Anh Hùng Đông A – Gươm Thiêng Hàm Tử (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 92

Anh Hùng Đông A – Gươm Thiêng Hàm Tử (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 92

ANH HÙNG ĐÔNG A – GƯƠM THIÊNG HÀM TỬ
* Tiểu Thuyết Lịch Sử
* Tác giả: Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ
* Nguồn: Blog Trần Đại Sỹ (https://trandaisy.wordpress.com)

* Để đọc những phần đã đăng, xin vào khung Search this site (Tìm Kiếm) và gõ tên tác giả: Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ.

HỒI THỨ CHÍN MƯƠI HAI
Nhân sinh tự cổ thùy vô tử,
Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh. (Văn Thiên Tường)
(Người ta sinh ra ai mà không phải chết,
Hãy để lại tấc lòng son trong sử sách)

Hành Sơn vương không ngờ cô em mười hai tuổi của mình mà buột miệng đưa ra lý luận đanh thép bẻ gẫy lý của Thoát Hoan. Ngay từ khi ngồi đối thoại, Thoát Hoan thấy một thiếu nữ đẹp sắc sảo ngồi cạnh vương phi Ý Ninh, y cho rằng đây là con của phi. Y không quan tâm. Thình lình cô bé lên tiếng bẻ gẫy lý luận của mình bằng tiếng Hán vùng Lâm an rất chuẩn thì Thoát Hoan kinh ngạc:

– Cô nương đây là thế nào?

An Tư cười rất tươi:

– Tôi là một cô bé người Việt như hằng trăm cô bé khác. Tên tôi là Trần Diệu Tư, pháp danh Huyền An, nên thường gọi là An Tư.

An Tư tiếp:

– Thái tử ơi! Thái tử hãy về tâu với Hoàng đế Chí Nguyên rằng chính người gây ra cuộc chiến nồi da xáo thịt với Đại hãn A Lý Bất Ca, cướp đi sinh mạng của hơn 40 vạn quân. Họ đều là những trang nam nhi đầy sức sống. Khắp vùng Thảo nguyên nay lớp tuổi 20 đến 45 chỉ còn đàn bà. Bao nhiêu trai tráng đã vì cái tham vọng của người mà chết sạch. Đức nhân của người là thế đó sao? Mấy chục vạn quân của Lý Đảm, mấy chục vạn quân của Tháp Sát Nhi phơi thây tại Khai bình. Đức nhân của người là thế đó sao? Ngươi xua quân đánh Tống. Mấy chục vạn quân, dân Tống đều vì tham vọng của người mà xương cùng thịt chất như núi. Đức nhân của người là thế đó sao? Xin Thái tử trả lời cho tôi nghe đã rồi hãy hỏi đức nhân của anh tôi.

Thoát Hoan reo lên:

– Thì ra cô nương là công chúa Đại Việt đấy.

– Đúng vậy! Anh Nhật Duy là con cả của phụ hoàng. Tôi là con út.

– Thực là con giòng cháu giống. Công chúa còn nhỏ tuổi mà kiến thức vượt xa chúng nhân. Nhưng thưa công chúa, vạn nhất chúng tôi phải đem quân từ đông sang tây, rồi vượt sông đánh Trường sa, thì kết quả ra sao công chúa đã biết trước rồi vậy.

Y cười:

– Công chúa là tiên nữ giáng trần, sắc đẹp e Hằng Nga, Tây Thi, không thể sánh. Chắc tôi phải xin phụ hoàng gửi sứ sang An nam cầu hôn, rồi đặt vào ngôi vị chánh phi.

An Tư cười khúc khích:

– Cảm ơn Thái tử đã khen. Về việc Tống, Nguyên thì đánh là quyền của Hoàng đế Chí Nguyên. Chống trả là quyền của chúng tôi. Như Thái tử nói: chúng tôi có 4 hiệu binh ọp ẹp thì chống sao nổi với 20 vạn kị binh như hùm như hổ của Đại Nguyên. Nhưng thưa Thái tử, Thái tử nên về hỏi lại Ngột Lương Hơp Thai, A Truật xem những trận đánh Thảo lâm, Phù lỗ, Đông bộ đầu ra sao đã. Hay gần đây, Thái tử hỏi Xích Nhân Thiết Mộc Nhi, Mục Tương Ca về trận Trường thảo, Bồ lăng, Điếu ngư thế nào, rồi hãy ra binh.

