Anh Hùng Đông A – Gươm Thiêng Hàm Tử (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 91

Anh Hùng Đông A – Gươm Thiêng Hàm Tử (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 91

ANH HÙNG ĐÔNG A – GƯƠM THIÊNG HÀM TỬ
* Tiểu Thuyết Lịch Sử
* Tác giả: Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ
* Nguồn: Blog Trần Đại Sỹ (https://trandaisy.wordpress.com)

* Để đọc những phần đã đăng, xin vào khung Search this site (Tìm Kiếm) và gõ tên tác giả: Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ.

HỒI THỨ CHÍN MƯƠI MỐT
Liên minh Bắc liêu, Mông cổ, Nãi man

Vương phi viết thư báo cho Tô lịch thất tiên, Đông hoa biết việc sinh Quốc Toản. Các nơi gửi quà, gửi thư chúc mừng. Thư của Thanh Nga, Ngột A Đa làm phi chú ý:

Nếu không gặp vương, vương phi, thì giờ này may mắn lắm em làm vợ một gã nho sinh ở Thăng long. Nhờ anh chị dạy dỗ mà em có ngày nay. Em đang hoài thai. Nếu em sinh gái thì sẽ gả cho Quốc Toản, để đền ơn sâu như biển, cao như núi của anh chị“.

Phi viết thư trả lời:

Chị nhận lời đính ước của em. Chị sẽ luôn nhắc nhở Quốc Toản, rằng nó đã được bố mẹ đính ước trăm năm từ khi lọt lòng.

Vào một ngày rằm, Vương phi Ý Ninh tổ chức cuộc du ngoạn trên hồ Động đình, thăm núi Tam sơn, là nơi xưa kia quốc tổ Lạc Long Quân, quốc mẫu Âu Cơ sau khi thành hôn đã đến núi ở ba năm để hưởng thanh phúc. Cuộc du ngoạn gặp mưa, khi trở về vương phi Ý Ninh bị cảm, bị mất sữa. Y sĩ trị không khỏi.

Vương Chân Phương thấy Quốc Toản kháu khỉnh quá, công chúa khải với vương phi Ý Ninh:

– Thưa thím! Con của cháu đã hai tuổi, tự nhiên nó không bú sữa mẹ nữa. Ngực cháu căng khó chịu lắm, cứ phải nặn sữa. Thím cho cháu nuôi Quốc Toản, để thím đỡ bận.

Hành Sơn vương cười:

– Theo hàng lộ dòng họ Đông a thì Quốc Toản là em Quốc Vỹ. Chân Phương là chị dâu nó. Bây giờ Chân Phương nuôi Quốc Toản, thì Quốc Toản là con sữa của Chân Phương. Để chính danh, Quốc Toản vẫn gọi Yết Kiêu là anh. Nhưng phải gọi Chân Phương là má má, tiếng Việt là mẹ sữa. Xét số Tử vi Quốc Toản, thì Thiên hình thủ mệnh tại Dần, đắc cách mà Tử vi kinh nói: “Hình hổ cư Dần, Hổ đới kiếm hùng“, nên lưu danh vạn cổ. Do Hình, Hổ nên tính tình cương nghị. Chân Phương là người nhu nhã thì nuôi sữa nó, nó sẽ bớt cứng.

* Ghi chú của thuật giả: Thế là Chân Phương trở thành nhũ mẫu Quốc Toản. Là thầy dậy khai tâm cho Quốc Toản. Sau này độc giả sẽ thấy tâm tính Chân Phương ảnh hưởng vào vị đại anh hùng này rất nhiều. Sử cũng như gia phả ghi: Hoài văn Hầu rất cương quyết, chỉ Vô Huyền bồ tát, Tuệ Trung bồ tát (Hưng Ninh vương), Hưng Đạo vương, Khâm Từ hoàng hậu, và Chân Phương nói là Hầu nghe theo mà thôi.

Bàn về số Tử vi của anh hùng Trần Quốc Toản:

Tuổi Bính Dần, mệnh lập tại Dần. Đắc cách Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương, có Hóa lộc phù trì. Đúng ra đây là người tính tình phóng khoáng nhẹ nhàng. Sự nghiệp thiên về văn hơn võ. Thế nhưng vì sinh tháng 6, Thiên hình đắc địa thủ mệnh, nên là người cương nghị. Cung quan Thiên cơ tại Ngọ được Hóa quyền phù trì, thì vang danh thiên hạ, ngặt vì gặp Kình dương, Địa không nên dù tài trí, dù công lao, luôn bị bọn Trần Di Ái, Trần Ích Tắc, Trần Kiện, Lê Tắc vu cho làm gian tế của Nguyên. Được Vương Chân Phương nuôi sữa nên tình tình hầu nhu nhã. Hầu lại được Thúy Hồng dậy kinh điển nhà Phật, do đó Hầu là một Phật tử thuần thành. Đó là truyện sau.

