Anh Hùng Đông A – Gươm Thiêng Hàm Tử (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 93 (Tiếp theo)

Anh Hùng Đông A – Gươm Thiêng Hàm Tử (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 93 (Tiếp theo)

ANH HÙNG ĐÔNG A – GƯƠM THIÊNG HÀM TỬ
* Tiểu Thuyết Lịch Sử
* Tác giả: Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ
* Nguồn: Blog Trần Đại Sỹ (https://trandaisy.wordpress.com)

* Để đọc những phần đã đăng, xin vào khung Search this site (Tìm Kiếm) và gõ tên tác giả: Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ.

HỒI THỨ CHÍN MƯƠI BA
Móng vuốt bọn mãi quốc
(Tiếp theo)

Bức tường đá hình tròn đường kính ước hơn 4 trượng, bên trong là một cái giếng sâu ước 5 trượng. Giếng không có nước. Bờ giếng bằng đá nhẵn bóng. Giữa giếng có tượng một con trâu, một người đàn ông, một người đàn bà và 10 người con trai.

Hai tên Thị vệ thả xuống cái thang bằng dây. Kiến Đao nhắc Quốc Toản lên, rồi theo thang dây xuống đáy. Y cởi trói cho hầu:

– Chủ nhân mỗ giam cậu vào đây, thì dù cậu có bản lãnh nghiêng trời lệch đất cũng không ra khỏi cái giếng này. Trừ khi cậu tìm được bộ Lĩnh Nam vũ kinh, rồi luyện thành công.

Thấy Kiến Đao không đề phòng, Quốc Toản vận công, phát chiêu Đông hải lưu phong đánh vào ngực y. Binh một tiếng, chưởng trúng ngực y. Y cười khà khà. Còn Quốc Toản cảm thấy trời long đất lở, tai phát ra tiếng vo vo không ngừng. Kiến Đao cười đểu:

– Cậu học được mấy cái múa mèo cào mà định đánh mỗ ư? Khó lắm. Nếu cậu thắng được mỗ, thì mỗ sẽ thả cậu ra ngay.

Biết bản lĩnh mình muôn ngàn lần không bằng đối thủ, Quốc Toản cãi:

– Ta mới 11 tuổi, thời gian luyện tập không làm bao thì đương nhiên võ công ta không bằng mi.

Kiến Đao chỉ vào ba thiếu niên đứng trên bờ giếng:

– Nếu mỗ đấu với cậu thì chẳng hóa ra lớn bắt nạt nhỏ ư? Thôi, trên kia mỗ có ba tên đệ tử. Một tên học sơ cấp, một tên học trung cấp, một tên học cao đẳng. Nếu như cậu có thể thắng được ba tên học trò này thì mỗ sẽ thả cậu ra. Tên chúng là Cả, Hai, Ba.

Y hướng lên gọi:

– Ba người xuống đây.

Ba thiếu niên theo thang dây xuống giếng. Kiến Đao chỉ vào tên nhỏ nhất:

– Thằng Ba. Mi hãy nói cho tên ôn con Tế tác Nguyên biết rằng bản lĩnh của y vô dụng.

Thằng Ba bái tổ, hành lễ rồi cười:

– Tên Nguyên kia! Chơi với ta một keo đi.

Quốc Toản nghĩ thầm:

– Ta đường đường là hầu tước! Ta không thể nói như bọn đầu đường xó chợ.

Hầu bái tổ rồi phát chiêu Phong ba hợp bích trong Đông a chưởng tấn công. Thằng Ba cũng phát chiêu chống lại. Bộp một tiếng, cả hai đều bật lui. Kiến Đao khen:

– Giỏi.

Thằng Ba lại phát chiêu tấn công. Hầu nhận ra đó là chiêu võ phái Sài sơn. Hầu trầm người xuống tránh rồi quét chân, thằng Ba ngã lộn đi một vòng. Hầu phi thân theo tung một cước vào mặt nó thì thằng Hai đã dùng một đòn chân tấn công vào ngực, đầu Hầu. Bắt buộc Hầu phải di chuyển thân hình sang trái tránh đòn. Thế là thằng Hai với Hầu thi diễn cuộc. Qua lại hơn hai chục chiêu, thằng Hai bắt đầu yếu thế. Cứ mươi chiêu nó chỉ tấn công được có ba chiêu. Hầu hít một hơi tung ra chiêu Phong đáo sơn đầu của Đông a chưởng pháp. Binh một tiếng thằng Hai ngã lộn đi hai vòng. Thằng Cả vọt tới tấn công liền hai chiêu. Hầu đang chơi vơi thì nó túm ngực hầu nhắc lên rồi điểm huyệt. Nó ném hầu xuống đất, đạp chân lên ngực:

– Nhãi Tế tác Nguyên. Nếu tao nhả kình lực thì ngực mày sẽ bẹp dí.