Nàng chỉ vào Dã Tượng:

– Vị tướng quân này đang chờ Thái tử xuất trận, rồi ném đá nữa đấy.

Thoát Hoan nói lớn:

– Cô gia sang đây để nói truyện với Hành Sơn vương, chứ không phải để nói truyện với giai nhân.

Y nói với Hành Sơn vương:

– Xin vương gia dạy cho ít lời.

Vương phi Ý Ninh nói với Bạch Liên:

– Đại giá Nguyên phi tới đây đã nói lên rằng Hoàng đế Chí Nguyên coi trọng chúng tôi. Xin phi về tâu với ngài rằng: chúng tôi cần thượng biểu về triều xin ý kiến của Đại Việt Hoàng đế, rồi sẽ sai sứ sang sông phúc đáp Thái tử.

Bạch Liên nói với Ý Ninh:

– Tôi cần ra sau một chút.

Phi nói tiếng Hán. Nhưng từ “ra sau”, tiếng Mông cổ có nghĩa như đi cầu. Ý Ninh đứng lên:

– Thần xin dẫn đường cho phi.

Hai người rời phòng họp ra sau. Tới nhà cầu, nhìn kỹ xung quanh không có ai, Bạch Liên trao cho Ý Ninh một ống bạc nhỏ, dặn:

– Đây là bút tích của hai tên thân vương Vuông và Tròn. Chúng gửi thư về cho Hốt Tất Liệt. Suốt mấy năm qua, em sợ hai tên này nhiều khi không biết mình là ai nữa. Phải vượt qua trăm nghìn khó khăn, em mới lấy được bút tích của chúng. Anh chị gửi về nước, truy bút tích, tìm ra danh tính hai tên này. Phải giết hai tên bán nước khốn nạn, bằng không em với Hồng Nga sẽ mất mạng đấy.

Phi lại trao cho Ý Ninh một ống khác:

– Trong này có tin tức về việc Nguyên định đánh Đại Việt. Em với mấy con bé Ngọc sưu tầm đầy đủ. Chị phải cáo cho Đại Việt ngay.

Hai người trở lại phòng họp.

Sứ đoàn về rồi, Ý Ninh mời Hành Sơn vương vào phòng ngủ, đóng cửa lại, nói với vương:

– Chị Bạch Liên đã tìm ra bút tích hai tên khả ố Vuông, Tròn, trao cho mình đây.

Phi mở nắp ống bạc, trong có hai tấm lụa khác nhau. Một tấm mầu vàng lợt. Một tấm mầu hồng. Vương mở ra. Hai tấm lụa viết chằng chịt đầy chữ. Nội dung tấm mầu vàng nói đại cương về chính sự Đại Việt, ghi chú chức vụ, tên tuổi, tài năng các đại thần Việt, những bí mật trong cung cách tiếp sứ Nguyên. Tuy nhiên không có nhiều chi tiết nguy hiểm. Vương quan sát nét chữ rồi nói:

– Tên này học thức không làm bao, vì văn phong khô khan, báo cáo sự việc hỗn loạn. Dường như y không giữ chức vụ gì quan trọng, nên y báo cho Mông cổ những điều bình thường.

Vương mở tấm lụa mầu hồng ra, bất giác vương, vương phi cùng bật lên tiếng khen, vì nét chữ như rồng bay phượng múa. Đọc nội dung tờ tâu trình văn phong rất rõ ràng, thứ lớp, từng việc, từng vụ rất đầy đủ. Nội dung nói về tổ chức phòng thủ mặt biển, cũng như các đồn ở biên giới Việt, Hoa.

Vương than:

– Thằng cha này có học, có văn tài. Y lại giữ chức vụ quan trọng, nên biết rõ đồn trú, phòng thủ của mình. Đây chỉ là hai tờ thư ngắn. Có lẽ hai tên này đã gửi hàng trăm tờ thư khác. Ta cần gửi hai tấm lụa này về cho Bảo Phù hoàng đế. Người sẽ truy tìm xem nét chữ của ai, thì nảy ra đứa nào là tên Vương, Tròn.