Có thư của Đại Hành:

Khải vương gia,

Cách đây hơn mười ngày thành Tế Nam thất thủ. Lý Đảm đã âm thầm cho con trai là Lý Nhan Giản dùng thuyền vượt biển về Đại Việt xin ẩn thân. Còn Lý dùng kiếm giết chết phu nhân, tiểu thư rồi lấy một con thuyền bơi ra giữa hồ, định trầm mình tự tử. Nhưng hồ nông quá, Lý bị bắt. Tông vương Hợp Tất Xích đem Đảm ra giũa chợ, họp dân chúng kết tội chống lại Nguyên triều, rồi chém đầu. Thế là một giải Sơn Đông thuộc về Nguyên.

Vì Hốt Tất Liệt dùng toàn người Hán cai trị Trung nguyên, nên nhân sĩ, dân chúng coi triều Nguyên như triều Tống, triều Đường. Dân chúng kinh sợ chiến tranh, nên quy phục Nguyên triều. Họ coi Lý Đảm như một thứ giặc cướp. Họ còn coi Tống triều như một phiên vương của Nguyên. Nguyên mộ quân, trai tráng ùn ùn ứng nghĩa tòng quân rất đông. Hốt Tất Liệt đem trai tráng ra vùng Thảo nguyên huấn luyện, đào tạo thành kị mã như quân Mông cổ trước đây.

Đại Nguyên sai người đi khắp Thảo nguyên mua ngựa. Toàn bộ vùng Đại uyển được trao cho một hoàng tử làm Đại hãn, đem những người nuôi ngựa giỏi nhất Thảo nguyên đến Sơn đông huấn luyện binh sĩ nuôi, chăn ngựa. Nhờ vậy, Đại Nguyên đã thành lập được 20 vạn kị binh, thiện chiến không thua gì kị binh thời Thành Cát Tư Hãn.

Để chuẩn bị đánh Tống, Hốt Tất Liệt đang:

– Âm thầm sai sứ đến các Tuyên vũ sứ Tống, chiêu dụ, khi Đại Nguyên vượt sông đánh Tống thì quy hàng. Các quan văn võ hàng sẽ được thăng lên một cấp, cho giữ nguyên chức vụ, phẩm hàm cũ. Của cải, ruộng đất được giữ nguyên. Kẻ nào chống thì không những bị sát thân, mà toàn gia bị tru lục.

– Các tướng hiến kế: Hoa Nam là nơi nhiều sông ngòi, đồng lầy. Muốn đánh Tống phải dùng thủy quân. Hốt Tất Liệt đang cho huấn luyện 10 vạn thủy quân, đóng 6 nghìn chiến thuyền.

– Dùng toàn bộ các quan chức của Lý Đảm, cho thăng chức, phẩm hàm, rồi cử xuống trấn nhậm những vùng giáp biên với Tống, để các quan Tống thấy hàng tướng được trọng dụng.

Hốt Tất Liệt họp các mưu sĩ, các tướng bàn chuyện đánh Tống. Có hai kế.

Kế thứ nhất: dùng hai mũi dùi. Mũi thứ nhất dùng thủy quân đánh vào bờ biển hông Tống. Mũi thứ nhì vượt sông đánh Ngạc châu.

Kế thứ nhì: chia làm hai mũi. Mũi thứ nhất đánh Tứ xuyên, xuôi giòng Trường giang chiếm Trường sa, đánh xuống Nam chiếm Hồ Nam, Quý châu, Quảng Nam lộ. Mũi thứ nhì vượt sông chiếm Trường sa, hồ Đông đình.

Hốt Tất Liệt quyết định dùng kế thứ nhì. Đã sai Trấn Nam vương Thoát Hoan cầm quân đánh Ngột A Đa chiếm Tây tạng, Vân Nam, rồi xuôi Trường giang chiếm Đông Tứ xuyên. Lại sai Liêm Hy Hiến đánh chiếm Thành đô rồi hợp với Thoát Hoan. Sau khi chiếm trọn Tứ xuyên sẽ đánh Trường sa. Đích thân Hốt Tất Liệt cho quân vượt sông đánh vào Trường sa.

Khu mật viện Đại Nguyên biết vương gia cùng hiệu binh Thiệu hưng trấn Trường sa. Nên y nghi ngại. Các mưu sĩ thiết kế: gửi Nguyên phi Bạch Liên hay vợ A Truật là Hồng Nga vượt sông chiêu hàng. Sứ mang chiếu thư hứa phong cho vương gia làm Kinh Nam đại vương, với toàn quyền vùng Trường sa, Hồ nam, Quý châu.

