Trương Thế Kiệt cương quyết:

– Nhận! Tôi tin rằng Lý sẽ nhận. Vì Lý với Đại nguyên hiện ở vào thế không cùng đứng. Bắt buộc Lý phải khởi binh. Lý yếu hơn Đại nguyên, nên phải tìm thế liên binh. Nay triều đình mở vòng tay đón, thì Lý cầu mà không được.

Nhà vua tuyên chỉ:

– Vậy phải ban chỉ càng sớm càng tốt. An biên đình hầu cùng phu nhân sẽ dùng thuyền đi cho mau.

Rời Lâm an, Hành Sơn vương cùng phái đoàn về Trường sa. Vương dặn Yết Kiêu:

– Cháu đem đội Ngạc ngư, 4 tướng trâu dùng thuyền ra biển. Tới Liêu Đông thì cùng lên bờ, rồi để Địa Lô dùng đường bộ đi Bắc Liêu.

Vương trao cho Địa Lô một thẻ bài:

– Đây là thẻ bài của Hốt Tất Liệt, do Bạch Liên lấy trộm cho ta. Cháu dùng để đi qua vùng kiểm soát của Đại nguyên, tới Bắc Liêu.

Yết Kiêu, Địa Lô chưa kịp lên đường thì có thư của Vũ Chính gửi từ Đại đô:”

Khải vương gia,

Có biến cố lớn. Lý Đảm bí mật chuẩn bị khởi binh, bất thình lình đánh úp Đại đô. Lý sơ hở để lộ kế hoạch.

Cha vợ của Lý Đảm là Vương Văn Thống được Hốt Tất Liệt tín dùng trao cho chức Tể tướng. Không kế nào của Vương mà không dùng, không lời nào của Vương mà không nghe. Vương ở trong, thông báo chư sự cho Lý Đảm. Đảm ở ngoài chỉnh bị binh mã, lương thực. Cả hai ước tính sẽ chờ dịp khởi binh. Sau trận đánh Tích Mộc Não Nhi, toàn lực kị binh Mông cổ, Đại nguyên bị tan nát. Vương Văn Thống thấy thời cơ đã đến, báo cho Lý Đảm khởi binh.

Tại Tế Nam có một đại thần Mông cổ, tên Vương Khánh, là một nhà nho. Ông ta thường tỏ ý thân với A Lý Bất Ca. Lý Đảm cho rằng ông ta chống Hốt Tất Liệt, nên chuyện gì cũng bàn với ông ta. Lý Đảm sơ hở để ông ta lấy được bức thư của Vương Văn Thống viết cho Đảm. Lập tức ông ta phi ngựa ngày đêm cáo với Hốt Tất Liệt. Hốt Tất Liệt đem bằng chứng đó ra hỏi tội Vương Văn Thống. Vương không còn chối được tội. Hốt Tất Liệt truyền chém Vương.

Sau khi chém Vương Văn Thống, Hốt Tất Liệt cử Thừa tướng Sử Thiên Thạch làm tướng cùng Thân vương Hợp Tất Xích đem mấy đạo kị binh thình lình đánh Lý Đảm. Đảm không kịp trở tay, hiện bị vây trong thành Tế Nam. Y không thể ra lệnh cho tướng sĩ các đạo quân đến cứu viện. Thân vương Hợp Tất Xích sai sứ đến các Tuyên vũ sứ, các tướng chỉ huy quân của Lý Đảm thuyết phục đầu hàng. Ai đầu hàng nhất nhất từ tướng đến quân đều được thăng lên một cấp. Chức vụ được giữ nguyên, của cải, đất đai cũng được giữ nguyên. Ai chống lại thì từ tướng đến quân, vợ con, dĩ chí dân chúng bị giết sạch. Hầu hết các Tuyên vũ sứ, các tướng đều đầu hàng. Chỉ trong 10 ngày toàn lãnh thổ của Lý Đảm thuộc về Nguyên. Đảm bị vây trong thành Tế Nam. Đã hai lần Đảm phá vòng vây mà không thành công.

Hành Sơn vương họp chư tướng lại, giảng giải cho biết tình hình. Vương nói với Yết Kiêu:

– Nhạc phụ cháu chết, chắc chắn Chân Phương sẽ đau đớn lắm. Cháu đem Chân Phương vào gặp thím, để thím an ủi cho bớt u sầu. Còn việc cháu đi sứ thì ngừng lại. Vì gần như toàn lãnh thổ của Lý Đảm đã bị Đại nguyên chiếm đóng. Việc một đoàn 36 Ngạc ngư với tướng trâu không thể tới Tế Nam được. Ví dù tới Tế Nam, thì cũng không thể vào thành. Mà vào thành thì cũng bó tay, chứ cứu Đảm thì vô phương.