– Em nghĩ mình không thể gửi theo chim ưng về, sợ đi đường gặp mưa, sẽ nhòe hết chữ. Có lẽ chính anh hay em phải cầm về trao tận tay chú Hoảng.

– Được. Em chịu khó lên đường về nước một phen.

Phi mở ống bạc ra, trong ống có đến 6 tờ giấy, chằng chịt những chữ. Phi nhận ra nét chữ của Đại Hành:

Dù chưa dứt được Tống triều. Bọn Trung thư tỉnh với Hốt Tất Liệt đã bàn việc chinh phục 16 nước nhỏ ở ngoài biển và các nước phương nam. Trung thư tỉnh họp tất cả những văn võ đại thần bàn việc đánh 16 nước này. Trong 16 nước, có cả Đại Việt. Một số đại thần đã nghiên cứu rất kỹ về Đại Việt. Chúng đưa ra nhận xét:

– An nam là nơi rồng nằm, hổ phục. Dân Việt có truyền thống là khi Trung nguyên đem quân sang đánh thì từ vua tới dân cùng nhất nhất bỏ hết tỵ hiềm giữ nước. Cho nên các triều đại trước khi đánh An nam phải hội đủ bằng này điều kiện:

1– An nam là nước lam chướng cực kỳ độc. Một là quân ra đi phải có đủ thầy thuốc trị lam chướng.

2– Hai là phải có bọn gian trong nước làm nội ứng. Thường các tiền triều tuyển càng nhiều bọn vô tư cách, vô tài, bất tướng càng tốt, rồi phong chức tước cho chúng, để chúng làm nội ứng. Thời Hán, Quang Vũ dùng bọn Lê Đạo Sinh mà thắng Trưng Trắc. Cuối thời Đông Hán, dùng Cù thị mà thắng Lữ Gia. Thời Nam Hán dùng bọn Kiều Công Tiễn mà chống Ngô Quyền. Thời Tống dùng bọn Nguyễn Bặc chống lại Lê Hoàn. Vừa rồi Ngột Lương Hợp Thai cậy mạnh đem quân tràn vào Thăng long mà bị phá. Nay ta đã có tới hai thân vương họ Trần đã viết nhiều thư mong ta mang quân sang, chúng sẽ làm nội ứng, để được phong làm An nam quốc vương. Đây là dịp bằng vàng. Ta không thể bỏ qua.

3– Ba là ta phải sai nước Chiêm đem quân đánh vào phía Nam. Trong khi ta đem quân đánh từ Bắc. Đầu đuôi chúng bị đánh như vậy mới dễ thành công. Hiện vua tôi An nam với Chiêm thành rất hòa thuận. Bằng mọi giá phải chiêu dụ Chiêm thành. Nếu chiêu dụ không được thì đánh chiếm, rồi đổ quân vào Chiêm đánh lên phía Bắc.

4– Bốn là người Việt rất giỏi thủy tính. Trong lịch sử, tất cả những lần Trung nguyên giao chiến bằng thủy quân cũng bị An nam đánh bại. Vậy cần huy động thủy quân, đóng chiến thuyền, có hạm đội hùng hậu để đương với thủy quân An nam.

5– Năm là võ học An nam rất thịnh. Cần phải tuyển mộ các võ học danh gia, xung vào làm bách phu, thiên phu trưởng, mới mong đương nổi với quân Việt.

6– Sáu là phải sai sứ sang chiêu dụ bọn người Hoa ở An nam. Bọn người Hoa ở An nam rất phức tạp. Chúng sang An nam vào nhiều thời khác nhau. Mỗi nơi chúng đều lập những bang hội. Để chúng làm nội ứng khi ta đem quân sang, điều này không khó, chỉ cần sứ mang theo những bằng để trống tên. Khi một bang trưởng Hoa kiều nào theo thì điền tên vào. Khi quân ta chiếm được vùng nào thì trao những chức quan cai trị cho chúng.

7– Bẩy là An nam không có những thành trì kiên cố. Khi quân đến đâu thì chúng rút ẩn vào dân chúng, rồi thừa cơ sơ hở đánh vào hậu quân. Cho nên các tướng cần tiến từ từ. Không nên tiến mau, mà để sau lưng không phòng vệ, rồi bị đánh úp.