Đã liên lạc được với Nguyễn Địa Lô.

Đọc thư Đại Hành xong, Hành Sơn vương mời vương phi, Cao Mang, Yết Kiêu, Dã Tượng vào họp mật. Vương phi bàn:

– Từ trước đến nay, từ tể tướng Giả Tự Đạo dĩ chí các tướng Tống cầm quân, cứ nghe thấy Mông cổ là kinh hãi, nên muốn họ chống Mông cổ thì cầm chắc cái bại rồi. Vùng Trường sa, hồ Động đình này chỉ dựa vào thế hiểm của Trường giang. Bây giờ Mông cổ huấn luyện thủy quân, đóng chiến thuyền, để đánh ta. Vậy ta phải nghênh địch bằng cách nào?

Yết Kiêu phát biểu:

– Trước đây vào thời Lý, Tống Thần tông với Vương An Thạch chuẩn bị đánh ta. Linh Nhân hoàng thái hậu với thái úy Lý Thường Kiệt quyết định: Ngồi chờ giặc sao bằng tìm giặc mà đánh. Bây giờ mình nên vượt sông đánh phá các xưởng đóng chiến thuyền của chúng.

Cao Mang góp ý:

– Hiện toàn bộ khu Trường sa hồ Động đình, ta chỉ có 4 hiệu binh, khoảng 10 vạn người. Trong khi bên kia sông, chúng có tới 20 vạn. Mình không đủ quân vượt sông chiếm thành giữ đất, thì mình nghiên cứu thực kỹ. Ta vượt sông đánh chớp nhoáng rồi rút về.

Vương phi đồng ý:

– Lực lượng tham chiến chủ yếu là Ngạc binh, Đại đởm. Bây giờ ta cần đào tạo ít nhất năm nghìn Ngạc binh, năm nghìn Đại đởm. Muốn đào tạo một bộ binh, một tráng niên thành Ngạc binh, Đại đởm phải mất một thời gian 9 tháng đến một năm. Trong khi kế hoạch huấn luyện thủy quân, đóng chiến thuyền của Nguyên ít ra là 18 tháng. Như vậy thì ta có thể ra tay trước.

Trong khi khu Trường sa tổ chức huấn luyện Ngạc binh, Đại đởm thì trên bờ Bắc Trường giang, các tướng Nguyên huấn luyện thủy quân, chuyển gỗ từ các nơi khác về đóng chiến thuyền.

Có thư của Địa Lô:

Khải vương gia,

Kiến Bình vương mới hoăng. Triều Nguyên gửi sứ sang Cao ly đòi Quốc vương phải tuân theo sáu điều: Một là đích thân quốc vương phải vào chầu. Hai là đem trưởng nam làm con tin. Ba là kê biên dân số. Bốn là phải chịu quân dịch. Năm là phải nộp thuế, lương thảo. Sáu là nhận Đạt lỗ hoa xích (Đa gu ra tri).

Triều đình Cao ly nghị luận phân vân. Cuối cùng quốc vương tuân theo 5 điều. Xin miễn chịu binh dịch. Hốt Tất Liệt chấp thuận. Hoàng hậu Như Lan phản đối quyết liệt, nhưng quốc vương không nghe. Lý do: quốc khố phải nuôi một đạo quân lớn quá, làm dân nghèo khổ. Đại Nguyên cử một phái đoàn Đạt lỗ hoa xích đông đến 300 người sang đóng tại kinh thành. Quốc vương giảm một nửa quân số, cho về làm ruộng. Những đạo quân còn lại không còn thiết tha luyện tập, vì cái vạ Mông cổ không còn nữa.

Quốc vương lên đường về Đại đô chầu Hốt Tất Liệt, lại đem Thái tử mới 11 tuổi sang làm con tin. Triều Nguyên tiếp đón Quốc vương rất nồng hậu.

Hốt Tất Liệt sai sứ đến Cao ly, bắt Quốc vương cử người dẫn đường, làm thông dịch sang chiêu hàng Nhật bản. Sứ thần là Binh bộ thị lang Hách Đức làm Quốc tấn sứ. Lễ bộ thị lang Ân Hoàng là phó. Hai người mang quốc thư sang Nhật bản. Nhưng sứ sang đến cảng Nhật bản, không ai ra đón, nên sứ đoàn chờ hơn hai tháng rồi ra về.