Hầu vẫn không khuất phục:

– Tuổi tao còn nhỏ. Mày lớn hơn tao nhiều, mày lại ra tay nhân lúc tao đang đấu với thằng Hai. Tao không phục.

– Tao không cần mày phục.

Tên Kiến Đao vẫy tay. Ba tên Cả, Hai, Ba leo thang dây ra khỏi giếng.

Còn lại một mình, Quốc Toản nhìn thành giếng thẳng đứng bằng đá. Đá nhẵn bóng. Hầu nghĩ:

– Tên Kiến Đao nói đúng. Vách thế này thì leo lên sao được?

Kiến Đao đứng trên bờ giếng chỉ vào một cái hang, có song sắt:

– Cậu sẽ ở trong này. Đây là Thiền thất mà xưa kia Bồ tát Minh Không từng ở. Trong có ổ rơm cho cậu nằm. Hằng ngày mỗ sẽ cho người đưa cơm cho cậu xơi.

Y chỉ vào ba cái hang:

– Trong ba cái hang kia, một cái giam đôi hổ. Một cái giam đôi báo. Một cái giam con đười ươi. Ban đêm cửa được mở cho cọp, báo ra ngoài đề phòng có kẻ tới cứu cậu. Ban ngày thì cửa mở cho đười ươi ra canh phòng. Cậu muốn yên thân thì ở trong động. Còn như cậu mở cửa ra ngoài nếu không bị hổ, báo xơi thịt thì bị đười ươi quật chết. Con đười ươi này nghe, hiểu tiếng người. Hằng ngày nó sẽ đem cơm cho cậu ăn, rồi lấy bát đĩa cất đi. Cậu muốn gì cứ sai nó.

Quốc Toản tò mò, vào trong động. Động khá rộng, trong có cái bồ đoàn, một cái ổ rơm, xung quanh cạp bện rơm rất đẹp. Vách động cũng bằng đá. Trên các viên đá khắc chữ chằng chịt. Kiến Đao chỉ vào cái án thư:

– Dưới án thư này có mấy chục cây nến. Đêm cậu có thể đánh lửa đốt nến lên mà đọc sách.

Nói dứt, y cung cung kính kính trao trả thanh Thượng phương bảo kiếm cho Quốc Toản rồi ra khỏi động, leo thang dây lên trên. Tới nơi y kéo cái thang, rồi cười đểu:

– Cậu mau vào động, bằng không cọp xơi thịt bây giờ.

Miệng nói tay y kéo một cái cần. Cửa sắt của một hầm mở ra. Có tiếng gầm gừ, rồi hai con cọp từ trong hang bước ra. Thấy Quốc Toàn, chúng quật đuôi xuống đất rồi nhảy lại vồ. Quốc Toản lùi vào trong động đóng song sắt lại. Đôi cọp đứng trước song sắt gầm gừ, miệng đỏ lòm tỏ vẻ thèm khát.

Cài then cửa lại, Quốc Toản quan sát động. Khác với vách ngoài thẳng, trơn. Đá trong động chỗ lồi chỗ lõm. Hầu nghĩ thầm:

– Truyền thuyết nói rằng xưa Linh Nhân hoàng thái hậu xây một thiền viện và một hang đá để cúng dàng 2 sư phụ là Bồ tát Minh Không, Viên Chiếu. Thiền viện đó có một cái động đá nằm trong núi Côi để tĩnh tâm nhập thiền. Không chừng tên Kiến Đao này nói thực cũng nên. Cái bọn khả ố nào bắt ta, bắt để làm gì? Ta đoán chừng y phải là một nhân vật lớn trong nhà ta, mới sai phái được thị vệ, mới có ngựa chiến. Trong khi chờ đợi tên lãnh chúa xuất hiện, ta hãy luyện công đã.