Hốt Tất Liệt ban chỉ thành lập Trung thư hành tỉnh Chiêm thành (Bộ tư lệnh chiến dịch) gồm:

– Nguyên soái Toa Đô làm Hữu thừa,
– Phó nguyên soái Lưu Thâm làm tả thừa,
– Binh bộ thị lang Diệc Hắc Mê Thất (Yigmia) làm Tham tri chính sự.

Ngay ngày hôm sau Hốt Tất Liệt điều động đặt trực thuộc Chiêm thành hành tỉnh một lực lượng:

– 100 chiến thuyền lớn loại đi biển.
– 10.000 chiến mã.
– Một vạn thủy thủ.

Rồi sai sứ sang Chiêm thành yêu sách Chiêm vương phải cung ứng lương thảo, cấp người chăn ngựa, cung phụng cho đội quân này. Khi nào Hành tỉnh Chiêm thành đặt xong nền móng cai trị thì đem quân lên Nam giới của Đại việt. Bấy giờ Hốt Tất Liệt mới cho quân đánh vào bắc cương của mình“.

Vương kinh hoàng, vội chuyển tin tức về Đại Việt.

Hơn nửa tháng sau, có thư của Yết Kiêu gửi từ Lâm an về:

Khải vương gia,

Tất cả đại cuộc đều tan nát hết rồi! Quân Nguyên theo ba đường kéo về Lâm an. Chí Nguyên gửi sứ vào thành chiêu hàng. Sứ hứa nếu triều đình đầu hàng sẽ được bảo đảm tính mạng trên từ hoàng đế xuống tới binh sĩ. Còn chống lại, thì khi quân Nguyên sẽ tàn sát đến con gà, con chó cũng không sống sót. Đức Hựu hoàng đế cùng Thái hậu họp quần thần ở điện Trường hy để bàn kế đối phó. Các quan đều quyết định đầu hàng. Thế là hôm sau, trên là Hoàng đế, Thái hậu, Tể tướng đến các quan, thân bưng ấn tín ra ngoài thành đầu hàng. Quân Nguyên kỷ luật rất nghiêm, vào thành tiếp quản cung điện, kho lẫm, bảo vật, sách vở, tranh vẽ đem về Đại đô (1276).

Tướng Nguyên là Bá Nhan, A Truật, Trương Hoằng Phạm sai một vạn phu giải nhà vua, thái hậu, về Đại đô an trí. Đối với các đại thần, ai không muốn làm quan với Nguyên thì cho về quê sinh sống; tài sản, ruộng đất vẫn giữ nguyên. Quá nửa đại thần từ quan. Trong đó có Văn Thiên Tường.

Nguyên công bố 5 điều:

– Bỏ hết luật pháp Tống,
– Thả hết tù dù thành án hay chưa,
– Áp dụng luật Mông cổ,
– Tha thuế một năm, tha tất cả thuế cho dân còn nợ.
– Tất cả chức quan cấp nhỏ của châu, huyện giữ nguyên.

Họ còn bắt các hàng thần dẫn quan Nguyên đến những vùng do quan, quân Tống còn cai trị chiêu hàng.

Chí Nguyên từng nghe danh Văn Thiên Tường, sai sứ triệu hồi ông về Đại đô. Khi đi đến Trấn giang, ông trốn thoát. Ông trở về Cảng châu (Giang tây) cùng với quân trú phòng tại đây kéo cao cờ cần vương. Ông sai sứ đến Phúc châu khuyên Ích vương Triệu Thi lên ngôi vua. Ích vương nghe lời ông được Trương Thế Kiệt, Lục Tú Phu phò tá, lập triều đình mới xưng hiệu là Cảnh Viêm (1276). Cảnh Viêm phong cho Văn Thiên Tường chức Tả thừa tướng, kiêm đại đô đốc. Văn gửi hịch tới các vùng quan quân Tống còn kiểm soát cùng hô hào cần vương đánh nhau với Nguyên (*)

Có tin gì thần sẽ báo sau“.

* Ghi chú: Năm sau (1277) Cảnh Viêm băng, được tôn miếu hiệu là Đoan Tông. Ông vua này không thọ, lên ngôi được một năm thì băng hà. Sử còn ghi lại bài hịch cần vương của ông. Đây là một áng văn khích động lòng yêu nước của tộc Hán. Văn học sử Trung quốc nói rằng bài hịch này do Văn Thiên Tường soạn, “quỷ thần đọc cũng phải khóc”.

