Anh Hùng Đông A – Gươm Thiêng Hàm Tử (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 94 (Tiếp theo)

Anh Hùng Đông A – Gươm Thiêng Hàm Tử (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 94 (Tiếp theo)

ANH HÙNG ĐÔNG A – GƯƠM THIÊNG HÀM TỬ
* Tiểu Thuyết Lịch Sử
* Tác giả: Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ
* Nguồn: Blog Trần Đại Sỹ (https://trandaisy.wordpress.com)

* Để đọc những phần đã đăng, xin vào khung Search this site (Tìm Kiếm) và gõ tên tác giả: Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ.

HỒI THỨ CHÍN MƯƠI BỐN
An Nam tứ đại thần khí
(Tiếp theo)

Hai trẻ cỡi chung một ngựa tới ấp Côi sơn. Dù cách nhau hai năm, Quốc Toản lớn lên, nhưng Cẩm Nhãn cũng nhận ra hầu. Phu nhân hỏi:

– Hai năm qua em ở đâu? Chúng bắt em, có hành hạ gì không?

Quốc Toản thuật sơ những gì mình trải qua cho Cẩm Nhãn nghe. Cẩm Nhãn tuy là phu nhân tước hầu, nhưng chưa hề học lễ nghi cung đình. Nàng đối xử với Quốc Toản bằng tình nghĩa dân gian: khi Đại Hành được phong tước hầu, dù hầu không có nhà, nhưng triều đình ban cho Đại Hành bộ phẩm phục hầu tước, phu nhân cất rất kỹ. Bây giờ nàng trao cho Quốc Toản:

– Em tạm mặc quần áo của anh Đại Hành đã. Trong ấp có nhiều thợ may giỏi. Để chị sai họ may quần áo cho em! Em ra ao kia tắm đi.

Quốc Toản tắm rửa, thay y phục. Cẩm Nhãn chải tóc cho hầu, rồi ngắm:

– Em giống bố quá. Nhưng đẹp trai hơn bố một tý.

Thị nữ bưng ra một cái sàng, trên sàng có đĩa rau muống chẻ, với kinh giới, tía tô và hơn chục cái bánh tôm:

– Hai em ăn bánh tôm đi.

– Bố em nói, chị Cẩm Nhãn bán bánh tôm Hồ tây từ hồi 12 tuổi. Rồi 13 tuổi thành vợ anh Đại Hành. Chị giỏi thực, mới thoáng một cái mà đã ra tay tiên thành bánh tôm.

Hai thiếu niên cùng ăn. Từng nghe bố mẹ nói về bánh tôm hồ Tây. Đây là lần đầu tiên được ăn. Quốc Toản, Quốc Kiện ăn rất ngon miệng. Cẩm Nhãn rán luôn tay không kịp.

Trong bữa ăn Quốc Toản cho Quốc Kiện biết chi tiết về việc triều đình đức Thái tông gửi Tô lịch, Đông hoa sang Mông cổ. Sau thêm 10 nàng Ngọc. Rồi hầu nói về hai tên thân vương Vuông, Tròn. Hai tên này muốn Nguyên phong cho làm An Nam quốc vương, tranh quyền với hoàng đế Thiệu Bảo.

Quốc Toản nói gay gắt:

– Nhất định gã Lê Tắc có liên quan tới một trong hai tên Vuông, Tròn. Chúng mình phải dò cho hai tên này là ai?

Quốc Kiện buồn buồn:

– Khó đấy! Chắc chắn hai tên này đang nắm trọng quyền trong tay. Phụ hoàng rất trọng tình ruột thịt. Khi chúng ta tâu lên, chưa chắc người đã tin. Dù có tin, người cũng không giết chúng. Em nghĩ võ công anh cao, khi chúng mình biết chúng là ai, anh dùng thanh Đông a giết quách chúng đi, rồi cáo với triều đình thì sự đã rồi.

– Ý kiến hay.

Quốc Kiện bàn:

– Cách đây hơn hai năm, Mông cổ sai tên Toa Đô đem quân đánh Chiêm. Triều đình cho thành lập một cơ quan mang tên Trợ Chiêm Sát Đát hành doanh. Nói theo tiếng bình dân là Bộ tư lệnh quân viện Chiêm, giết Mông cổ. Hưng Nhượng vương được trao cho làm Tuyên uy Nam viện nguyên soái. Hành doanh đóng tại Nam giới. Cứ hai tháng một lần, Chiêu Quốc vương Trần Ích Tắc quản Khu mật viện từ Thăng long vào duyệt xét tình hình. Nên Hưng Nhượng vương đem văn võ quan của Hành doanh hội tại trường Lạn kha để tường trình chư sự. Hôm nay là ngày hội quân đây.

– Chúng ta cần dò xem. Có nên lột mặt nạ tên Lê Tắc để Khu mật viện bắt giết y không?

Chiều hôm đó thợ may đã may cho Quốc Toản ba bộ quần áo như nông dân. Hai bộ y phục tước hầu. Buổi tối, dưới ánh trăng, Trần Quốc Kiện, Cẩm Nhãn, ngồi nghe Quốc Toản giảng giải về tình hình Mông cổ, Nãi man, tình hình triều Nguyên. Nhất là nghe nói về những gì Đại Hành, Cao Mang đã làm. Khi nghe nói đến hai thân vương Vuông, Tròn, Cẩm Nhãn lo lắng vô cùng:

– Nếu như hai tên Vuông, Tròn cáo với triều Nguyên về nhiệm vụ của Đại Hành, của Thất tiên, Đông hoa thì e tai họa không nhỏ.

