Anh Hùng Đông A – Gươm Thiêng Hàm Tử (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 91 (Tiếp theo)

Anh Hùng Đông A – Gươm Thiêng Hàm Tử (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 91 (Tiếp theo)

ANH HÙNG ĐÔNG A – GƯƠM THIÊNG HÀM TỬ
* Tiểu Thuyết Lịch Sử
* Tác giả: Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ
* Nguồn: Blog Trần Đại Sỹ (https://trandaisy.wordpress.com)

* Để đọc những phần đã đăng, xin vào khung Search this site (Tìm Kiếm) và gõ tên tác giả: Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ.

HỒI THỨ CHÍN MƯƠI MỐT
Liên minh Bắc liêu, Mông cổ, Nãi man
(Tiếp theo)

Việc tang lễ xong, thì có sứ giả của triều Tống tới báo hung tin: Hàm Thuần hoàng đế băng hà, miếu hiệu là Độ tông. Thái tử Triệu Hiển lên nối ngôi, lấy niên hiệu là Đức Hựu (1274). Lại một cái tang nữa.

Tại Thẩm dương, Trung Thành vương họp với Thái hậu Hồng Liên, Địa Lô. Trung Thành vương bàn:

– Vùng đất Bắc Liêu này rất phức tạp. Trước đây là sắc dân Khiết đan. Khiết đan đánh Tống chiếm Yên kinh, di dân vào Hoa Bắc lập ra nước Liêu. Sau một bộ tộc khác hùng mạnh đánh chiếm Liêu lập ra triều Kim. Kim cũng di dân vào Hoa Bắc. Vùng này hỗn hợp đủ các sắc dân Liêu, Kim, Hán, Thát đát. Gần đây Mông cổ diệt Kim, lập ra vùng Bắc Liêu, phong cho Tháp Sát Nhi làm vua. Cho nên dân chúng không có một giòng nào được coi là chính thống cả. Có điều dân vùng này vốn hung hãn, giởi cỡi ngựa bắn cung, thích chém giết. Thực là vùng nguy hiểm cho Đại Nguyên. Cho nên bằng mọi cách Hốt Tất Liệt phải chiếm cho được, bằng không thì Đại đô luôn bị đe dọa. Bây giờ lực lượng Bắc Liêu chia làm hai chém giết nhau. Hốt Tất Liệt giúp Đô Ngột Nhi để có cớ chiếm Bắc Liêu. Vậy ta cần phá cái chính nghĩa của y.

Ông hỏi Đia Lô:

– Mình cần một kế giết tên Đô Ngột Nhi mới yên.

Địa Lô tự tin:

– Phục binh giết y rất khó. Cháu sẽ đánh thuốc độc cho y chết rồi vu rằng Hốt Tất Liệt giết y để chiếm quân, chiếm nước.

Hồng Liên mỉm cười không nói gì. Trong khi Trung Thành vương ngơ ngác không hiểu:

– Làm thế nào mà được như vậy?

Hồng Liên nhỏ nhẹ:

– Bố ơi! Hiện hoàng tử Thoát Hoan là đại diện Hốt Tất Liệt trấn tại Khai bình. Ngay từ hôm hoàng tử tiếp kiến tên dâm tặc Đô Ngột Nhi đầu tiên, y đã mê mệt Ngọc Trí. Ta nhờ Ngọc Trí tìm cách bỏ thuốc độc vào rượu của tên Đô Ngột Nhi. Như vậy y sẽ toi mạng ngay.

Có sứ của Hoài Đô tới. Sứ họp với Địa Lô, Trung Thành vương bàn kế đánh úp Đại đô, Khai bình. Khu mật viện Bắc Liêu trình tình hình địch:

– Hồi A Lan Đáp Nhi đánh với Liêm Hy Hiến, cả hai bên đều chọn vùng đồng bằng dàn quân. Nên trận đánh khủng khiếp. Hiện nay tại Khai bình, Thoát Hoan, A Lý Hải Nha, Đô Ngột Nhi có 5 Vạn phu của Bắc Liêu, đóng chung với 5 vạn kị binh tân lập người Hán. Tổng cộng địch có 10 vạn quân đóng làm hai khu.

– Kế tiếp 5 vạn phu hàng binh của Lý Đảm đóng ngay trong Trương gia khẩu do Lý Hằng chỉ huy.

– Từ Trương gia khẩu về Đại đô, Nguyên còn 5 vạn nữa do Ô Mã Nhi chỉ huy. Đại đô chỉ có Thị vệ, Cấm quân, không có kị binh.

Địa Lô hỏi:

– Vậy chúng ta đánh như thế nào?