Hành Sơn vương họp tất cả văn võ quan tòa Tổng trấn Trường sa, các tướng chỉ huy 6 hiệu binh Văn bắc, Thiệu hưng, Động đình, Tương giang, Trấn nam, Quảng châu; thông báo tình hình Tống cho họ biết. Rồi hỏi ý kiến:

– Chúng ta có ba con đường đi. Một là chịu nhục đầu hàng như triều đình để an thân, gia đình, tài sản được tồn tại. Nhưng khí phách, tam cương, ngũ thường không còn. Hai là, chúng ta chiến đấu đến cùng. Trận chiến sẽ ác liệt. Cuối cùng ta bị bại. Thành lũy tan hoang, dân chúng bị giết sạch. Thân xác phơi nắng, phơi mưa, vợ con bị tàn sát, tài sản bị cướp. Nhưng thỏa chí nam nhi. Giữ được lòng trung với đất nước. Thứ ba là chịu sáu điều, quy phục Nguyên triều như các nước Đại lý, Tây tạng. Rồi Nguyên sẽ gửi sang một thân vương làm vua vùng này như Tây hạ, như Tây tạng, như Hồi cương.

Hầu hết các văn quan đều chấp nhận đầu hàng. Họ lý luận:

– Thái hậu, nhà vua, dĩ chí đại thần quyết định bỏ chúng ta bơ vơ, bỏ dân chúng, bỏ lăng miếu tổ tiên, khuất thân hàng giặc vì biết rằng: chống cũng không giữ nổi xã tắc, thì đầu hàng để được an thân. Vậy chúng ta trung thành với ai đây? Chiến đấu cho ai đây? Chúng ta hàng là hàng Nguyên triều chứ không hàng rợ Thát đát. Trong triều Nguyên cứ trăm người mới có một người Mông cổ. Mông cổ bây giờ là phiên thần của Nguyên. Chúng ta hãy mở to mắt nhìn về phương bắc, nhìn về những vùng Nguyên cai trị: không giặc cướp, quan lại thanh liêm, dân chúng ấm no hơn hồi do Tống cai trị. Thôi thì chúng ta hãy khuất thân đầu hàng để dân chúng được toàn vẹn, vợ con được toàn vẹn, bản thân được trọng dụng.

Một số võ quan gốc Tống lý luận:

– Triều đình hàng là việc của triều đình. Chúng ta là con cháu vua Phục Hy, Thần Nông, Hoàng Đế. Chúng ta có văn minh Hoa hạ. Chúng ta không thể chiu nhục quỳ gối trước bọn rợ Hung nô tàn ác. Hiện các đại thần Trương Thế Kiệt, Lục Tú Phu, Văn Thiên Tường đang phò hoàng đế Cảnh Viêm, hô hào cần vương chống Thát đát. Chúng ta quyết giữ đất, giữ thành, từ từ khôi phục lại các vùng đã mất.

Hành Sơn vương quyết định:

– Ý dân là ý trời. Bây giờ các quan trở về nhiệm sở, dò la ý dân ra sao? Nếu họ muốn hàng, thì ta có chiến đấu cũng vô ích. Còn như họ quyết chống giặc, thì ta sẽ hô hào cần vương. Trong một tháng nữa cô gia sẽ họp quý vị, rồi chúng ta cùng hành sự.

Buổi họp giải tán.

Có sứ giả của thừa tướng Văn Thiên Tường tới.

Lễ nghi tất.

Sứ giả nói:

– Triều đình sai tôi báo tang đến vương gia. Cảnh Viêm hoàng đế băng, miếu hiệu là Đoan Tông. Triều thần tôn Vệ vương mới 7 tuổi lên ngôi, hiệu là Tường Hưng. Thừa tướng Lục Tú Phu phụ chính. Văn thừa tướng được phong Thiếu bảo, Tín quốc công, coi toàn bộ binh quyền. Văn Thừa tướng đang cầm quân đánh với Nguyên ở Ôn châu, Thanh điền. Thừa tướng xin vương gia điều ba hiệu binh Tương giang, Trấn nam, Quảng châu tới tiếp viện.