Trước khi đi ngủ, Quốc Toản bảo Quốc Kiện:

– Em bị anh hút hết công lực e đi lại khó khăn. Em ngồi ngay ngắn lại. Anh trả em.

Quốc Toàn để tay lên huyệt bách hội Quốc Kiện rồi đồn chân khí sang. Kiện rùng mình một cái, rồi ngồi im quy liễm chân khí. Khoảng một khắc Kiện thấy người mình căng thẳng, thì vẫy tay ra hiệu, Quốc Toản thu tay lại.

– Trên đời, em chưa từng thấy ai có nội lực manh như anh. Có lẽ chỉ bác Hưng Ninh với chú Chiêu Quốc là hơn được mà thôi.

Hưng Ninh vương là tước phong của Tuệ Trung bồ tát. Vương là con của An Sinh vương Liễu. An Sinh vương Liễu là anh của Trần Thái tông, nên Quốc Kiện gọi là bác.

Sáng hôm sau, hai trẻ ngủ cho đến cuối giờ tỵ mới thức giấc. Cẩm Nhãn cho hai trẻ ăn bánh cuốn hồ Tây, rồi lên đường thì mặt trời đã đứng bóng. Phu nhân trao cho Quốc Toản mấy nén bạc, mấy xâu tiền:

– Ngựa, bạc, tiền, chị chuẩn bị cho em đây. Chị nghĩ hai em nên về Thăng long, yết kiến triều đình để thân phận Quốc Toản được chứng minh, rồi muốn làm gì hãy làm.

Cẩm Nhãn đem con ngựa khỏe nhất của dinh Trung hòa hầu cho Quốc Toản. Quốc Kiện lấy trong bọc ra một bộ y phục võ sinh:

– Nào. Chúng ta lên đường về trường Lạn kha. Anh mặc bộ võ phục này, để khi qua cổng trường, binh canh không chặn lại. Khi vào trường anh giả làm một võ sinh.

Hai trẻ lấy ngựa lên đường. Vừa tới cổng trang, thình lình Quốc Kiện gò cương cho ngựa dừng lại, rồi tung mình nhảy vào một bụi rậm, tay vẫy Quốc Toản. Tuy hơi ngạc nhiên, nhưng Quốc Toản cũng nhảy theo. Quốc Kiện chỉ về phía trước, xa xa có một đội giáp sĩ khoảng trăm người, hộ tống một người trang phục vương tước. Phía sau có hai chiếc xe song mã buông màn kín mít.

Quốc Toản hỏi:

– Tại sao mình phải trốn tránh?

– Anh không biết đấy thôi. Đây là đội giáp sĩ hộ tống Nhân Hòa vương.

– Nhân Hòa vương à! Tên ông ta là gì?

– Trần Di Ái.

– Lạ nhỉ! Hồi ở Trường sa, bố anh thường đem sổ Uyên hàng kim diệp ra giảng về giòng họ mình. Nhưng chưa hề nghe nói tới Trần Di Ái bao giờ? Ông ta thuộc chi nào? Giòng nào?

– Ông ấy thuộc giòng thứ, là con của Thái tổ Trần Thừa. Em ruột đức Thái tông. Chúng mình phải gọi là ông trẻ.

– Tài trí ông ra sao?

– Ông được Tuyên minh thái hoàng thái hậu dậy văn, luyện võ, nên văn võ kiêm toàn.

– Ông giữ chức vụ gì ở triều đình?

– Theo di chúc của Tuyên minh thái hoàng thái hậu, ông không giữ bất cứ chức gì. Ngài giao cho ông phụ trách dậy văn, luyện võ cho con cháu trong giòng họ nhà mình. Tuy nhiên đức Thái tông cũng phong cho ông hàm Thái phó, tước Nhân Hòa vương. Tính ông bất thường, ghét ai thì ghét, không cần lý do. Trong các con cháu, ông ghét nhất ba người. Một là Vũ Uy vương, hai là Chiêu Quốc vương. Ba là phụ hoàng.

Đến đó đoàn tùy tùng đã tới. Đi đầu khoảng ba chục Thiết kị. Tiếp theo là Chiêu Hòa vương cỡi ngựa. Phía sau có hai cái xe, màn che kín mít. Cuối cùng khoảng 70 Thiết kị nữa. Nội công Quốc Toản rất thâm hậu. Hầu nói sẽ vào tai Kiện:

– Trong hai xe kia, ai cũng tưởng chở phụ nữ, trẻ con. Nhưng không ngờ có bốn đại cao thủ người Trung nguyên. Vì hơi thở của họ trầm, dài như tơ.

Đoàn thiết kị đi qua, Quốc Toản hỏi:

– Tại sao em thấy Nhân Hòa vương lại phải trốn tránh?

– Bắt đầu từ 6 tuổi, em được phụ hoàng trao cho ông dạy võ. Vì ông không ưa phụ hoàng, nên ông ghét lây em. Ong trao em cho một người con là Văn Chiêu hầu Trần Văn Lộng dậy em. Chú Lộng dậy em cho có, thành ra võ công em thua xa những bạn học cùng. Sau ông trao cho thầy Lê Tắc dậy văn, vì vậy trong các thiếu niên hoàng tộc võ công em kém nhất. Này anh!

– Gì?

– Võ công anh cao như vậy, anh dậy em đi!

– Anh rất vui lòng.

Quốc Kiện quỳ gối bái lậy:

– Đứa em là Trần Quốc Kiện, xin bái anh làm sư phụ.