Vương ngừng lại, rồi tiếp:

– Tôi tình nguyện đánh Khai bình. Tôi sẽ chỉ huy 5 vạn kị binh gốc Kim, thiện chiến, thình lình cướp trại kị binh Hán tân lập. Tôi sẽ có cách biến 5 vạn kị binh Bắc Liêu của Đô Ngột Nhi hoặc án binh bất động, hoặc hợp với ta đánh trại Nguyên.

Vương tiếp:

– Về đạo quân của Lý Hằng trấn tại Trương gia khẩu. Xin Đại hãn Hoài Đô cho hai Hãn Vũ Cao San, Trần Mạnh Quốc đang đêm xua quân cướp trại. Rồi cho hai cánh quân của A Mít Lỗ Tề, Đi Mi Trinh thình lình xuất hiện đánh vào hông chúng.

Vương chỉ lên tấm lụa vẽ bản đồ:

– Sau khi đánh Khai bình, Trương gia khẩu, chúng ta hợp hai đạo quân làm một tiến về Bôi lôi. Ô Mã Nhi là tướng tài, nhưng quân của y không thiện chiến. Chúng ta phá y không khó.

Vương nói với sứ giả của Hoài Đô:

– Đại hãn đem quân vượt Trường thành, theo đường Sơn Tây đánh úp Đại đô. Vì Đại đô không còn quân. Sẽ có Địa Lô, cùng đạo binh của Kim Đại Hòa tiếp viện.

– Hoàng đế Bắc Liêu Đô Nhĩ Kha trấn Thẩm dương.

Tại Khai bình, sau khi Đô Ngột Nhi dự tiệc tại lều của hoàng tử Thoát Hoan trở về, thì trong đêm lên cơn sốt, đau bụng dữ dội rồi chết. Ai cũng cho rằng y bị cảm mạo nhập lý, đưa đến tử vong. Nhưng Ngự y không chịu, cãi rằng: Thái tử Đô Ngột Nhi bị trúng độc, vì thất khiếu đều ứa máu ra (*). Tin lan rất mau trong quân rằng Thái tử bị đầu độc.

* Ghi chú: Thất khiếu, 7 lỗ: hai mắt, hai lỗ mũi, hai lỗ tai và miệng.

Trấn Nam vương Thoát Hoan nổi giận, gọi Ngự y tới mắng rằng:

– Ta đãi tiệc Đô Ngột Nhi. Ta ăn gì, y cũng ăn như ta. Nếu bảo rằng y bị đầu độc thì sao ta không bị? Trong tiệc còn có thái tử phi Ngọc Trí, thừa tướng hành Trung thư tỉnh với phu nhân. Tại sao không ai bị trúng độc?

Ngự y tâu:

– Khải vương gia, có thể Đô Ngột Nhi bị trúng độc từ trước khi dự tiệc. Cũng có thể bị sau khi dự tiệc.

Năm vạn phu kị binh thiện chiến nhất của Bắc Liêu, được chỉ huy bởi năm Vạn phu trưởng rất trung thành với Tháp Sát Nhi. Tháp Sát Nhi là con của Tê Mô Gu, em ruột Thành Cát Tư Hãn. Hồi Thành Cát Tư Hãn chưa thành lập nước Mông cổ, Tê Mô Gu được trao cho làm Đại hãn một vùng nằm trên bờ sông Long lý hà. Cho nên các vạn phu trưởng của Tháp Sát Nhi hầu hết xuất thân từ hãn địa này. Họ với Tháp Sát Nhi có thâm tình từ ba đời. Họ được lệnh đặt dưới quyền Trấn nam vương Thoát Hoan, đem bản bộ quân mã theo Đô Ngột Nhi đi Vân nam giúp Mục Tương Ca, đánh đám quân còn trung thành với A Lý Bất Ca đã là điều họ không muốn. Bây giờ đang đi giữa đường họ được báo Tháp Sát Nhi băng, Đô Ngột Nhi truyền họ trở về tranh ngôi với em. Họ càng không muốn. Vì mỗi kỵ mã của họ đều là một chiến sĩ thiện chiến mà phải chết trong cuộc nội chiến thì thực uổng phí. Qua mấy ngày giao chiến, năm vạn phu của họ còn không quá hai vạn. Họ được biết Đô Ngột Nhi quy phục Hốt Tất Liệt. Mà Hốt Tất Liệt làm vua Trung nguyên, coi Mông cổ như một thuộc quốc. Bây giờ họ biết rõ Đô Ngột Nhi bị đánh thuốc độc. Họ họp nhau để làm một cái gì cho hả cái đau khổ này?