Bực tức vì chạm tự ái, triều Nguyên sai sứ đoàn thứ nhì sang Nhật. Chánh sứ là Khởi Cư Cá Nhân Phan Phụ, cùng một sứ đoàn hùng hậu. Không ai tiếp đón. Sứ đoàn ở lại sáu tháng rồi về không.

Nguyên triều bị tự ái, Hốt Tất Liệt ra lệnh thành lập Hành tỉnh bình chương chính sự đánh Nhật.

Hốt Tất Liệt dùng quân đầu hàng của Lý Đảm tổ chức thành kị binh Mông cổ. Lại tái tổ chức thủy quân của Lý, thành lập hai hạm đội. Tất cả trao cho Toa Đô làm nguyên soái, vượt biển đánh Nhật.

Hạm đội Nguyên tới Mã Đảo [Tsushima] thuộc eo biển Đối Mã [Tsushima Kaikio] thì chạm với lực lượng phòng thủ tại đây. Trong khi quân Nguyên với quân số 2.500 thủy quân, với 2000 bộ binh, thì quân Nhật chỉ có gần nghìn người. Phía Nhật bị bại. Toa Đô truy sát tới các đảo lớn thì đụng với lực lượng hải quân hùng hậu của Nhật. Toa Đô bị đánh bật ra biển. Giữa lúc đó bão tới. Quân Nhật quen địa thế, đem chiến thuyền ẩn bão, vô sự. Trong khi quân Nguyên bị bão vật, chiến thuyền bị vỡ, quân sĩ chết gần hết, chỉ còn mươi chiến thuyền bơ phờ rút về.

Hành Sơn vương, vương phi cười thầm:

– Hốt Tất Liệt vì tự ái hão mà nướng gần hết số thủy quân của Lý Đảm. Giá y kiên nhẫn, đem số thủy quân đó đánh vào bờ biển phía Đông của Tống thì Tống nguy!

Vương viết chỉ dụ cho Vũ Chính:

Tâu với Nguyên phi, Hồng Nga dùng bốn người đẹp Ngọc, khích Chí Nguyên, Thái tử, triều thần Đại Nguyên rằng: Nhật bản chỉ là một bộ tộc nhỏ bé ở trên những hòn đảo xa xôi. Đại Nguyên là Thiên triều, đã thu gộp tất cả các nước từ Đông sang Tây; từ Nam chí Bắc. Thế mà chúng không coi Thiên triều ra gì. Nếu Thiên triều muốn thì sẽ dùng chân di chúng như di đàn kiến. Thiên triều cần xuất quân giết chúng như làm cỏ. Có như vậy sau này mới khiến các nước trên biển quy phục.

Quả nhiên, sau này Hốt Tất Liệt cùng triều thần mang đại quân sang đánh Nhật bản, đó là truyện sau.

Có thư của Địa Lô:

Có biến cố cực kỳ lớn. A Lý Bất Ca băng. Theo phong tục Thảo nguyên, Huyền Liên được gả cho một Đại hãn vùng Đại uyển.

Đại hãn Nãi Man là Hoài Đô tập họp gần 300 các Hãn ở Thảo nguyên, cận Tây vực, vùng của A Lỗ Hốt. Các hãn lên án Hốt Tất Liệt vong bản, biến Trung quốc thành đại quốc, bắt Mông cổ phải quy phục. Đó là phản lại Thành Cát Tư Hãn. Các Hãn bầu Hoài Đô làm Đại hãn, chuẩn bị đánh Nguyên, khôi phục Mông cổ như hồi Thành Cát Tư Hãn còn tại thế. Các tướng Vũ Cao San, Trần Mạnh Quốc, A Mít Lỗ Tề, Đi Mi Trinh đều được phong cho làm Hãn 5 bộ tộc, mà Hãn của họ chết trong dịp đánh nhau với Nguyên.

Đại hãn Hoài Đô sai sứ sang kết thân với Tháp Sát Nhi. Hoàng hậu Hồng Liên nhiếp chính gửi sứ sang chúc mừng. Hứa liên hợp bảo vệ lẫn nhau.

Lại mấy tháng sau có thư của Địa Lô:

Triều Nguyên ban chỉ trưng 5 vạn kị binh gốc Mông cổ của Bắc Liêu để đánh Vân nam, Tây tạng. Hồng Liên mượn chỉ của Tháp Sát Nhi từ chối. Trong khi Thái tử Đô Ngột Nhi muốn tuân theo. Y cương quyết thân cầm 5 vạn quân đặt dưới quyền Trấn nam vương Thoát Hoan đi Vân nam.