– Em cứ gọi anh là anh như cũ cho thân! Em có biết Chiêu Hòa vương đi đâu không?

– Ông ấy thường về trang ấp của chú Trần Văn Lộng, nằm trên sườn núi Cánh diều để nghỉ ngơi. Núi Cánh diều không xa đây làm bao.

Quốc Toản nghi ngờ:

– Nội công anh rất cao. Nên anh nghe thấy trên hai chiếc xe của vương có đến bốn đại cao thủ thổ nạp. Rõ ràng đó là những cao thủ Trung quốc. Tại sao ông đi nghỉ mà lại dấu cao thủ trên xe? Võ công ông cao, việc gì ông phải mang cao thủ theo? Chúng ta phải dò cho ra cái bí mật này.

– Em từng đến trang trại của chú Trần Văn Lộng. Trang trại cách dây không xa. Nhưng phải cẩn thận, vì võ công ông Di Ái hiện cao thâm nhất giòng họ mình. Võ công chú Lộng cũng không thua gì ông. Ông biết chúng mình tò mò vào truyện của ông thì e mất mạng.

(Hết Hồi 94)

* PHỤ LỤC: AN NAM TỨ ĐẠI THẦN KHÍ
(Xin đọc Nam Quốc sơn hà, cùng tác giả. Quyển 5, hồi 44)

Theo truyền thuyết: Thời Bắc thuộc, vua Đường sai Cao Biền sang Đại-Việt yểm hết các thế đất linh, lấy tất cả tinh hoa linh khí bỏ vào bụng ba mươi sáu con trâu vàng đem về giam núi Thái-sơn. Đến đời vua Tống Thái-tông, vì thất trận nên sai đào trâu mang về yểm ở trong Hoàng-cung, hy vọng tuyệt hết linh khí Đại Việt. Trong dịp hai thánh tăng Minh-Không, Đạo-Hạnh vân du Trung-thổ, trừ tà tại Hoàng-cung Tống, được nhà vua cúng dàng đồng đen. Hai ngài làm phép lấy hết một kho đồng đem về Đại Việt. Nhân đó hai ngài đoạt ba mươi sáu con trâu chứa tinh hoa anh linh tộc Việt, rồi đem về đặt vào chỗ cũ. Linh khí Đại Việt lại sáng rực trời Nam.

Thần khí thứ nhất:

Thần khí thứ nhất mà ngài đúc là đỉnh tháp Đại-thắng Báo-thiên. Tháp nằm trong khuôn viên chùa Sùng-khánh Báo-thiên. Chùa Sùng-khánh Báo-thiên dựng vào tháng tư, năm Bính-Thân, nhằm niên hiệu Long-thụy Thái-bình thứ ba triều Lý, đời đức Thánh-tông (1056). Sở dĩ chùa có tên Báo-thiên, vì ngày lễ Thượng-nguyên, tức rằm tháng giêng năm ấy, xa giá vua ra hồ Tây xem cá. Khi đến bờ đê, thì gặp một người trang phục như thằng điên, mắng vua rằng: Nhà vua làm chúa trời Nam, sao không tu đức, sửa sang chính sự, mà lại rong chơi? Như vậy là làm gương xấu khiến cho bọn quan lại tham ô, hà hiếp dân chúng. Ta là thần, được thượng đế sai xuống giữ việc mưa nắng vùng này. Nay thấy dân khổ, nên hiện ra báo cho vua hay. Lập tức đức Thánh-tông bỏ cuộc đi chơi, trở về giảm yến tiệc, giảm chi tiêu nội cung, cách chức bọn tham quan, sai làm chùa để tạ ơn trời. Chùa mang tên Sùng-khánh Báo-thiên là tích đó. Nơi tọa lạc chùa, được mang tên phường Báo-thiên, thuộc thôn Tiên-thị, huyện Thọ-xương, Thăng-long.

Năm sau, Đinh-Dậu, niên hiệu Long-thụy Thái-bình thứ tư (1057) đức Thánh-tông lại cho dựng tháp ở trong sân chùa. Tháp cao hai mươi trượng (40 mét), gồm 12 tầng. Nay hai thánh tăng lấy đồng đen, là tinh hoa linh khí núi Thái-sơn bên Trung-nguyên đúc cái đỉnh tháp. Từ khi đỉnh tháp được an vị, linh khí Trung-nguyên, tinh đẩu phương Bắc đều chiếu về trời Nam. Đêm đêm hào quang chiếu sáng rực đất Thăng-long.

Chùa Sùng-khánh Báo-thiên, tháp Báo-thiên cho đến đời Trần vẫn còn. Nhà thơ Phạm Sư-Mạnh, cuối đời Trần có làm bài thơ Đề Báo-thiên tháp như sau:

Trấn áp Đông, Tây củng đế kỳ
Khuy nhiên nhất tháp độc nguy nguy.
Sơn hà bất động kình thiên trụ,
Kim cổ nan ma lập địa chùy.
Phong bãi chung linh thời ứng đáp,
Tinh di đăng chúc, dạ quang huy.
Ngã lai dục thử đề danh bút,
Quản lĩnh xuân giang tác nghiễn trì.

Đào Thái-Tôn dịch như sau:

Trấn áp Đông, Tây giữ đế đô,
Hiên ngang ngọn tháp đứng trơ trơ.
Non sông vững trãi tay trời chống,
Kim cổ khôn mòn đỉnh tháp nhô.
Thỉnh thoảng gió lay, chuông ứng đáp,
Đêm đêm sao xế đuốc khôn mờ.
Tới đây những muốn dầm ngòi bút,
Chiếm cả giòng sông mài mực thơ.