Hầu ngồi lên trên bồ đoàn vận khí luyện Đông a tâm pháp. Luyện không biết bao nhiêu lâu thấy có tiếng khọt khẹt, Hầu mở mắt ra thấy một con vượn lông mầu trắng như tuyết đang bưng một cái khay đứng trước song cửa. Tay nó vời hầu. Hầu đến gần cửa nhìn: trên khay có liễn cơm, một lát cá hấp tương với miến, một đĩa thịt heo (lợn) kho trứng. Biết người tiếp tế cơm, sai con vượn đem cho mình. Hầu thò tay ra cửa mang từng món ăn vào. Con vượn gật gật đầu chào rồi ra ngoài sân. Thức ăn của nó là hai củ đậu, một nải chuối. Nó đang tước vỏ đậu ra, rồi ăn. Nhìn những thức ăn của mình, Hầu nghĩ thầm:

– Cái tên khả ố nào đó bắt cóc mình tuy là phường vô lại, nhưng chúng cũng cho mình ăn tử tế đấy chứ.

Gắp cá ăn, hầu nhủ thầm:

– Tên đầu bếp này giỏi hơn đầu bếp ở vương phủ Trường sa. Y hấp cá với tương vừa đủ mặn. Miến ngấm mùi cá, tương ăn rất ngon.

Ăn xong, hầu mang bát, đũa ra cửa để. Con vượn chạy lấy bỏ vào khay mang đi. Trong suốt 7 ngày, sáng, chiều có người mang đồ ăn tới, ròng dây thả xuống cho con vượn. Nó mang cho hầu ăn. Còn hai con hổ, báo thì cứ chiều xuống khi chúng được thả ra thì con vượn lại vào chuồng, rồi đóng cửa lại. Người ta quẳng thịt sống xuống cho hổ, báo ăn.

Đến ngày thứ tám, vào một buổi sáng sớm, khi đôi hổ, báo bị giam lại, con vượn bạch được thả ra, Kiến Đao xuống giếng. Y mỉm cười nói với Quốc Toản:

– Tôi tuân lệnh chủ nhân xuống đây nói truyện với hầu.

Y chỉ vào cái ghế dài cạnh những bức tượng:

– Mời hầu an tọa.

Quốc Toản lạnh lùng ngồi xuống. Kiến Đao cười:

– Chủ nhân của tôi muốn biết một số tin tức, nên phải bắt giam hầu. Câu hỏi đầu tiên là: khi hầu từ biệt Vũ Uy vương; vương phi có trao cho hầu một cái ống bạc. Trong ống đựng hai giải lụa mầu vàng, và mầu hồng. Thế cái ống đó hầu để đâu?

Quốc Toản rúng động tâm tư:

– Thì ra chủ nhân của tên này là thân vương Vuông, Tròn thực. Chúng có thể là chú, là bác ta. Cũng có thể là vai ông chú, ông bác ta. Chính vì vậy chúng không dám lấy thanh Thượng phương bảo kiếm của ta.

Hầu trả lời rất nhanh:

– Đúng như người nói, bố mẹ ta có viết một bài biểu tâu lên thượng hoàng. Nhưng trong khi di chuyển trên thuyền, sóng gió vật mạnh, cái ống đó rơi xuống biển mất rồi. Nếu còn thì khi người bắt ta, đã thấy trong người ta.

– Có thể nào ống đó do Tuyên thái phi giữ không?

– Bà nội ta không biết truyện này. Người không giữ vật đó.

– Câu hỏi thứ nhì là: cậu có biết trong ống bạc đó đựng gì không?

– Mẹ ta thấy ta còn con nít, nên không cho ta biết. Người chỉ dặn ta rằng khi về Thăng long, yết kiến Thượng hoàng hay nhà vua thì dâng lên mà thôi.

– Thôi được! Tôi cứ tạm tin lời cậu.

Y trao cho hầu một cái bọc:

– Trong bọc này có ba bộ y phục để cậu thay đổi.

Nói dứt y tung mình lên thang dây, ra khỏi giếng.

Quốc Toản bừng tỉnh:

– Thì ra một trong hai tên thân vương Vuông, Tròn đã ra tay trong vụ này! Nhưng mẹ ta làm việc mật quỷ không biết, thần không hay. Tại sao chúng biết được?