Trong khi Hồng Liên đang có việc ra ngoài thành, y lọt vào hậu cung nhất quyết gặp Tháp Sát Nhi. Y đưa ý kiến này. Tháp Sát Nhi biết rằng mình sống không được bao lâu, nên muốn truyền ngôi cho con thứ là Đô Nhĩ Kha. Nhưng không có cớ phế Đô Ngột Nhi. Vương đồng ý cho y cầm quân đi xa, khi vương băng để di chiếu lại thì sẽ truyền ngôi cho con thứ. Thế là Đô Ngột Nhi dẫn 5 vạn kị binh lên đường. Quyền tại Bắc Liêu hoàn toàn do Hồng Liên, Trung Thành vương, Đô Nhĩ Kha nắm giữ.

Khi Đô Ngột Nhi lên đường được nửa tháng thì Tháp Sát Nhi băng. Hoàng hậu Hồng Liên công bố chiếu chỉ của Tháp Sát Nhi lập con thứ nhì là Đô Nhĩ Kha lên kế vị. Tân quân sai ngựa trạm báo tin cho Đô Ngột Nhi biết. Đô Ngột Nhi để quân ở Đồng quan dẫn nhóm vệ sĩ trở về Thẩm dương chịu tang. Trung Thành vương ban lệnh cho y được vào thành chịu tang, bái yết tân quân, nhưng không được mang theo tùy tùng. Y chống lại. Đám tướng sĩ của y giao chiến với Thị vệ. Bị đánh bật khỏi thành, y ra lệnh cho kị binh đang ở Đồng quan về đánh Thẩm dương. Y cáo với các quan rằng di chiếu nhường ngôi cho Đô Nhĩ Kha là do hoàng hậu Hồng Liên giả tạo. Trung Thành vương đem quân dẹp y. Tướng sĩ một nửa theo Đô Ngột Nhi, một nửa theo Đô Nhĩ Kha. Quân hai bên giao chiến ác liệt trong 5 ngày. Cả hai cùng thiệt hại nặng. Có tin gì thần sẽ báo sau.

Vương viết chỉ dụ:

Phải cẩn thận, bằng không Hốt Tất Liệt mượn cớ giúp Đô Ngột Nhi, rồi đem quân chiếm Bắc liêu.

Mấy hôm sau có thư của Đại Hành:

Có biến cố lớn tại Bắc Liêu. Thái tử Đô Ngột Nhi tuân theo lệnh trưng binh của Đại Nguyên, đem 5 vạn kị binh tinh nhuệ Mông cổ đi Vân Nam với Thoát Hoan trợ lực cho Mục Tương Ca đánh Ngột A Đa. Khi lên đường 15 ngày, quân tới Đồng quan thì Tháp Sát Nhi băng. Di chúc cho con thứ là Đô Nhĩ Kha lên kế vị. Đô Ngột Nhi không tin, tuyên bố đó là di chiếu giả do hoàng hậu Hồng Liên tạo ra. Y đem quân trở về tranh ngôi thì Trung Thành vương không cho vào thành. Quân Bắc liêu chia làm 2 đánh lẫn nhau. Tướng sĩ chia 2. Thiệt hại trong 5 ngày đầu rất trầm trọng.

Đô Ngột Nhi cầu cứu với Đại Nguyên. Hốt Tất Liệt sai Trấn Nam vương Thoát Hoan, Cao Bằng Tiêu mượn dịp này đem quân giúp Đô Ngột Nhi rồi chiếm Bắc Liêu luôn. Thần đã báo tin cho Địa Lô biết. Hốt Tất Liệt ban mật chỉ cho Thoát Hoan, Cao Bằng Tiêu: Thủng thẳng tiến quân, để Đô Ngột Nhi đi trước. Khi y đánh được thành nào thì trấn đóng. Đô Ngột Nhi ngu xuẩn, dùng toàn lực giao chiến. Sang ngày thứ 20 thì 5 vạn quân của y bị chết phân nửa. Mà quân của Đô Nhĩ Kha cũng bị hao hụt trầm trọng. Bấy giờ Cao Bằng Tiêu mới ra quân. Tuy vậy Bắc liêu vẫn còn quân ở các trấn kéo về. Thêm tài dùng binh của Địa Lô, Đô Nhĩ Kha thắng lớn. Thoát Hoan, Cao Bằng Tiêu bị bại phải rút về Khai bình.

Một tin đáng chú ý: ngay từ khi Thoát Hoan tiếp kiến tên Đô Ngột Nhi, y say mê Ngọc Trí đến không còn biết đường ra lối vào. Ngọc Trí nhân danh Thái tử phi, ban cho y ăn uống nhiều lần.