Năm 1406, vì giặc Hồ Quý-Ly cướp ngôi nhà Trần, linh khí trời Nam mất hết, đỉnh tháp bị gẫy rơi xuống. An-phủ-sứ Đông-đô là Lê Khải thấy điềm gở, không dám báo cho giặc Hồ biết, vì vậy bị biếm một tư. Sau đó đỉnh tháp được hàn, đem lên như cũ.

Năm 1427, quân Minh bị Bình-Định vương Lê Lợi vây ở Đông-đô (Thăng-long) chúng cho rằng tháp Báo-thiên là nơi hút linh khí thiên hà, vì vậy vương thành công, chúng phá tháp với hy vọng tuyệt linh khí trời Nam; nhưng thác rằng lấy đồng làm súng. Chỗ nền tháp được đổ đất thành gò cao để dựng đàn tràng.

Đến cuối thời Lê, chùa bị bỏ hoang phế. Khu đất gần nền tháp cũ biến thành chợ, gọi là chợ Tiên. Đến thời Tây-sơn, năm Giáp-Dần, 1792, dân chúng đào gò lấy gạch, đá; tu bổ thành Thăng-long, nhặt được tượng đá chạm hình tiên, chim muông, chén bát sứ không biết bao nhiêu màkể. Trên gạch đào được có chữ “Lý gia đệ tam đế Long-thụy Thái-bình tứ niên tạo” (Làm năm Long-thụy Thái-bình thứ tư đời vua thứ ba nhà Lý).

Định-vương Trịnh Căn có bài thơ Đề Báo-thiên tự như sau:

Tứ bề chăn ngắt gấm chương sinh,
Cảnh lạ mười phân, chín khác thường.
Thăm thẳm liên đài, nhuần diệu sắc,
Thênh thênh phúc chỉ nức thanh hương.
Vậy nên cõi phép trừng tha tính,
Tốt được lòng người lạc thiên phương.
Gió đạo thổi đưa hòa hây hẩy,
Trong khi ngoạn thưởng rất thư lương.
Bình phong tám bức mọi đồ thâu,
Đầm ấm trời xuân ngọc một bầu.
Mây thụy soi soi truyền bảo các,
Non nhân rắp rắp đối chung lâu.
Mở đường tế độ là ơn rộng,
Song cửa từ thông tỏ đạo mầu.
Thắng lãm luận đây làm phẩm nhất,
So trong tỉnh giới há nhường đâu.

Đến thời Nguyễn, đời vua Tự-Đức, tổng đốc Hà-nội là Tôn-thất Bật theo nền chùa cũ, xây lại, giữ được một số đá xanh chạm hình hoa sen là đá ở tháp Báo-thiên, đá chạm hình bát giác là đá ở bệ tháp từ thời Lý.

Hồi người Pháp sang cai trị (1884), họ phá chùa này, lấy đất xây nhà thờ lớn Hà-nội. Vị trí chùa cũ nằm từ phía bên phải đền Lý Quốc-Sư đến đầu phố Nhà-chung, quận Hoàn-kiếm, Hà-nội.

Độc giả muốn thâm cứu thêm về chùa Sùng-khánh Báo-thiên, tháp Báo-thiên có thể tìm đọc các sách:

Trung-quốc: Quách thị Nam-chinh, Triệu-thị chinh tiễu Giao-chỉ ký.

Việt-Nam:  Việt sử lược (Lý kỷ), Đại Việt sử ký toàn thư (Lý kỷ, Thánh-tông kỷ), Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Đại Nam nhất thống chí, Hoàng Việt địa dư chí, Bắc thành địa dư chí lục, Thăng-long cổ tích khảo, Hà-nội địa dư, Hà-nội sơn xuyên phong vực, Đại-Việt địa chí, Hoàng Việt thi tuyển, Khâm định thăng bình bách vịnh, Ngự đề Thiên-hòa doanh bách vịnh, Toàn Việt thi lục, Tang thương ngẫu lục, Long-biên bách nhi vịnh.

Thần khí thứ nhì:

Bảo khí thứ nhì là một tượng phật Thích-ca Mâu-ni cao hai trượng. Trên thân tượng ngài cho yểm 18 viên Xá-lợi của 18 vị Bồ tát Đại Việt, 360 hạt đá linh khí lấy từ 360 đền thờ chư thánh Đại Việt.

Khi đúc tượng, các vị tăng thường để một lỗ trống phía sau lưng tượng thông vào bụng, chỗ huyệt thần đạo. Sau đó hoặc yểm ngọc Xá-lợi vào, hoặc yểm ngọc, hay vàng vào. Nhưng ngài Minh Không lại không làm thế. Phàm các bậc đại giác như Phật, Bồ tát, La hán, thường phân thân đi khắp nơi, làm đủ mọi loài để cứu độ, để thuyết pháp. Thế danh hiệu 18 Bồ tát, 360 thánh là những vị nào?

Về Bồ tát thì có các ngài Tỳ-ni Đa-lưu-chi, Pháp-Hiền, La Quý-An, Sùng-Phạm, Bố-Đại, Vạn-Hạnh… Về chư thánh thì Phù-Đổng thiên vương, thánh Tản, Chử đạo tổ, công chúa Tiên-Dung, Vạn-Tín hầu Lý Thân, Cao-Cảnh hầu Cao Nỗ, Trung-Tín hầu Vũ Bảo-Trung, Phương-Chính hầu Trần Tự-Minh, vua Trưng cùng 162 anh hùng thời Lĩnh-Nam… mới nhất bấy giờ là Vũ-dực đại tướng quân Dư Phi, Phiêu-kị đại tướng quân Bùi Hoàng-Quan và Nhu-mẫn Đoan-duệ Anh-văn công chúa Trần Ngọc-Huệ.