Thấy con Bạch Viên đến ngồi cạnh, Hầu hỏi nó:

– Này Bạch Viên! Người cũng bị giam như ta đấy à?

Con vượn gật đầu.

– Người bị giam ở đây lâu chưa?

Bạch Viên dơ mười ngón tay lên, rồi gật gật một cái. Như vậy nó bị giam đã mười năm? Hay mười tháng! Thấy nó hiền, dễ thương, hầu vuốt má nó. Nó cũng nắm lấy tay hầu rồi vẫy vẫy, tỏ ý thân mật.

Thấy sân khá rộng, hầu đi một bài quyền cho dãn gân cốt. Hầu ngạc nhiên khi con vượn cũng đi bài quyền đó, không sai tý nào. Ngạc nhiên, hầu đi bộ chưởng trấn môn Đông a chưởng pháp. Tuy công lực hầu không làm bao, nhưng cũng có gió vù vù. Con Bạch Viên cũng múa theo, gió lộng ào ào, rõ ràng công lực nó rất thâm hậu. Khi hầu dừng lại thì con Bạch Viên cũng ngừng lại.

Hầu tự hỏi:

– Con vượn này của ai? Tại sao lại bị giam vào đây? Dường như nó cũng biết võ công. Nên nó chỉ nhìn mà xử dụng được bộ Đông a chưởng!

Tối hôm đó hầu mới để ý đến những chữ khắc trên các viên đá trong hang. Nhìn qua, do bút tự hầu nhận ra, chỉ có một người viết, nét khắc khá sâu, chứng tỏ nội lực người viết phải cao thâm lắm:

Một tảng đá viết bài kinh Bát nhã ba la mật đa tâm kinh. Kinh này hầu thuộc làu. Gần như ngày nào hầu cũng đọc với bà nội sau một khóa lễ. Một tảng đá nữa viết một bài kệ, ngụ ý rằng cuộc đời là vô thường. Một tảng nữa viết:

“Ta nay tuổi đã cao, thân xác đang mục. Ta cùng với Bạch Viên vào đây, tìm lấy yên tĩnh để nhập diệt. Khi ra đi ta sẽ nằm yên trên tảng đá. Ta cũng chép tất cả tinh hoa học thuật Đại Việt để cạnh ta. Kẻ hậu thế có túc duyên tìm được, dùng học thuật mà bảo vệ con đỏ tộc Việt”.

Quốc Toản nghĩ thầm:

– Có thể đây là bút tích của ngài của Bồ tát Minh Không hay Viên Chiếu. Theo như ý trong tảng đá này thì phía sau động này có cánh cửa. Sau cánh cửa có cái động nữa.

Quốc Toản cầm nến soi khắp vách đá, hầu tìm thấy trên vách có khắc hình vuông. Dường như đây là cánh cửa. Hầu đứng trung bình tấn, vận sức vào tay đồi đẩy. Cái cửa chỉ hơi nhúc nhích. Hầu reo lên:

– Đây là cánh cửa. Nhưng cửa nặng quá sức ta không đẩy được.

Biết mình không đủ sức đẩy cánh cửa, hầu bỏ cuộc, lên bồ đoàn ngồi kiết già luyện một thức khí công rồi ngủ lúc nào không hay. Tiếng chim rừng hót véo von vọng vào, làm Quốc Toản tỉnh giấc. Ngoài sân con Bạch Viên đang đi một lộ chưởng. Hầu nhận ra đó là một lộ chưởng của phái Tiêu sơn. Hầu tỉnh ngộ:

– Thì ra con Bạch Viện này đã từng theo hầu Bồ tát Minh Không, nên nó luyện được Thiền công, công lực của nó thâm hậu, nên nó chỉ nhìn sơ mà cũng xử dụng được bộ Đông a chưởng pháp.