Nguyên triều nghị: nên nhân dịp này dùng đại quân chiếm Bắc Liêu, tránh mối lo về mai hậu. Hốt Tất Liệt quyết định dĩ độc trị độc là dùng những đạo binh của A Lý Bất Ca, Lý Đảm đầu hàng đánh Bắc Liêu. Y mong cho cả quân đầu hàng và quân Liêu đều chết. Y sai Thoát Hoan, A Lý Hải Nha đem 5 vạn phu của của Lý Đảm đầu hàng cùng ba vạn phu của các hãn A Mít Lỗ Tề, Đi Mi Trinh, Kim Đại Hòa từ Mông cổ đánh vào phía sau quân của Đô Nhĩ Kha. Thần đã báo cho Địa Lô biết mưu thâm độc này. Đia Lô sai sứ báo cho vợ của ba tướng là Ngọc Hạ, Ngọc Tiên, Ngọc Trị biết rằng, nếu đem quân đánh Bắc Liêu, quân sẽ chết hết. Hốt Tất Liệt cũng giết ba tướng để trừ hậu hoạn. Vậy chi bằng trở giáo đánh Nguyên, hy vọng sống.

Đang đêm cả ba tướng đem quân đánh tan ba vạn phu người Hán nguyên là hàng binh của Lý Đảm. Sau đó ba tướng đem quân về Hoa lâm.

Hiện quân của Thoát Hoan, A Lý Hải Nha, Đô Ngột Nhi đang chong mặt đánh nhau với Đô Nhĩ Kha, Trung Thành vương. Chiến cuộc có lẽ kéo dài. Vì quân của Nguyên đông gấp đôi, nhưng là quân tân mộ, trong khi quân của Bắc Liêu tuy ít nhưng là kị binh gốc Mông cổ thiện chiến.

Hành Sơn vương ban lệnh cho Địa Lô:

Nếu Thoát Hoan, A Lý Hải Nha bại trận thì Hốt Tất Liệt sẽ thân chinh. Cần đánh cầm chừng. Trường hợp Hốt Tất Liệt thân chinh, y sẽ vét hết quân các nơi về quyết chiến, Đại đô bỏ trống. Bắc Liêu quân ít, thế cô, không phải là đối thủ của Đại Nguyên, cần hợp binh với Hoài Đô đánh úp Đại đô. Cái thế của Bắc Liêu không cần thắng, mà cần kéo dài cuộc chiến, để tiêu hao lực lượng của Bắc Liêu, Đại Nguyên, mục đích không cho Đại Nguyên đem quân của Bắc Liêu cứu Vân nam, Tây tạng.

Ta hợp quân của Hoài Đô, Vũ Cao San, Trần Mạnh Quốc và bọn A Mít Lỗ Tề đánh Đại đô.

Đã gửi thư cho Vũ Cao San, Trần Mạnh Quốc, để hai người này đem hai vạn kị binh thống thuộc chuẩn bị sẵn, nếu Hốt Tất Liệt thân chinh, thì thình lình kéo về giúp Hoài Đô đánh chiếm Khai bình. Còn Địa Lô phải khuyên Trung Thành vương sau khi đánh Khai bình thì hợp với Hoài Đô, Vũ Cao San, Trần Mạnh Quốc đánh úp Đại đô.

Giữa lúc những tin tức không hay dồn dập gửi về thì có Tuyên thái phi dẫn công chúa An Tư cùng sứ giả từ Đại Việt sang báo hung tin: Thượng hoàng băng hà.

Hành Sơn vương chết lặng đi một lúc rồi mới hỏi thăm chi tiết. Sứ giả khải:

– Thượng hoàng biết trước ngày người băng hà. Người không muốn dùng chữ băng hà mà muốn dùng chữ viên tịch. Người có để di chúc lại cho vương gia và vương phi.

Hành Sơn vương, vương phi mặc triều phục, quỳ gối quay mặt về nam, rồi mở trục lụa ra đọc. Vương phi nhận ra bút tự của phụ hoàng vẫn mềm mại:

Tiếc quá, ta ra đi mà chưa được ôm bé Quốc Toản. Ta xem số Tử vi của Quốc Toản, thấy đây là một đấng anh hùng tài trí phi thường hơn cả Duy nhi.

Về việc hai con tổng trấn Trường sa, ta biết trước sau gì thì Tống cũng bị Nguyên chiếm. Đó là mệnh trời, nếu các con cố chống trả dù thắng một vài trận rồi, rồi Tống cũng mất, mà số người chết sẽ nhiều lắm.