Pho tượng là tượng đức Phật Thích-ca Mâu-ni, nhưng yểm tâm toàn là chư Bồ tát, chư thần linh Đại-Việt. Như thế thì anh linh của các ngài tập trung lại, mạnh vô cùng. Hai ngài Minh-Không, Đạo-Hạnh sẽ đặt pho tượng đó vào một vị trí quan trọng để trấn áp quân Trung-nguyên. Đó là chùa trong núi Quỳnh-lâm, thuộc trấn Đông-triều, mặt hướng về phương Bắc. Như vậy linh khí chư Bồ tát, chư thần vừa trấn Bắc, vừa trấn biển Đông. Từ nay, và mãi mãi, khi pho tượng còn, thì Trung nguyên không thể đánh chiếm Đại Việt được nữa.

Chùa Quỳnh-lâm được kiến tạo vào thời đức Lý Thái-tổ (1010-1028), tường xây bằng đá, mái lợp ngói, rất đẹp, là nơi cho dân làng tới niệm Phật, chứ không có tăng ni trụ trì. Bồ tát Từ Đạo-Hạnh quyên giáo được rất nhiều tiền. Ngài cho xây dựng qui mô rồi đúc tượng. Từ ngày an vị tượng, đêm đêm hào quang chiếu sáng rực một vùng, dân chúng đến lễ bái rất đông. Chùa hiện (1077) do một đệ tử của quốc sư Huệ-Sinh trụ trì.

Chùa Quỳnh-lâm tọa lạc tại núi Quỳnh-lâm, xã Hà-lôi, huyện Đông-triều, tỉnh Hải-dương. Nay thuộc tỉnh Quảng-ninh. Từ khi ngài Minh-Không, Đạo-Hạnh an vị tượng quốc bảo, chùa trở thành danh tiếng. Sang đời Trần, thiền sư Pháp-Loa trụ trì tại đây. Chùa có viện Quỳnh-lâm rất lớn, làm nơi giảng kinh. Tương truyền viện có thể thu nhận tới ba nghìn người một lúc. Lại có am Bích-động để tọa thiền. Một phò mã họ Vũ đời Trần cúng 20 mẫu ruộng. Quan tư đồ Văn-Huệ vương Trần Quang-Triều và công chúa Thượng-Trân cúng 900 lượng vàng để đúc tượng Di-Lặc. Chùa sở hữu tới hơn nghìn mẫu ruộng, tá điền nghìn người. Đương thời chùa được tôn làm Thiên Nam đệ nhất danh lãm. Trong thời gian 1285 đến 1315 chùa nổi danh cùng với chùa Vân-yên ở núi Yên-tử, chùa Báo-ân (Từ-quang) ở làng Siêu-loại. Khi giặc Minh xâm lược Đại-Việt (1407) chùa bị phá hủy, tượng phật Quỳnh-lâm bị cướp mang về Kimh-lăng. Đầu đời Lê, chùa được dựng lại.

Vào thời Vĩnh-khánh (1729-1732) Uy-Nam vương Trịnh Giang cấp tiền, rồi lấy dân ba huyện Đông-triều, Thủy-đường, Chí-linh, tu tạo qui mô, bài trí lộng lẫy. Đến đầu đời Vĩnh-hựu (1735-1746), lại lấy dân các huyện Hiệp-sơn, Thủy-đường, Đông-triều, Kim-thành và Thanh-hà sửa sang lần nữa, rộng lớn hơn.

Đến thời Nguyễn, niên hiệu Thiệu-Trị thứ sáu (1845) chùa bị bọn Thổ-phỉ người Tầu đốt cháy mất chính điện và tiền đường. Tất cả các tượng gỗ đều cháy, duy tượng vua Trần Nhân-tông là còn nguyên.

Độc giả muốn thâm cứu thêm về chùa, tượng phật Quỳnh-lâm, có thể tìm đọc thêm các sách:

Trung-quốc: Quách-thị Nam chinh, Triệu-thị chinh tiễu Giao-chỉ ký, Nam-hải chư thần cảo lục.

Việt-Nam: Lục Nam địa chí, Kiến văn tiểu lục, Lịch triều hiến chương loại chí, Hoàng Việt địa dư chí, Thoái thức ký văn, Đại Nam nhất thống chí, Đồng-Khánh địa dư chí lược, Bắc-kỳ giang sơn cổ tích danh thắng bị khảo, Việt-Nam địa dư chí, Đại-Việt địa chí.