Vương hỏi tình hình tân triều đình. Sứ giả khải:

– Các quan văn võ đều hết lòng trung quyết chiến. Nhưng dân chúng thờ ơ. Vì họ phải nộp lương, phải cho con em nhập ngũ. Hầu hết họ muốn đầu hàng Nguyên để con em không bị chết, để làng xóm không bị đốt phá, không bị giết.

Vương làm lệnh, sai mang đến các tướng thống lĩnh ba hiệu binh Tương giang, Trấn nam, Quảng châu ngay.

Biến cố dồn dập đến, làm cho vương, vương phi mề mệt. Hôm sau vương họp riêng các tướng Việt. Buổi họp vừa bắt đầu thì thân binh báo:

– Có một con thuyền chở khoảng 30 người vừa vượt hồ Động đình cập bến. Họ xưng là Trần Tử An, Nguyễn Địa Lô xin cầu kiến.

Vương truyền Dã Tượng, Thúy Hồng ra ngoài thành đón vào. Thị vệ phải dùng cáng, cáng Trung Thành vương, Địa Lô, Hồng Liên cùng mấy chục người. Tất cả đều bơ phờ, cử chỉ uể oải, tư thái bạc nhược. Trung Thành vương nói:

– Chúng ta trải muôn nghìn nguy nan, mới thoát thân về đây.

Ý Ninh truyền thị nữ đưa mọi người vào hậu đường an nghỉ, tắm rửa, nghĩ dưỡng sức.

Địa Lô cầm bút viết một phương thuốc: Phục linh 3 tiền, Cam thảo 1 tiền rưỡi, Bạch truật 3 tiền, Nhân sâm 3 tiền; trao cho quân y sĩ. Sắc lên mỗi người một thang.

Thuốc rất hiệu nghiệm, chiều hôm đó mọi người đều hết mệt, ăn uống khỏe, thần thái tốt. Trung Thành vương thuật:

– Trung nguyên loạn lạc suốt hai trăm năm qua. Bây giờ mới tạm yên được mấy năm. Nông nghiệp, chăn nuôi phục hồi. Dân chúng sống ấm no. Họ sợ chinh chiến lắm rồi. Chính sách của Hốt Tất Liệt chiêu hàng rất hiệu nghiệm. Vì vậy quân Nguyên đi đến đâu các văn quan võ tướng đều sẵn sàng đầu hàng để tính mệnh bản thân, gia đình, làng xóm không bị tàn hại. Nhất là việc Hốt Tất Liệt dùng Hán pháp, dùng các quan người Hán. Người Hán không có cảm tưởng mất nước. Họ coi Nguyên như triều Hán, triều Đường.

Địa Lô tiếp:

– Tháp Sát Nhi cai trị Bắc Liêu như Thành Cát Tư Hãn cai trị Mông cổ nên dân Hán, Kim, Liêu coi như họ bị ngoại bang cai trị. Hơn nữa quân của Tháp Sát Nhi là quân Mông cổ chính tông. Họ đóng ở Bắc Liêu, mà lòng vẫn nhớ quê hương là Thảo nguyên. Vì vậy họ đầu hàng Nguyên dễ dàng. Cả 15 vạn phu trưởng đều đã được Nguyên âm thầm sai sứ chiêu hàng từ lâu. Nay họ được dịp trở về với Mông cổ. Vì vậy Bắc Liêu mất rất mau.

Hồng Liên thuật:

– Đang đêm 5 vạn phu theo Đô Ngột Nhi thình lình về chiếm Thẩm dương. Bọn thị vệ quá ít chống không lại. Vợ của Đô Ngột Nhi nghĩ tình tôi từng tuyển thị làm dâu, lại từng hòa hợp với tôi, nên thị không cho hại tôi. Thị sai thị vệ hộ tống tôi rời khỏi Thẩm dương. Tôi dùng chim ưng liên lạc với Đại Hành. Đại Hành mật sai thị vệ Đại đô đi đón tôi. Tới Đại đô tôi gặp bố Tử An. Bạch Liên dùng thẻ miễn tử xin Hốt Tất Liệt ân xá. Hốt Tất Liệt nghĩ đến công lao của bố Tử An, của tôi hồi theo Tháp Sát Nhi đánh Tương dương, Phàn thành nên sai thị vệ hộ tống ra biển, dùng thuyền về Đại Việt. Còn Địa Lô thì chạy sang Cao ly. Hoàng hậu Như Lan cấp thuyền cho Lô về nước. Khi thuyền Lô đang lênh đênh trên biển thì gặp thuyền của tôi với bố Tử An. Dọc đường chúng tôi kiệt lực, không thể tiếp tục về nước. Cả ba quyết định ngược sông về đây gặp vương gia, vương phi dưỡng sức.