Ý dân là ý trời, không thể cưỡng lại được. Vậy các con hãy xét xem lòng dân thế nào? Nếu thấy lòng dân thuận theo Nguyên thì bỏ Kinh nam về Đại Việt. Ta không nên phí công vô ích. Tuy nhiên với chính sách hà khắc của Nguyên thì chỉ mấy năm sau dân bất phục triều Nguyên thì bấy giờ con ẩn vào dân, khích động họ cùng cầm vũ khí khôi phục Trung nguyên, không cho Nguyên yên ổn cai trị. Như vậy thì Nguyên có đánh mình, đường tiếp tế luôn bị đe dọa, riết rồi chúng phải nản lòng mà buông cái mộng cai trị mình.

Vương phi cảm thấy đau quặn trong lòng. Vì trong hơn 30 con dâu, phi được Thượng hoàng sủng ái nhất, trọng dụng nhất. Ngày cùng vương lên đường phi đã nghĩ đến lúc người băng hà, mà phi không hiện diện để nhìn long thể lần cuối.

Tuyên thái phi thuật cho vương, vương phi nghe hành trạng của Thượng hoàng những ngày cuối rồi kết luận:

– Người ra đi nhẹ nhàng, không mệt mỏi, không đau đớn. Người luôn nhắc đến công trạng của hai con.

Vương phi Ý Ninh ngắm nhìn công chúa An Tư: mới mấy năm mà đã lớn thành một thiếu nữ nhan sắc mặn mà. Phi hỏi:

– Em đã luyện võ tới đâu rồi?

– Sư phụ dốc túi truyền cho em tất cả những gì người có. Còn về văn thì các Kinh diên quan thay nhau dậy em.

Tuyên Thái phi nói:

– An Tư cực thông minh. Sách nào cũng chỉ liếc qua là hiểu hết lẽ uyên thâm. Em nói được tiếng Mông cổ, tiếng Hán và cả tiếng Chàm.

Quốc Toản đã 8 tuổi. Bắt đầu từ năm 5 tuổi, Hầu được thụ hưởng một chương trình giáo dục cực kỳ nghiêm khắc. Bẩm tính thông minh, không thích chạy nhảy nô đùa như các bạn cùng lứa tuổi trong thành Trường sa. Ngoài thời gian học ở trường trong trấn, vương phi dạy văn, dạy quốc sử cho con. Vương đích thân luyện võ. Thúy Hồng dậy kinh điển nhà Phật.

Suốt từ khi biết nghe, biết nói, Hầu luôn được cha mẹ nhắc đến ông nội, bà nội như những vị phúc thần. Bây giờ Hầu mới được hưởng tình yêu nhân luân bà cháu. Suốt ngày ngoài giờ học, Hầu quanh quẩn bên bà nội, chơi đùa với cô An Tư, các con của Dã Tượng, Yết Kiêu, Cao Mang và đám bốn con của vị cựu tổng trấn Triệu Phương. So vai vế, Triệu Phương là chú của Hàm Thuần hoàng đế. Khi Phương hoăng, nhà vua phong cho ông tước Kinh Nam đại vương. Ba con trai của ông là Triệu Nhất, Triệu Trung, Triệu Hòa đều được phong hàm Thái bảo, tước Quốc công. Con gái Triệu Ngọc Hoa được phong Tương giang Nhu mẫn công chúa.

Quốc Toản nhỏ tuổi hơn ba anh em họ Triệu, cùng tuổi với Ngọc Hoa. Hai thiếu niên cùng tuổi, cùng học với nhau, thân thiết với nhau ngay từ buổi mới gặp nhau. Ngọc Hoa có cái tự hào cha là Kinh nam vương, cựu tổng trấn, tước công chúa. Quốc Toản có tự kiêu ông nội là Thượng hoàng, bố là đại vương đang nắm trọng trách. Cả hai cùng tỏ ra nhường nhịn nhau, vì tự hào gia thế. Có một điều mà bốn anh em họ Triệu không bằng Quốc Toản là võ công Quốc Toản cao thâm hơn nhiều. Bốn anh em họ Triệu luyện võ với gia sư thuộc phái Hoa sơn. Còn Quốc Toản luyện võ với chính cha mình võ công Đông a.

Một lần Hầu được Thúy Hồng giảng về Thiền học. Thúy Hồng nói:

– Thiền học với Thiền công là một. Thiền đặt yếu chỉ từ kinh Kim cương, Lăng già, Bát nhã ba la mật. Thiền công do chính Phật tổ Như Lai tìm ra. Trong thời gian ngồi dưới gốc cây Bồ đề, có không biết bao nhiêu ma chướng, quỷ chướng hiện ra phá phách. Ngài đã dùng Thiền chế chỉ tâm thần, vượt qua, rồi đắc quả Vô thượng chính đẳng chính giác.

– Con nghe bố giảng:

“Yếu chỉ của Thiền có bốn loại:
– Vô ngã tướng,
– Vô nhân tướng,
– Vô chúng sinh tướng,
– Vô thọ giả tướng.
Vô ngã tướng thiền công tuyệt tích từ khi Bồ tát Minh Không vân du rồi không biết viên tịch bao giờ.