Thần khí thứ ba:

Thần-khí thứ ba là cái vạc lớn an vị tại chùa Phổ-minh thuộc trấn Thiên-trường. Nguyên niên hiệu Thuận-Thiên thứ mười chín (1028), trong lúc chư vương nổi loạn, Ngô-quốc quận vương Trần Tự-Mai cùng công chúa Huệ-Nhu đem anh hùng võ lâm Trung-nguyên về giúp Khai-Quốc vương đánh dẹp. Nhân đó vương xây chùa Phổ-minh tại trang Thiên-trường để cầu phúc cho thân mẫu. Nay hai thánh tăng cho đúc vạc, xây bệ đặt tại chùa. Vạc nặng ba vạn cân (13 tấn ngày nay), phía ngoài có hình rồng quấn xung quanh, và hình chim âu đang bay. Đầu rồng, đầu âu nghểnh lên trên vành vạc để quy linh khí của Quốc-tổ Lạc-long quân, Quốc-mẫu Âu-Cơ. Thành vạc khuyết 100 lỗ hình như quả trứng, trong mỗi lỗ khuyết đặt một tượng rồng vàng, để quy liễm linh khí trăm con của Quốc-tổ, Quốc-mẫu. Bệ vạc khắc tên tất cả các vị vua tộc Việt. Cao nhất là vua Kinh-Dương, gần nhất là vua Lý Thánh-tông; để anh linh các tiên đế tụ lại, phù hộ cho dân giầu, mưa thuận gió hòa. Sau khi an trí vạc xong, thì ngay đêm đó, trên không có tiếng nhã nhạc vang lừng, rồi hàng vạn con hạc từ đâu về bay lượn, hào quang từ trong chùa chiếu ra sáng rực. Ngài Minh-Không thấy vậy, mới nói rằng: “Không ngờ linh khí tụ nhanh như vậy. Sau đây hơn trăm năm, sẽ có giặc phương Bắc, thiên hạ không ai đương nổi. Đất này sẽ có một vị đại thánh giáng trần phá giặc đó”.

Ghi chú: Chùa Phổ-minh ở xã Tức-mặc, nay là Lộc-vượng, ngoại ô thành phố Nam-định. Từ khi Bồ tát Minh-Không đúc vạc, an vị, thì chùa trở thành đanh tiếng. Đây là nơi phát tích ra giòng dõi các vua Trần sau này. Sau khi họ Trần lên làm vua, các thân vương được cắt đất phong khắp nơi, nhưng mỗi thân vương đều được cấp một mảnh đất nhỏ ở Tức-mặc, gọi là cố trạch, có nghĩa là đất cũ.

Đúng như lời tiên đoán của Minh-Không Bồ tát, sau khi an vị vạc Phổ-minh, vùng Tức-mặc quy liễm được nhiều khí thiêng của trời Nam, nên đức thánh Trần mới giáng sinh, đánh bại Mông-cổ ba lần.

Đức thánh là con của An-sinh vương Liễu, sau khi thắng giặc, vua Nhân-tông cắt nhiều ấp giầu có phong cho ngài, ngài không nhận, và vẫn ở Yên-bang là ấp của An-sinh vương. Tại Tức-mặc, cố trạch của ngài nằm ngay cạnh chùa Phổ-minh.

Niên hiệu Thiệu-long thứ nhì (1262) đời vua Trần Thánh-tông, dựng cung Trùng-quang ở gần và cho tu sửa chùa, làm chỗ nghỉ ngơi của Thái-thượng hoàng.

Niên hiệu Hưng-long thứ 13 (1305) đời vua Trần Anh-tông, cho xây tháp 14 tầng trên 12 bậc gạch, cao hơn 20 mét bằng đá quý, gạch nung trang trí hình rồng lượn, với chữ “Hưng-long thập tam niên”.

Sau khi vua Trần Nhân-tông băng hà, nhục thể đem thiêu, triều đình đem bẩy viên xá lợi đặt trong tháp để thờ phụng. Chính vua Trần Minh-tông có thơ đề: “Đề Phổ-minh tự thủy tạ”:

Huân tận hương đầu mãn tọa hương,
Thủy lưu sơ khởi bất đa lương.
Lão dung ảnh lý tăng khai bế,
Đệ nhất thiền thanh thu tứ trường.

Đào Thái-Tôn dịch như sau:

Đề ở nhà thủy tạ chùa Phổ-minh.
Hương cháy ngàn tăm khắp chốn thơm,
Nhẹ trôi dòng nước khói lan nồng.
Đa già rợp bóng, sư cài cửa,
Một tiếng ve kêu, thu rộn buông.

Năm 1426, Vương Thông bị Bình-Định vương Lê Lợi đánh bại, có người mách với y rằng: sở dĩ người Việt nổi lên bại được quân Minh là do Nam-thiên tứ khí. Vương Thông sai quân hủy vạc Phổ-minh cùng với đỉnh tháp Báo-thiên, tượng phật Quỳnh-lâm, nói thác rằng để đúc súng đạn.

Tiến-sĩ Bùi Huy-Bích (1744-1818) có bài thơ “Du Phổ-minh tự”:

Loạn hậu trùng tầm đáo Phổ-minh,
Nhàn hoa dã thảo mãn nham quynh.
Bi văn tước lạc hòa yên bích,
Phật nhãn thê lương chiếu dạ thanh.
Pháp giới dữ đồng thiên quảng đại,
Thổ nhân do thuyết địa anh linh.
Liêu liêu cổ đỉnh kim hà tại?
Thức đắc vô hình thắng hữu hình.

Ngô Đức-Thọ dịch như sau:

Sau loạn tìm về đến Phổ-minh,
Hoa đồng cỏ nội ngút trời xanh.
Văn bia sứt mẻ nhòe mây khói,
Mắt Phật âu sầu chiếu ngũ canh.
Cõi phép cùng trời bao rộng lớn,
Người đây vẫn nói đất linh thiêng.
Não lòng đỉnh cổ rầy đâu tá?
Mới biết vô hình thắng hữu hình.