Giữa lúc đó có một thái giám hầu cận Đô Ngột Nhi xin cầu kiến. Viên Thái giám nói:

– Trung Thành vương, Đô Nhĩ Kha đang tiến quân về đánh Đại đô, giết Hốt Tất Liệt để trả thù cho thái tử Đô Ngột Nhi. Xin 5 vị cùng ứng nghĩa.

– Liệu đánh úp có thành công không? Chúng ta đang chong mặt đánh với Đô Nhĩ Kha, bây giờ đánh với Nguyên, hóa ra lưỡng đầu thọ địch sao?

– Các vị yên tâm, tôi là đặc sứ của tân quân Đô Nhĩ Kha đây. Các vị hãy cùng nhà vua đánh Nguyên, để lập công, thì không những được tha tội, mà còn được thăng thưởng nữa. Đêm mai, 5 vạn Kỵ binh gốc Kim do Trung Thành vương chỉ huy sẽ đánh úp trại quân này. Vậy ba tướng quân hãy án binh bất động, hoặc cùng vương đánh quân Nguyên.

– Chúng tôi sẽ đánh quân Nguyên.

– Các vị phải cho binh tướng biết trước kế hoạch để tránh ngộ nhận.

– Được rồi.

Tên thái giám lập tức rời khỏi doanh trại.

Tại Tòa tổng trấn Trường sa, vào một buổi trưa, Cao Mang trình cho Hành Sơn vương một ống đựng thư. Thư của Đại Hành:

Khải vương gia,

Kế hoạch đánh úp Khai bình, Đại đô của Đại hãn Hoài Đô bị thất bại. Lý do: bị nội phản. Hiện không biết Trung Thành vương, Địa Lô, Hồng Liên ra sao.

Theo kế hoạch, Trung Thành vương thống lĩnh 5 vạn kị binh gốc Kim tấn công vào phía Đông Khai bình, nơi đóng 5 vạn tân quân của Thoát Hoan, A Lý Hải Nha. Phía Tây là nơi đóng quân của 5 vạn quân của Đô Ngột Nhi.

Buổi trưa, Đô Ngột Nhi được vương phi Thoát Hoan là Ngọc Trí mời đến dinh ăn tiệc. Sau khi ăn xong Đô Ngột Nhi về trại mình thì bị đau bụng, rồi chết. Các tướng Bắc Liêu theo Đô Ngột Nhi cho rằng chúa mình bị Thoát Hoan đánh thuốc độc. Họ bàn nhau quay về với Đô Nhĩ Kha. Giữa lúc đó mật sứ của Đô Nhĩ Kha xuất hiện, thuyết phục, đêm nay khi quân của Đô Nhĩ Kha đánh Khai bình thì làm nội ứng. Họ nhận lời. Nhưng đúng lúc đó, vợ của Đô Ngột Nhi sai sứ từ Thẩm dương tới báo cho 5 tướng rằng không phải Thoát Hoan đánh thuốc độc giết Đô Ngột Nhi mà do người của Đô Nhĩ Kha. Vậy thay vì các tướng làm nội ứng cho Đô Nhĩ Kha, thì âm thầm kéo quân về đánh úp Thẩm dương. Vì quân của Đô Nhĩ Kha đã kéo đi hết, thành Thẩm dương không còn quân. Vì vậy trong khi Trung Thành vương kéo quân về đánh Khai bình, thì 5 vạn phu của Đô Nhĩ Kha đi đường tắt về đánh Thẩm dương. Thẩm dương bị chiếm. Đô Nhĩ Kha cùng triều đình bị bắt. Họ tôn đứa con trai mới 5 tuổi của Đô Ngột Nhi lên ngôi vua, vợ của Đô Ngột Nhi phụ chính.

Về phía Trung Thành vương, khi quân tới Khai bình thì được tin Thẩm dương thất thủ. Vương vội kéo quân về cứu thì phía sau quân của A Lý Hải Nha, Thoát Hoan đuổi theo. Thế là phía trước thì không vào Thẩm dương được. Phía sau bị Thoát Hoan tấn công. Vương cho hạ trại giữa đường. Vợ của Đô Ngột Nhi sai sứ ra ngoài thành xin đầu hàng Thoát Hoan. Thoát Hoan hứa để cho con Đô Ngột Nhi được tồn tại. Triều đình Bắc Liêu mới chiêu hàng 5 vạn phu trưởng theo Trung Thành vương. Họ đầu hàng, vì vợ con của họ đều ở trong thành Thẩm dương.

Trung Thành vương thấy nguy, đang đêm cùng mấy vệ sĩ bỏ trốn. Chưa có tin tức gì.

Về hai đạo quân của Vũ Cao San , Trần Mạnh Quốc, đang tiến tới Trương gia khẩu, thì được tin đạo quân của Trung Thành vương thất bại. Hai người dừng quân lại, rồi rút về Hoa lâm.