– Đúng vậy.

Hầu hỏi:

– Con nghe nói khi xử dụng Vô ngã tướng thiền công đấu với ai, thì hút hết công lực của đối thủ. Như vậy có ác quá không?

Thúy Hồng xoa đầu Hầu:

– Vô ngã tướng thiền công thuộc loại thần công tối cao nhà Phật. Nó tổng hợp của Vô nhân tướng của Thiếu-lâm, Tiêu-sơn, Vô chúng sinh tướng của Tây-tạng, Vô thọ giả tướng của Tây-hạ và Đại-lý. Con đừng sợ xử dụng Vô-ngã tướng thần công hút công lực người là ác độc. Con nhớ thần công này vốn xuất phát từ đức Thích-ca Mâu-ni, sau truyền cho Bồ-tát Ma-ha Ca-Diếp thì làm gì có truyện ác độc?

Hầu chợt hiểu ra:

– Con hiểu rồi. Để con nói xem có đúng không nghe. Lỡ có sai, cô dạy dỗ cho. Các loại Thiền-công đều phát xuất từ nhà Phật. Cho nên căn bản là nhân từ, chỉ hóa giải những gì người ta đánh mình.

– Đúng.

– Thiền-công Vô nhân tướng truyền cho Thiếu-lâm ở trong trường hợp này. Nghĩa là người ta đánh mình, mình đỡ.

– Đúng nữa.

– Thiền công Vô nhân tướng truyền cho Tiêu-sơn không hoàn toàn theo Kinh Kim-cương mà theo Lăng-già, Tịnh-đầu, nên trong cái hóa giải có phần sát thủ. Người ta đánh, mình đỡ. Trong cái đỡ có phần phản kích.

– Đúng hoàn toàn.

– Thiền-công Tiêu-sơn truyền sang phái Đông-a, tổ Trần Tự-Viễn biến đổi đi, dùng cái sức người đánh mình, quay trở lại đánh người, lại thêm vào lực giải ma chướng của kinh Thủ-lăng-nghiêm bao gồm phong lôi, thủy hỏa, vân vũ, nhật nguyệt, thổ mộc. Cho nên sát thủ kinh người, rất khó hóa giải.

– Giỏi. Cháu thông minh thực, nhớ hết những gì bố dạy. Thiền công Vô chúng sinh tướng hơi giống Thiền công Vô nhân tướng. Có điều nó phức tạp hơn. Vô nhân tướng thì lực phát ra đơn thuần. Toàn thân chỉ có một lực đạo. Còn Vô chúng sinh tướng có thể chia người ra làm nhiều khu khác nhau. Như bị đối phương đánh, vận khí ra vai, chịu đòn, hóa giải lực đối phương. Trong khi tay phải, tay trái cũng có thể phát ra lực đạo khác nhau tấn công, phản kích và hóa giải ngoại lực.

Thúy Hồng ngừng lại hỏi:

– Khi cháu hiểu biết được như vậy là đi vào hạnh đại giác rồi đó. Vậy còn Vô-thọ giả tướng?

– Thiền công Vô thọ giả tướng lại khác. Đối thủ đánh mình, cơ thể mình thu nhận chân khí vào người, rồi truyền xuống đất, làm biến đi. Hoặc giả người này đánh mình. Mình chuyển lực đó sang giúp người khác, hoặc đánh người khác.

– Đúng như thế. Thiền-công Vô ngã tướng bao gồm uy lực của cả ba loại trên. Nó có thể hóa giải lực đạo đối phương đánh. Nó cũng có thể chia người thành nhiều lực khác nhau. Chỗ hóa giải, chỗ phản công, chỗ nghinh lực, chân tay chia thành nhiều lực đạo khác nhau. Mình cũng có thể thu nhận chân khí đối thủ vào cơ thể chuyển ngược lại đánh đối thủ. Chuyển sang giúp người khác và chuyển xuống đất.

Thúy Hồng lắc đầu cười:

– Như vậy Thiền công Vô ngã tướng đâu có đáng kể là hung ác? Cái hung ác là khi đối thủ đánh mình. Bao nhiêu lực đánh ra mình thu vào người hết làm của mình. Nó nhân từ ở chỗ đối thủ đánh mình mới bị mất. Còn không đánh mình lại không sao. Lực đối thủ đánh mình, mình thu mất, người đối thủ trở thành trống rỗng, tê liệt, phải tập luyện ít nhất nửa tháng mới phục hồi được.

(Còn tiếp Hồi 91)

Share this post