Hiện nay (2001) vạc không còn nữa, nhưng tháp, chùa Phổ-minh vẫn còn đó. Chùa, tháp cùng vời đền thờ các vua Trần, đền thờ Hưng-Đạo vương ở cạnh nhau. Du khách muốn hành hương, có thể dùng xe, đi về hướng Bắc thành phố Nam-định, qua khu Lò-trâu, tới những đoạn sông Vỵ-hoàng chỗ còn, chỗ bị lấp, rồi quẹo trái là đến khu di tích lịch sử này. Đầu tiên là cái sân ngoài, có cây đa cổ. Qua lần cổng thứ nhất tới cái hồ. Đi vòng qua bờ phải hồ tới đền thờ đức thánh Trần. Vòng qua trái hồ là đền thờ các vua Trần. Bên trái đền thờ vua Trần là tháp và chùa Phổ-minh. Trong đền thờ đức thánh Trần cũng như các vua Trần. Hai đền, chùa, tháp còn giữ được khá đầy đủ tượng, câu đối, hoành phi cổ. Nếu đi sâu vào Tức-mạc còn có lăng đức thánh Trần và vương phi, nhưng lăng này là lăng vọng, chứ không phải lăng thực.

Độc giả muốn thâm cứu về chùa, tháp Phổ-minh, có thể đọc thêm các sách:

Trung-quốc: Quách-thị Nam-chinh, Triệu-thị chinh tiễu Giao-chỉ ký, Giao-chỉ linh thần kỷ sự.

Việt-Nam: Đại-Việt sử ký toàn thư (đệ ngũ kỷ), Hoàng-Việt nhất thống địa dư chí, Đại-Việt địa chí, Nam-định tỉnh địa dư chí, Phương-đình mạn hứng tập, Tồn thi cảo, Đại-Nam nhất thống chí, Đồng-Khánh địa dư chí lược, Toàn Việt thi lục.

Thần khí thứ tư:

Tinh hoa của Hoa-hạ là một con trâu bằng vàng nằm ở trong lòng núi Thái-sơn. Biết bao đời, các anh hùng Trung-nguyên thi nhau bắt giữ nó mà không được. Nguyên thời vua Thần-Nông mới định thiên hạ, ngài quy liễm linh khí sơn xuyên, giang hà, cương vực, nhật nguyệt, tinh đẩu xuống núi Thái-sơn. Cho nên đá trong lòng núi kết tinh thành con trâu vàng. Khi thiên hạ thanh bình, hoặc có chúa thánh ra đời, thì những đêm trăng sáng con trâu vàng thường chui ra khỏi núi, bay lửng lơ trên các ngọn cây, ánh sáng chiếu rực một vùng. Tại núi Thái-sơn có mỏ đồng đen, các nhà phong thủy Hoa-hạ nói rằng đồng đen là mẹ vàng. Chính đồng đen đã kết tinh thành trâu vàng. Cho nên vua các đời đều thu nhặt đồng đen ở núi Thái-sơn cất trong kho, rồi làm phép trấn yểm, để giữ cho con trâu vàng không rời núi. Bởi trước đây, đã có lần Ngũ-hồ ở phương Bắc làm cách nào không biết, họ gọi được con trâu vàng rời Thái-sơn về với họ. Từ đấy Ngũ-hồ thay nhau chiếm Trung-nguyên làm vua, sử gọi là Ngũ-hồ loạn hoa.

Truyền thuyết nói rằng: hai thánh tăng đem đồng từ Tống về đúc quả chuông, đánh lên, tiếng vang rền không gian. Không biết các ngài đánh thế nào, mà con trâu vàng nằm trong núi Thái-sơn tưởng tiếng mẹ gọi, vùng chạy về Đại-Việt. Khi về đến nơi, không thấy mẹ đâu, nó nhảy lung tung, thành ra đất lún, khiến hồ Tây trở thành rộng hơn đến mấy mẫu?

Sự thực như thế này. Ngài mang đồng từ Tống về, đầu tiên đúc tượng phật Quỳnh-lâm. Khi linh khí tượng tỏa hào quang trấn quốc rồi, ngài mới đúc vạc Phổ-minh. Vạc Phổ-minh an vị, linh khí chư bồ tát, chư thần chiếu xuồng sáng rở trời Thiên-trường. Bấy giờ các ngài mới đúc đỉnh tháp Báo-thiên cùng một lúc với quả chuông lớn gọi là chuông Ngân-thiên. Chuông mang tên Ngân-thiên, vì vì tiếng vang tới trời. Sau khi đỉnh đưa lên tháp, thần linh tụ về, ngài mới làm phép, đánh chuông, tiếng chuông vang rền, khiến con trâu vàng nằm ở trong núi Thái-sơn chạy bổ về Đại-Việt. Khi về đến nơi, ngài làm phép, khiến nó bị sa lầy ở hồ Tây. Ngài bèn bỏ 90 thẻ đồng, khắc tinh hoa võ thuật các phái của Đại-Việt vào một quả chuông nhỏ, rồi lấy dây buộc chân trâu với quả chuông. Sau đó ngài làm phép, ném quả chuông xuống đáy hồ, rồi nguyền rằng: “Nhà nào một vợ một chồng, đẻ mười con trai, thì ra kéo được cái chuông với con trâu vàng”. Từ đấy, đêm đêm, dân Thăng-long thường thấy con trâu vàng đi lập lờ trên mặt hồ Tây.

Như vậy là tinh hoa hồn nước của Hoa-hạ đã bị chuyển về Đại Việt.