Đạo quân của Đại hãn Hoài Đô với Địa Lô đang trên đường từ Sơn tây tiến về Đại đô thì được tin báo hai đạo quân của Trung Thành vương, Vũ Cao San thất bại, biết đại sự đã hỏng, phải rút quân về Hoa lâm.

Thế là toàn bộ lãnh thổ Bắc Liêu đã thuộc về Đại Nguyên. Tuy nhiên sau những trận đánh, những vạn phu thiện chiến tơi tả hết, không còn khả năng tham chiến.

Triều đình Nguyên ăn mừng, vì đã gỡ xong hai cái ách Lý Đảm và Bắc Liêu. Hốt Tất Liệt thừa thắng dồn quân đánh Tống.

Có tin gì thần sẽ báo sau.

Suốt hơn nửa năm không có tin tức gì từ Lâm an, Hành Sơn vương sai Cao Mang, Kha Li Đa đi sứ về Lâm an báo cho triều Tống biết tình hình, lại sai chim ưng mang thư về Đại Việt tâu lên triều đình. Hơn tháng sau, Cao Mang trở lại báo cho vương biết:

Quân Nguyên vượt sông, đánh chiếm lại 10 châu, 144 thành mà hồi trước họ trả cho Tống. Với chính sách dùng người Hán của Đại Nguyên, họ chiêu hàng các quan văn võ của Tống dễ dàng. Họ đi đến đâu, quan quân Tống mở cửa thành đầu hàng. Họ vào thành, kiểm điểm kho tàng, rồi thăng tất cả các quan văn võ lên một cấp, cho giữ nguyên chức tước cũ, ruộng đất, tài sản được giữ nguyên. Họ lại sai bọn mới đầu hàng đi chiêu hàng các thành lân cận.

Tương dương, Phàn thành bị bao vây. Quân thủ thành cương quyết giữ chắc. Đại Nguyên sai tướng đi chiếm tất cả các vùng, các đồn trại quanh hai thành này. Triều đình Tống sai tướng tài ba nhất là đại tướng Phạm Văn Hổ, đem 2 nghìn chiến thuyền với 5 vạn thủy quân cứu Tương dương. A Truật, Lưu Chỉnh đem các chiến thuyền mới đóng cùng thủy quân nghênh chiến. Hai bên giao chiến tại Quán tử than, suốt 10 ngày đêm. Tống bị bại. Phạm Văn Hổ phải rút binh.

Phạm Văn Hổ lui binh, chỉnh đốn lực lượng, rồi nửa năm sau lại đem quân giải vây Tương dương. Một lần nữa Phạm Văn Hổ bị bại. Y đang sợ triều đình bắt tội, thì Hốt Tất Liệt sai người đến chiêu hàng. Phạm Văn Hổ đem toàn bộ chu sư, thủy quân hàng Nguyên. Y được Hốt Tất Liệt tiếp kiến, được phong tước hầu, được trao cho chức Đại đô đốc thống lĩnh thủy quân vùng Giang hán.

Tướng thủy quân Tương dương của Tống là Trương Quý chống trả tuyệt vọng. Hốt Tất Liệt sai Lưu Chỉnh chiêu hàng. Lưu Chỉnh là tướng của Tống đầu hàng, từng là thượng cấp của Lưu Quý. Lưu Quý đầu hàng.

Phạm Văn Hổ, Trương Quý tấn công ráo riết, quân trong Phàn thành hết lương phải đầu hàng. Phàn thành mất, Tương dương bị cô lập. Hốt Tất Liệt sai A Lý Hải Nha cầm quân công phá Tương dương. Tướng trấn thủ là Lữ Văn Hoán đầu hàng.

Khi quân Nguyên tiến đánh Hán khẩu, thì đại tướng tài của Nguyên là Sử Cách, bị tướng Tống là Trình Bằng Phi đánh bại. Hốt Tất Liệt phải thân chinh. Sau hai trận Nguyên, Tống ngang sức. Hốt Tất Liệt sai sứ chiêu hàng. Trình Bằng Phi đem toàn bộ binh tướng dầu hàng. Y được phong tước công, lĩnh chức Bình nam đại tướng quân.

Hiện Nguyên chia làm ba mũi đánh Lâm an. Triều Tống bối rối vô cùng.

Hành Sơn vương kinh hoảng:

– Như vậy Tống nguy mất rồi. Nếu như Lâm an thất thủ, thì vùng Trường sa này trở thành một đảo cô lập. Tại sao triều đình không gọi chúng ta về tiếp viện?