Hầu mở cửa ra sân, con vượn chắp tay hành lễ với hầu, rồi nó chỉ vào 13 pho tượng đồng trong sân, miệng khọt khẹt như muốn nói gì với hầu. Chợt hầu nhớ lại, một lần bà nội thuật cho hầu nghe:

“Bồ tát Minh Không sang Tống, trị bệnh cho vua Tống Thần tông. Vua ban thưởng gì ngài cũng không nhận. Ngài chỉ xin vua cho vào kho chọn lấy mấy thanh đồng để về đúc tượng. Vua Thần tông sai quan đưa ngài vào kho. Ngài lựa lấy mấy cân đồng bỏ vào một túi nhỏ. Khi ngài rời kinh đô thì quan giữ kho tâu: đồng trong kho biến mất hết. Triều đình nghị rằng ngài Minh Không đã làm phép lấy hết kho đồng. Nhà vua sai thị vệ đuổi theo. Khi tới bờ bể thì thấy ngài đang tìm thuyền. Nhìn đoàn thị vệ, ngài mỉm cười rồi ném cái mũ tu lờ xuống biển. Cái mũ hóa ra một con rồng lớn. Ngài đứng trên lưng con rồng. Rồng bơi ra khơi. Đoàn thị vệ chắp tay hành lễ:

– Nam mô Minh Không đại Bồ tát.

Trở về Đại Việt, ngài dùng số đồng đó đúc thành An Nam tứ đại thần khí. Một là một tượng Phật Quỳnh lâm, cao hai trượng. Hai là một cái vạc nặng ba vạn cân. Ba là một cái chuông Ngân thiên. Bốn là đỉnh tháp Báo thiên.

Ngài treo chuông lên tháp Báo thiên rồi đánh ba hồi. Tiếng chuông ngân lên, con Kim ngưu nằm trong lòng núi Thái sơn, nghe tiếng mẹ gọi, vùng dậy chạy về Đại Việt. Không thấy mẹ đâu, nó lồng lộn, vết chân của nó thành nhiều hồ ở Thăng long. Ngài nhắc cái chuông ném xuống hồ rồi nguyền rằng: nhà nào một vợ, một chồng đẻ ra 10 con trai thì kéo được con trâu vàng này”.

Hầu suy nghĩ:

– Theo bố ta giảng thì lời nguyền của ngài hàm chứa ý tứ cao siêu, khó mà hiểu được. Nhưng tại sao ngài lại đúc tượng trâu, cặp vợ chồng và 10 đứa con trai ở đây?

Hầu quan sát kỹ: tượng người đàn ông tay phải nắm đuôi trâu. Tay trái đưa ra sau. Tượng người đàn bà thì tay phải dơ ra trước, tay trái dơ ra sau. Tính tinh nghịch, hầu móc tay phải người đàn bà vào tay trái người đàn ông. Kẹt một tiếng nhỏ, tay người đàn bà chuyển động, thì ra cánh tay với thân không dính liền, mà có khớp. Hầu reo lên một tiếng, rồi móc tay trái người đàn bà vào tay phải người con trai lớn nhất. Không đầy một khắc, hầu đã móc tay hai vợ chồng và 10 đứa con. Hầu cầm tay trái đứa con út kéo mạnh. Lập tức cả 13 pho tượng đều chuyển động, rồi tảng đá dùng làm ghế tụt xuống, hiện ra một cái hố sâu, có bậc đá đi xuống. Hầu reo lên, nghĩ thầm:

– Thì ra Bồ tát Minh Không đúc tượng để cơ quan mở ra một đường hầm.

Hầu vào động lấy cây nến đốt lên rồi theo bậc đá đi xuống. Đó là một đường hầm. Đi khoảng 10 trượng thì lại có bậc đi lên rồi hiện ra một căn hầm rộng. Giữa hầm có tảng đá bằng phẳng. Trên tảng đá có tượng một nhà sư ngồi kiết già. Hầu sờ vào pho tượng: tượng không phải bằng đá, hay đồng mà là những lớp lụa quấn quanh một xác người, bên ngoài sơn mấy lớp sơn dầy. Cạnh pho tượng có tấm đồng với hàng chữ:

“Nhục thể Bồ tát Minh Không. Sau khi viên tịch, được bọc lụa 20 lớp, rồi sơn bên ngoài. Kẻ nào có đại duyên, đại phúc thì được thấy tượng ngài. Đệ tử của ngài là Sa môn Tuyết Phúc xây mật thất này”.

Trước tượng có cái hộp gỗ. Trong hộp có nhiều thẻ đồng. Hầu cầm lên đếm được 90 cái. Cái thứ nhất khắc chữ:

Lĩnh nam vũ kinh,
Bảo quốc trấn Bắc bình Nam.