Có sứ của Đại Việt tới. Sứ khải:

– Mùa Đông tháng 10, ngày 22 niên hiệu Bảo Phù thứ 6, Hoàng thượng nhường ngôi cho Thái tử Khâm. Thái tử Khâm lên ngôi, hiệu là Hiếu Hoàng.

Tôn Thượng hoàng là:

Quang Nghiêu Từ Hiếu Thái Thượng Hoàng Đế.

Tôn Thiên Cảm hoàng hậu làm:

Nguyên Thánh Thiên Cảm Hoàng Thái Hậu.

Triều thần tôn Hoàng đế làm:

Pháp Thiên, Ngự Cực, Anh Liệt, Vũ Thánh, Minh Nhân Hoàng Đế.

Lập con gái Hưng Đạo vương làm Khâm Từ hoàng hậu.

* Ghi chú: Sau này Hiếu Hoàng băng, miếu hiệu là Nhân tông. Thiền sử chép, sau hai lần phá quân Nguyên, nhà vua truyền ngôi cho con, rồi lên Yên tử tu, đắc quả Bồ Tát.

– Thượng hoàng có mật chỉ cho vương gia. Đây là lời nói của anh em trong nhà. Vương gia không cần xử dụng lễ nghi.

Nói rồi sứ đưa ra một cái ống tre. Vương mở ống tre ra, bên trong có một trục lụa, nhận ra đúng là bút tích nhà vua. Vương đọc:

Khu mật viện nhận được đầy đủ tin tức của Nguyên, của Tống do anh chị gửi về. Những biến chuyển của Bắc liêu, của Mông cổ, của Nãi man, của Cao ly đều thuận tiện cho Nguyên triều. Tống triều hiện như ngọn đèn trước gió. Nguyên triều dàn đại quân đối diện với Trường sa, đóng chiến thuyền, nhưng không vượt sông đánh, vì họ biết đánh sẽ thắng, nhưng tổn thất không nhỏ. Hơn nữa Kinh hồ bao gồm lưu vực sông Tương là nơi bờ xôi giếng mật. Nếu họ đánh, anh chị suất lĩnh dân chúng, quan lại, binh tướng chống trả. Họ có thắng chỉ chiếm được một vùng tiêu điều như bãi đất hoang.

Trong nước, triều đình vẫn dùng lời lẽ khiêm cung, hậu lễ để tránh chiến tranh. Vùng Kinh hồ tuy là đất cũ của ta, nhưng dân chúng toàn người Hán. Anh chị trấn nhậm, phủ dụ tài tình đến mấy thì họ cũng không chịu nhận là người Việt. Bây giờ để tránh chiến tranh, trong nước đã phải nhận Đạt lỗ hoa xích. Nhưng điều quốc nhục là phải đích thân vào chầu thì không bao giờ chịu nhận. Còn như chịu binh dịch, mình chối phắt, lấy cớ nước gần biển, đồng chua nước mặn, dân nghèo khổ, không thể cung ứng cho quân theo Nguyên viễn chinh.

Sau khi dứt Tống, chắc chắn Nguyên sẽ đánh ta. Mà đánh ta thì hậu quân phải đặt ở Kinh hồ.

Đối với Kinh hồ, anh chị phải giữ cho dân chúng toàn vẹn. Bởi chỉ cần Nguyên cai trị mấy năm, anh hùng hào kiệt sẽ nổi lên phục quốc. Những thế lực này là trở lực lớn của Nguyên. Họ sẽ đánh phía sau Nguyên cho ta.

Vậy anh chị cứ tự coi là một nước, quy phục Nguyên, chịu tất cả 6 điều họ đưa ra. Chính anh chị thân đến Đại đô chầu. Có thể Hốt Tất Liệt sẽ trao binh quyền cho anh chị, hay phong cho chức tước lớn. Anh chị cứ nhận, rồi tùy cơ hành xử.

(Còn tiếp – Hồi 92)

Share this post