Cao Mang đáp:

– Nhiều người đưa ý kiến thỉnh vương gia về cứu mặt trận phía đông. Nhưng Khu mật viện can rằng: Trường sa phải đối diện với 20 vạn bộ binh, 10 vạn thủy binh bên bờ bắc của Trường giang. Nếu như triệu vương gia mang quân về thì Nguyên đổ quân sang chiếm Trường sa, rồi xuôi giòng Tương giang, thì Lâm an nguy ngay.

Vương gọi Yết Kiêu, Vương Chân Phương:

– Hai cháu lên đường về Lâm an khẩn cấp. Đem theo chim ưng, bất cứ biến chuyển gì của Tống, Nguyên, báo về đây ngay.

Yết Kiêu, Vương Chân Phương lên đường được ba ngày thì thủy quân báo:

– Có một sứ đoàn của hoàng đế Chí Nguyên đi thuyền sang sông xin cầu kiến.

– Sứ đoàn bao nhiêu người?

– Chánh, phó sứ là phụ nữ. Còn người trong hoàng tộc là con thứ chín của Chí Nguyên, lĩnh ấn Trấn nam vương Thoát Hoan. Tổng cộng 45 người.

Vương phi Ý Ninh ban chỉ:

– Dù nói cách nào thì Thoát Hoan cũng là tước vương của Đại Nguyên. Mình phải dùng lễ tiếp đón.

Vương sai dàn một vệ Ngưu binh, một vệ Đại đởm, rồi dẫn vương phi Ý Ninh, Dã Tượng, Thúy Hồng, bốn tướng Lý Long Đại, Vũ Trang Hồng, Trần Long Nhất, Phạm Trang Tiên, ra đón.

Thoáng thấy sứ đoàn, vương phi giật mình, vì chánh sứ là Bạch Liên, phó sứ là Hồng Nga. Phi dặn mọi người:

– Mình phải cẩn thận, vì bọn tùy tùng Nguyên đều biết nói tiếng Việt. Ta dùng tiếng Hán vùng Lâm an.

Tiếp dẫn sứ Việt nói tiếng Hán:

– Thưa chư vị sứ đoàn, đây là Hành Sơn đại vương Trần Nhật Duy, tổng trấn Tương giang hồ Động đình. Đây là vương phi Ý Ninh. Đây là hai đại tướng Phùng Tập, Trần Quốc Kinh và đây là bốn Ngưu tướng.

Tiếp dẫn sứ Nguyên chỉ Bạch Liên:

– Chánh sứ chúng tôi là Nguyên phi của hoàng đế Chí Nguyên. Phó sứ là phu nhân của Phiêu kị đại tướng quân A Truật. Còn đây là Trấn nam vương Thoát Hoan.

Từ khi bảy nàng Tô Lịch lên đường, đến nay thấm thoát gần 20 năm, bây giờ Hành Sơn vương mới gặp lại Bạch Liên và Hồng Nga. Thấy nhan sắc hai người vẫn tươi thắm, phong thái nhẹ nhàng. Vương hỏi Hồng Nga:

– Thế nào từ ngày Hồng Nga vâng chỉ hoàng đế kết hôn với đại tướng quân A Truật, có hạnh phúc không?

Hồng Nga cúi đầu xá:

– Nhờ vương gia, vương phi tác thành cho chúng tôi thành duyên giai ngẫu. Dù hoàn cảnh nào chúng tôi vẫn không quên ơn hai vị.

Khi sứ đoàn duyệt qua đội Ngưu binh, Thoát Hoan hỏi bằng tiếng Việt:

– Thưa đại vương, phải chăng đây là đội Ngưu binh, lừng danh trong trận đánh Bồ lăng?

Phạm Trang Tiên đáp bằng tiếng Mông cổ:

– Thưa Thái tử đúng thế.

Nói rồi nàng bóp miệng hú lên một tiếng, cả 80 con trâu cùng cất cao hai chân trước giống như hành lễ, gật đầu chào. Nàng lại hú một tiếng nữa, cả 80 con trâu cùng lùi lại sau bốn bước. Thoát Hoan than:

– Với đội Ngưu binh này thì hèn gì Ngột Lương Hợp Thai, Hoài Đô, A Truật không bị thất bại tại Đại Việt, rồi Xích Nhân Thiết Mộc Nhi bị thất bại ở Bồ lăng.

Vào đại sảnh đường, phân ngôi chủ khách, vương phi Ý Ninh hỏi Thoát Hoan:

– Không biết có việc gì mà đại giá Thái tử tới đây?

Thoát Hoan là hoàng tử, nhưng y đang muốn kèn cựa với Chân Kim, đoạt ngôi thái tử. Bây giờ y được vương phi Ý Ninh gọi là Thái tử. Y mừng chi siết kể:

– Chánh sứ là A Di của tôi. Xin A Di trả lời vương phi đi.