Cạnh đó ghi:

Biên tập giả: Phụ quốc Thái úy Lý Thường Kiệt.
Những người tham dự:
– Bồ tát Viên Chiếu,
–Mộc tồn vọng thê hòa thượng,
–Tiên nương Bảo Hòa,
–Phò mã Thân Thiệu Thái,
–Vua bà Bắc biên Bình Dương,
–Kinh nam vương Trần Tự Mai,
–Trưởng công chúa Huệ Nhu.

Hầu cầm thẻ thứ nhì, trên thẻ chép phép luyện Vô ngã tướng thiền công của phái Tiêu sơn. Thẻ thứ ba chép phép luyện nội công Âm nhu của phái Mê linh. Thẻ thứ tư chép phép luyện nội công Đông a, phá Huyền âm độc chưởng của phái Liêu đông và Nhật hồ độc chưởng của Hồng thiết giáo.

Xem hết 90 thẻ đồng, hầu muốn nghẹt thở:

– Ta nghe bố ta nói: thời vua Lý Nhân Tông, niên hiệu Anh vũ chiêu thắng, Tống Thần Tông sai Quách Quỳ, Triệu Tiết mang quân nghiêng nước sang đánh Đại việt. Bị quân Đại việt phá tan. Giữa lúc chiến thắng, Linh Nhân hoàng thái hậu ban chỉ:

“Bây giờ là lúc võ học đang rực rỡ, xin các tôn sư họp nhau lại chép tất cả tinh hoa võ thuật thành bộ Lĩnh Nam vũ kinh để lưu truyền. Vì có thể một mai thất truyền thì thực đáng tiếc”.

Thế rồi Thái úy Lý Thường Kiệt cùng vua bà Bắc biên Bình Dương đứng ra biên chép. Sau khi biên xong, truyền khắc vào 90 cái thẻ đồng. Mỗi phái giữ một bản. Bản của phái Tiêu sơn do Minh Không bồ tát giữ. Cuối đời không biết ngài vân du đâu, coi như thất lạc. Đến cuối thời Lý, loạn lạc liên miên. Bản của phái Tản viên, Mê linh bị mất đầu tiên. Bản của phái Sài sơn bị thất lạc trong trận đánh giữa Quách Bốc với quân của trấn Thanh hóa. Bản của phái Đông a bị mất khi Nguyên tổ Trần Lý tử trận. Thì ra bản của phái Tiêu sơn để tại đây.

Hầu kính cẩn quỳ gối trước tượng hành đại lễ:

– Nam mô Minh Không bồ tát. Đệ tử là Trần Quốc Toản có duyên may được vào đây chiêm ngưỡng di thể của Bồ tát. Lại được bộ Lĩnh Nam vũ kinh. Đệ tử nguyện đem hết tài trí để bảo quốc trấn Bắc, bình nam.

Hầu lậy tám lậy, rồi mang 90 cái thẻ đồng ra khỏi hầm. Lên mặt hầm, hầu gỡ 13 tượng ra như trước. Tảng đá cửa hầm từ từ khép lại.

Nhớ lời dặn của phụ thân:

“Phàm luyện võ, trước luyện khí công để có công lực. Công lực cao thì bất cứ ngoại công nào cũng xử dụng được”.

Hầu nghĩ thầm:

– Đây là tất cả tinh hoa võ học của Đại việt. Về nội công thì phái Đông a nhà mình xuất phát từ Thiền công của phái Tiêu sơn, rồi các tổ sau cải biến đi. Nội công phái Tản viên, Sài sơn thì hoàn toàn dương cương. Nội công phái Mê linh thì cương nhu hợp nhất. Trong tất cả các pho nội công thì pho Vô ngã tướng thiền công là dễ luyện nhất, lỡ có sai, cũng không bị tẩu hỏa nhập ma. Vả từ nhỏ, ta luyện nội công Đông a. Mà nội công Đông a phát xuất từ Thiền công, bây giờ ta luyện Vô ngã tướng thiền công dễ dàng hơn.

Hầu cầm cái thẻ đồng chép về Vô ngã tướng thiền công lên đọc:

“Thiền công xuất phát từ nhà Phật, là một nội công chính đại quang minh. Thiền công lấy yếu chỉ từ kinh Kim cương, Lăng già, Bát nhã ba la mật. Muốn luyện Vô ngã tướng thiền công, phải hiểu thấu các kinh Kim cương, Lăng già”.