Vương phi bàn:

– Việc Yết Kiêu đi sứ Sơn đông phải hủy bỏ. Mình cần dâng biểu về Lâm an để triều đình biết tự sự. Còn Địa Lô phải dùng thuyền đi Cao ly. Rồi từ Cao ly vào Bắc liêu.

Địa Lô lên đường được hơn tháng thì có thư về:

Khải vương gia,

Thần đã tới Bắc Liêu. Tháp Sát Nhi bị trúng phong huyền vựng, mê man (*). Thần cho uống ba thang thuốc, tuy đã qua cơn nguy ngập, nhưng bán thân bất toại, miệng méo, mắt nhắm không kín. Chân, tay trái teo lại, không cử động được. Nếu dùng châm cứu ba ngày một lần thì trong vòng 3 tháng có thể đi lại tuy khó khăn một chút. Tháp Sát Nhi đã có thể thiết triều. Tuy nhiên vương vẫn cho Thái tử Đô Ngột Nhi ngồi cạnh nghe việc triều chính.

Cha con Tháp Sát Nhi có nhiều điều bất đồng ý kiến. Đô Ngột Nhi quá hèn, chỉ muốn quy phục Đại nguyên để được an thân. Trong khi đó em ruột y là Đô Nhĩ Kha nhỏ hơn y hai tuổi, văn mô, vũ lược, có chí khí, muốn làm cho Bắc liêu hùng mạnh lên, quay mặt về Nam tranh hùng với Đại nguyên. Tháp Sát Nhi muốn phế Đô Ngột Nhi, lập Đô Nhĩ Kha, nhưng chưa có cớ. Đô Ngột Nhi biết thế, âm thầm tìm ngoại viện từ Đại nguyên.

Trước đây Tháp Sát Nhi nghe lời khuyên của Trung Thành vương, đã thiết lập một triều đình giống triều đình Tống ở Trung nguyên, triều đình Lý của Đại Việt. Trung Thành vương được phong làm Thái úy, thống lĩnh binh mã. Một nho sĩ người Liêu được bổ nhiệm làm Chiêu văn quan đại học sĩ, giám tu quốc sử (Tể tướng). Bây giờ bổ nhiệm thần làm Vũ lâm đại học sĩ, quản Khu mật viện, kiêm Tổng lĩnh Cấm quân, Thị vệ. Lập tức thần tổ chức hệ thống phòng thủ, giám sát khắp nơi. Chỉ mười ngày thần đã biết những viên quan nào thân Đại nguyên, viên quan nào còn hướng về Hốt Tất Liệt. Thần cài người vào làm chân tay cho Đô Ngột Nhi: từ đầu bếp cho tới mã phu, thị vệ. Nên nhất cử nhất động của Đô Ngột Nhi, thần đều biết hết. Thần đã liên lạc được với Thúy Trang và Hoài Đô. Có tin tức gì thần sẽ báo sau.

Hành Sơn vương viết chỉ dụ:

Làm cách nào cho Đô Ngột Nhi rời kinh đô, đi xa. Giúp Đô Nhĩ Kha nắm quyền. Rồi khi Tháp Sát Nhi băng, lập Đô Nhĩ Kha lên thay.

(*) Ghi chú: Trúng phong huyền vựng, tên một loại bệnh rất cổ của y học Á châu. Tương đương với ngày nay là huyết áp cao rồi bị tai biến mạch máu não.

oOo

Tại Trường sa, ngày 20 tháng 6, giờ tỵ, vương phi Ý Ninh khai hoa, nở nhụy ra một hoàng nam. Năm đó là năm Bính Dần (1266). Vương đặt tên là Quốc Toản.

Sau khi lễ vọng về Nam tạ ơn liệt tổ. Vương sai chuyển thư về Đại Việt cáo với Thượng hoàng và Tuyên thái phi. Tuyên Thái phi ban chỉ: tìm cách đưa Quốc Toản về nước để Thái phi dậy cháu. Triều đình ban chỉ phong cho Quốc Toản tước Hoài Văn hầu. Ấp phong là Hàm tử, gồm bốn xã, dân đông, tài nguyên súc tích.

Thượng hoàng gửi một thanh kiếm ban cho Quốc Toản, trên thanh kiếm có hàng chữ:

Ngự tứ thượng phương bảo kiếm
Hoài văn hầu Trần Quốc Toản

Nghĩa là: Thanh kiếm của vua ban cho Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản.

Vương phi hướng về Nam bái tạ, rồi mời mọi người ra sân. Phi rút thanh kiếm ra khỏi vỏ: kiếm có mầu vàng óng ánh như vàng, tỏa ra khí lạnh ghê người. Phi khen:

– Kiếm này hơi nặng.

Phi vung lên, ánh vàng lóng lánh như quả cầu vàng. Phi đưa ngang, kiếm chạm vào cây côn sắt cắm bên cạnh. Chít một tiếng, cây côn to bằng cổ tay, đứt ngọt. Mọi người đều kinh ngạc.

(Hết Hồi 90)

Share this post