Bạch Liên nháy mắt một cái rồi nói bằng tiếng Hán vùng Yên Kinh:

– Khải vương gia, vương phi, Đại nguyên đã chinh phục hầu hết các nước đưới gầm trời này. Hoàng đế Chí Nguyên coi dân Mông cổ, dân Hán, dân Tây vực, dân Việt đều như nhau. Chính vì vậy mà hầu hết tướng sĩ Tống theo gió quy hàng. Nay Tống như ngọn đèn trước gió, mệnh trời không còn chỗ cho con cháu họ Triệu. Quân Nguyên đang siết vòng vây Lâm an. Lãnh thổ Tống chỉ còn khu Kinh hồ mà thôi. Hoàng đế Chí Nguyên từng nghe nói về tài dùng binh, về võ công của vương gia, vương phi hồi đánh Ngột Lương Hợp Thai. Gần đây Hiến tông hoàng đế của Mông cổ đánh vào Thục. Triều Tống bị diệt có thể đã trông thấy rõ, rồi vương gia, vương phi đem quân trợ Tống, khiến Mông cổ bị phá, Mông Ca tử trận. Chính vì thế mà hoàng thượng cũng như Nguyên triều vì yêu vì tài, kính vì đức, nên không đem quân vượt sông sang đánh Trường sa.

Phi ngừng lại nhìn Thoát Hoan. Thoát Hoan tiếp lời:

– Phụ hoàng yêu tài, trọng đức vương gia, vương phi mà phái Nguyên phi sang mời nhị vị về với Nguyên. Phụ hoàng hứa 4 điều.

Vương phi Ý Ninh mỉm cười:

– Xin Thái tử nói rõ 4 điều đó ra sao?

– Nếu vương gia quy phục Nguyên triều, phụ hoàng sẽ phong cho vương gia tước Kinh Nam vương. Một giải phía nam Trường giang gồm Hồ Nam, Lưỡng quảng vĩnh viễn là lãnh thổ của vương. Vương sẽ là vị hoàng đế như hoàng đế Đại việt. Đây là vùng đất linh của tộc Việt, xưa kia triều Lĩnh nam, triều Lý đều mất biết bao tâm huyết, mà không đòi lại được.

Hành Sơn vương gật đầu:

– Đa tạ hoàng đế Chí Nguyên. Không cần hoàng thượng phong, Tống đã trao vùng đất này cho Đại Việt từ gần mười năm rồi. Điều này hoàng thượng hứa cũng như không. Còn điều thứ nhì?

– Quân đội của Kinh Nam là quân đội của vương. Triều đình vẫn để nguyên cho vương thống lĩnh.

– Đa tạ hoàng thượng. Quân ở Kinh Nam này, là quân của mỗ tuyển mộ đào tạo, thì vẫn là của mỗ, đâu cần Đại Nguyên ban cho? Điều này lại càng không thuận tai tý nào cả. Thế còn điều thứ ba?

– Nếu như vương gia muốn, vương gia có thể đem quân đánh sang Đông, chiếm thêm đất của Tống, nhập vào lãnh địa của vương gia. Kinh Nam vương sẽ là một hoàng đế của toàn bộ phía nam Hoa hạ.

Hành Sơn vương trả lời bằng giọng lạnh như băng:

– Tống triều trọng đãi mỗ, trao vùng đất linh của tộc Việt cho mỗ. Mỗ thâm cảm ơn đó. Nay Tống gặp cái ách Thát đát, mỗ không thể nhân người đang gặp nguy mà nổi lòng tham cướp đất của người. Điều này mỗ không thể làm. Ngược lại nếu Tống triều lâm nguy, mỗ sẽ xả thân cứu viện. Thế còn điều thứ tư?

– Vương gia gốc là con trưởng của vua An nam. Tài trí vương gia bỏ xa anh em. Đúng ra vương gia phải được truyền ngôi vua. Chỉ vì vương gia là con thứ thiếp, mà bị đầy ra trấn thủ Bắc cương, bị gửi đi làm con tin, rồi bị đưa sang đây chịu chết cho Tống. Nếu vương gia muốn, phụ hoàng có thể phong cho vương gia luôn vùng đất An Nam, và cả Chiêm thành. Hai vùng này thuộc quyền quản chế của vương gia.