Hầu mỉm cười:

– Gì chứ ba kinh này mình đã được mẹ sữa Chân Phương giảng cho nhiều lần. Rồi lại được cô Thúy Hồng giảng yếu chỉ.

Hầu đọc tiếp:

“Muốn luyện Vô ngã tướng thì cần nhất bỏ ra ngoài Lục căn. Trong bốn tướng: ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng. Bỏ ra được một thì thành công”.

Hầu nhớ lại:

– Cô Thúy Hồng từng giảng: khi không có ta, tức vô ngã tướng thì làm gì có người? Tức vô nhân tướng. Khi không có người thì làm gì có chúng sinh tướng!

Hầu ngồi nghiêm chỉnh lại, trước hết bỏ nhãn, rồi nhĩ, rồi tỵ, rồi thiệt, rồi thân, cuối cùng bỏ ý. Chân khí trong người Hầu cuồn cuộn chạy về đơn điền. Đến đây hầu như mê đi không biết gì. Có tiếng động ngoài cửa, hầu giật mình trở về thực tại. Trong người cảm thấy sảng khoái không bút nào tả siết. Hầu đứng dậy vận khí thì đơn điền trống không. Hầu đọc thẻ đồng: “Khi luyện, mà nội tức biến đi là đã thành công rồi vậy”.

Thế rồi, hầu cứ luyện ngày, luyện đêm. Trải qua 2 tuần trăng vào một đêm thì luyện xong. Hầu mở cửa ra sân, vận khí phát một chiêu trong Đông a chưởng pháp đánh vào bức tường, không thấy gió, nhưng âm thanh truyền đi rất xa. Biết đã thành công, hầu nhảy nhót reo mừng, thấy thân thể nhẹ nhàng, người vọt lên cao. Hầu kinh ngạc:

– Sao ta nhảy cao thế này?

Trở vào động, hầu lấy tấm thẻ đồng luyện nội công Âm nhu:

– Đây là nội công trấn môn của phái Mê linh. Mẹ ta nói:

“Muốn luyện được Mê linh kiếm pháp thì trước phải luyện nội công Âm nhu”.

Ta có hỏi:

“Con nghe nói nội công Âm nhu và Mê linh kiếm pháp là hai pho võ công trấn quốc. Vậy ai là người sáng tạo ra?”

Mẹ ta giảng:

“Xưa, thời vua An Dương, Tần Thủy Hoàng muốn đem quân đánh Âu Lạc, để dò biết tình hình võ học, y đòi vua An Dương cống một đội võ sĩ. Nhà vua cử Vạn Tín hầu Lý Thân dẫn theo 18 võ sĩ sang Hàm dương. Tất cả 18 võ sĩ đều là đệ tử của hầu. Tới Hàm dương, Thủy Hoàng truyền các võ sĩ trong đội thị vệ đấu với các võ sĩ Việt. Vạn Tín hầu lệnh cho chư đệ tử đấu cầm chừng, không thắng không bại. Tối về hầu cùng chư đệ tử nghiên cứu chiêu thức nội công của Trung nguyên, tìm ra phá cách. Hôm sau tái đấu, tất cả võ sĩ Việt đều thắng. Trong khi nghiên cứu Hầu nhận ra nội công các thị vệ thuộc chín nguồn khác nhau, đều thuộc dương cương. Hầu cùng đệ tử chế ra nội công âm nhu. Hầu lại nhận thấy đao, kiếm của các thị vệ đều thuộc kiếm khí, rất dũng mãnh. Hầu chế ra pho kiếm lấy mau thắng chậm, dùng kiếm chiêu thần tốc. Khi về nước hầu truyền cho đồ tử, đồ tôn. Đồ tử đồ tôn của ngài lập ra phái Long biên. Pho nội công đó mang tên Âm nhu. Pho kiếm mang tên Long biên kiếm pháp. Phái Mê linh là hậu duệ của phái Long biên. Nội công Âm nhu với Long biên kiếm pháp chỉ truyền cho người chưởng môn. Mẹ tuy là đệ tử yêu của Vô Huyền bồ tát mà cũng không được truyền hết. Vả hai pho võ công này lưu truyền lâu đời đã bị tam sao thất bản. Nếu tìm được bộ Lĩnh Nam vũ kinh thì có đầy đủ”.

(Hết Hồi 93)

Share this post