– Cái điều mà Thái tử nói muốn chia rẽ tình huyết tộc trong anh em chúng tôi e vô ích. Phụ hoàng là người nhà Phật, tâm trong sáng vô cùng. Người đã thể theo lẽ chính thống nho gia mà truyền ngôi cho tam đệ. Còn tôi? Người tin tưởng vào tôi mà trao cho trấn nhậm Bắc cương, vì vậy mới có cuộc long tranh hổ đấu với Ngột Lương Hợp Thai, Hoài Đô, A Truật. Còn việc tôi đi làm con tin là do tôi tình nguyện. Cuộc Bắc viện cũng thế. Còn bảo tôi lên đây chịu chết thay cho Tống là nói lấy được. Vùng này nguyên là đất linh của tộc Việt. Tống triều từng phong cho tổ của tôi làm Kinh Nam vương. Bây giờ trao trả cho tộc Việt, nên phụ hoàng sai tôi lên trấn nhậm. Đây là lãnh thổ Đại Việt, nếu như Thái tử muốn thương lượng đầu hàng thì xin đến Thăng long thuyết phục với Đại Việt hoàng đế.

Vương phi Ý Ninh hỏi:

– Thái tử nói mời chúng tôi về với Nguyên, vậy nếu chúng tôi quy phục Nguyên, chúng tôi phải làm gì?

– Mấy trăm nước quy phục Nguyên triều đều phải tuân theo 6 điều.

Thúy Hồng đọc được ý nghĩ của Thoát Hoan, công chúa nói:

– Có phải 6 điều này: Một là đích thân quốc vương phải vào chầu. Hai là đem trưởng nam làm con tin. Ba là kê biên dân số. Bốn là phải chịu quân dịch. Năm là phải nộp thuế, lương thảo. Sáu là nhận Đạt lỗ hoa xích (Đa gu ra tri).

Thoát Hoan thấy một thiếu phụ đẹp như Quan Thế Âm bồ tát, nói tiếng Hán vùng Yên kinh nhẹ như gió thổi thì ngạc nhiên:

– Phu nhân! Quả đúng như phu nhân nói. Phụ hoàng còn muốn trao cho vương gia, vương phi cầm đại quyền thống lĩnh binh lực Đại Nguyên. Trước kia đức Thái tổ biết tài Tốc Bất Đài mà trao binh quyền cho người. Phong vương cho người. Người ruổi ngựa chinh phục hết các nước phương Tây lập ra Kim trướng. Nay phụ hoàng tìm khắp Đông Tây, kiếm một người như Tốc Bất Đài để chinh phục phương Đông.

Thúy Hồng cười rất tươi:

– À thì ra thế. Chí Nguyên hoàng đế hiện ngồi trên đỉnh cao chót vót mà cứ phải thân chinh, nên muốn vương gia đây quy phục, để đem quân đi chém giết người đấy.

– Phụ hoàng xét đi xét lại, cuối cùng tìm ra hai người xứng đáng. Hai người tài trí hơn Tốc Bất Đài đó là Hưng Đạo vương và vương gia. Người tuyên chỉ: nếu trao binh quyền cho vương gia thì chỉ cần một tháng, không còn cái gọi là triều Tống nữa. Người thống mạ triều Tống rằng nếu họ biết dùng vương gia, trao binh quyền cho vương gia thì bọn A Truật, Lưu Chỉnh, Ba Nan, A Lý Hải Nha đẽ bị đánh bật về bắc ngạn Trường giang ngay.

Vương phi Ý Ninh cười:

– Đa tạ hoàng thượng đã coi trọng trượng phu tôi. Tôi xin trở lại 6 điều mà Nguyên triều muốn chúng tôi tuân theo. Sáu điều này Nguyên triều từng đem ra ép hoàng đế Đại Việt, không biết hoàng đế có tuân theo không?

Nguyên phi Bạch Liên lắc đầu:

– Không những Đại Việt hoàng đế chối tuốt tuột tuồn tuốt, mà cả triều đình đều chối. Lại còn làm trái ngược nữa.

Dã Tượng (giả tảng) hỏi:

– Tâu phi! Đại Việt đâu có chối tuốt tuột tuồn tuốt cả 6 điều?

– Tôi biết. Này nhé, điều một là đích thân quốc vương vào chầu thì hoàng đế chối thẳng, vì hoàng đế Đại Việt nghĩ mình là con rồng, cháu tiên, thân thể cao quý, không thể cúi đầu quỳ gối trước bất cứ ai! Sứ đi, sứ về có hàng chục lần mà vua Đại Việt vẫn không chịu vào chầu. Còn điều thứ nhì là đem trưởng nam làm con tin, thì Đại Việt có tuân, nên đã gửi vương gia tới Đại đô. Nhưng rồi vương phi hóa phép khiến đại vương Tháp Sát Nhi cho vương gia về để đem quân đánh phía sau Tống. Thay vì đánh Tống, vương gia đem quân trợ Tống. Vì vậy Mông cổ đại bại, và Đại hãn Mông Ca tuẫn quốc.

Phi chỉ vào Dã Tượng:

– Dường như vị tướng quân khổng lồ này đã ném đá sát hại Đại hãn Mông Ca thì phải?

Dã Tượng là người chân chất, hầu khẳng khái:

– Tâu phi! Đúng thế. Chính tôi là người chỉ huy trận phục kích Trường thảo. Chính tôi là người ném hai viên đá giết ác quỷ Mông Ca. Tôi nghĩ, Chí Nguyên hoàng đế phải gửi sang tạ mỗ mười vạn lượng vàng mới phải. Nếu mỗ không ném đá giết Mông Ca thì giờ này Chí Nguyên vẫn là Hốt Tất Liệt lêu bêu ở Hoa lâm, chứ đâu có là một hoàng đế vĩ đại.

Hồng Nga tiếp lời Bạch Liên:

– Điều ba, là biên kê dân số thì có đấy, nhưng sổ biên kê của Đại Việt chỉ là một áng văn, không đúng sự thực. Còn điều bốn là chịu binh dịch thì thay vì gửi quân tham chiến đánh Tống, Đại Việt gửi vương gia lên đây trấn vùng Kinh hồ. Oai danh của vương gia khiến không một tướng nào của Nguyên dám mang quân vượt sông đánh với vương gia. Điều 5 là phải nộp thuế, cung ứng lương thảo, thì Đại Việt đã không nộp, lại còn cung ứng cho Tống năm chục vạn thạch gạo, năm vạn cân cá khô, mực khô! Điều thứ sáu, quả Đại Việt có nhận Đạt lỗ hoa xích, nhưng giam lỏng họ như giam tù.

Hành Sơn vương quyết liệt:

– Mỗ là anh của Đại Việt hoàng đế, nhưng mỗ tuân theo chỉ dụ của người, trấn nhậm ở Kinh hồ. Đây là lãnh địa Đại Việt. Thái tử muốn mỗ tuân theo điều gì xin cứ đến Thăng long. Triều đình ban chỉ sao thì mỗ tuân làm vậy.

Thoát Hoan nói:

– Trong các phi tần của phụ hoàng, người sủng ái, trọng vọng A Di nhất. A Di là người Việt. Vì vậy người cử A Di làm chánh sứ để tỏ ra trọng vọng vương gia. A Di từng đi sứ chiêu hàng hoàng đệ A Lý Bất Ca thành công, mà tránh được cuộc chiến chết đến mấy vạn người. Nay phụ hoàng cũng cử A Di sang đây. Vương gia ơi! Vương gia là người tài trí bậc nhất thời nay, không lẽ vương gia thiếu đức nhân?

Thúy Hồng hỏi:

– Xin Thái tử nói rõ hơn?

– Nếu vương gia không quy phục Nguyên thì phụ hoàng phải cử đại binh đánh Trường sa. Võ công vương gia, vương phi cao cường, tài dùng binh như thần, nhưng với bốn hiệu binh ọp ẹp của Tống, vương gia chống lại sao được với 20 vạn kị binh của chúng tôi? Trận chiến này bên Trường sa chết 10 vạn thì bên Nguyên chết ít nhất 10 vạn người. Giữa rừng gươm đao dân chúng chết oan biết bao nhiêu mà kể. Mà thưa vương gia, dân Kinh hồ tuy nói tiếng Hán, nhưng gốc họ là người Việt, họ là con cháu của Lạc long quân cả đấy chứ!

Từ đầu đến cuối, công chúa An Tư ngồi sau vương phi Ý Ninh. Công chúa nghe hai bên đối đáp, thấy Thoát Hoan cưỡng từ đoạt ý, công chúa đã tức ứa gan. Bây giờ nghe Thoát Hoan dùng cái gốc Việt của dân Trường sa thuyết phục anh mình. Công chúa lên tiếng:

– Thái tử nói như thế là nói cho sướng miệng. Ngay từ đầu, Nguyên phi chánh sứ đã nói: Hoàng đế Chí Nguyên coi dân Mông cổ, dân Hán, dân Tây vực, dân Việt đều như nhau. Vậy lòng nhân của người đâu mà cứ đẩy quân Nguyên vượt sông lăn mình vào chỗ chết? Còn quân của chúng tôi là quân Việt, giặc ngoài đến thì họ phải hy sinh tính mạng chống trả. Đó là sự bất đắc dĩ vậy! Nếu nói đức nhân thì sao Chí Nguyên không lùi quân về Bắc để trăm họ được thanh bình, mà cứ đem quân chiếm nước người?

(Hết Hồi 91)

Share this post