Ghi chú: Thăng-long cổ tích khảo lại chép rằng: Đền Kim-ngưu ở thôn Tây-hồ, phường Võng-thị, Thăng-long; nay thuộc quận Ba-đình, Hà-nội. Tương truyền hồi Cao Biền làm An-Nam đô hộ phủ, thường đi khắp các danh lam, địa linh nước ta đặt bùa yểm long mạch. Khi Biền đào sông yểm núi Long-đọi (huyện Duy-tiên, tỉnh Nam-Ninh), sơn thần núi ấy thấy nguy, hóa hình thành con trâu vàng, bơi qua sông Đường-giang lên phía Bắc, rồi dừng lại ẩn náu ở vùng hồ Tây gần thành Đại-la (Thăng-long). Những đêm trời đẹp, dân chúng thấy trâu vàng hiện lên ở bãi sông. Nhân đó lập đền thờ.

Thuyết này không hợp với các sư kiện lịch sử. Vậy quả chuông Ngân-thiên, ngài để đâu? Phép mầu của chuông là gì, có giống tượng phật Quỳnh-lâm, vạc Phổ-minh, đỉnh tháp Báo-thiên không?

Sau khi đánh chuông gọi trâu vàng về Thăng-long. Hai ngài sai chở chuông đem về chùa Chúc-thánh trên núi Phả-lại, thuộc lộ Đông-triều.

Điều thắc mắc là ngài Minh-Không tu ở chùa Chúc-thánh. Tại sao ngài không đúc chuông tại đây, mà đúc ở Thăng-long rồi chở về chi cho tốn sức Phật-tử?

Nguyên do như thế này. Chùa Chúc-thánh là nơi xuất thân của Minh-Không bồ tát. Sau khi dùng chuông Ngân-thiên gọi con kim ngưu từ núi Thái-sơn về hồ Tây, ngài Minh-Không, Đạo-Hạnh thấy rằng thần linh Đại-Việt tuy nhiều, nhưng ác quỷ, ác ma không thiếu. Lại nữa sau những lần chiến tranh Hoa, Việt, binh tướng Trung-quốc bỏ mình tại Đại Việt không biết bao nhiêu mà kể. Một số đã trở về quê quán, một số đã đi đầu thai. Một số vì quá uất ức không siêu thoát được, vẫn chập chờn đi lại trên đất nước ta. Hai ngài bèn chiêu hồn họ về chùa Sùng-khánh Báo-thiên để làm chay giải oan cho họ. Khốn thay, có một số không tuân, cứ vơ vẩn chờ quân Tống đến Thăng-long là trợ giúp. Các ngài đành thu tất cả hồn phách họ vào chuông Ngân-thiên rồi dùng thuyền chở về chùa Chúc-thánh. Trong khi đi đường, có không biết bao nhiêu oan hồn tử sĩ Trung-quốc trầm dưới đáy sông, không sao lên được. Chúng làm sóng làm gió giúp quân Tống. Vì vậy, hai ngài đành tùng quyền thu hết hồn chúng vào trong chuông, rồi ném xuống sông Lục-đầu.

Thế bọn ma quỷ này là oan hồn tử sĩ trận nào vậy?

Xin thưa, họ chết trong trận đánh biển Đông giữa công chúa Gia-Hưng Trần Quốc với Nam-an hầu Đoàn Chí, trận Lãng-bạc, hai trận Bạch-đằng, vào thời Lý làtrận đánh Khâm, Liêm.

Ghi chú: Nhiều thuyết nói rằng Nam-thiên tứ khí là:

– Tượng phật Quỳnh-lâm,
– Đỉnh tháp Báo-thiên,
– Vạc Phổ-minh,
– Chuông Quy-điền,

Thực lầm lớn.

Vì chuông Quy-điền không do ngài Minh-Không, Đạo-Hạnh đúc.

Chùa Chúc-thánh còn gọi là chùa Phả-lại. Đây là một trong những ngôi chùa danh tiếng trong Thiền-sử Việt-Nam. Chùa ở trên núi xã Phả-lại, huyện Quế-dương, tỉnh Bắc-ninh. Nay là huyện Quế-võ, tỉnh Hà-Bắc. Chùa được xây vào niên hiệu Thuận-Thiên thứ mười tám (1027) đời vua Lý Thái-tổ. Chính sư Minh-Không, Chân-Không đã tu ở đây. Sau này, vua Trần Nhân-tông đi tu cũng có lần đến đây giảng kinh.

Vị đại thần cuối đời Trần là Nguyễn Sưởng qua đây cảm tác một bài thơ nhan đề:

“Đề Phả-lại sơn tự”

Thế áp ngao đầu, thống bách man,
Chử ba cô điểu tịch dương gian.
Giang bàn lão tướng luận binh địa,
Vân ủng tiên hoàng trách tích san.
Tuế nguyệt xâm xâm phong bán lạc,
Thủy thiên mạc mạc điểu song hoàn.
Thắng du phủ ngưỡng thành trần tích,
Liêu vị bằng cao phá lữ nhan.

Huệ-chi Phạm Tú-Châu dịch như sau:

Thế đè cá dữ cắn trăm nơi,
Sóng bãi, chiều buông cánh nhạn côi.
Vua dựng gậy thiền, non khói phủ,
Tướng bàn chiến sự, bãi sông bồi.
Lá phong rụng nửa, năm theo tháng,
Chim chóc về đôi, nước lẫn trời.
Chớp mắt cuộc chơi thành dấu cũ,
Lên cao, lữ khách hãy tươi cười.

Còn rất nhiều danh sĩ làm thơ ca tụng cảnh chùa Chúc-thánh, chép hết vào đây, e dài giòng quá.

Độc giả muốn thâm cứu thêm về chùa Chúc-thánh, xin đọc thêm các sách:

Trung-quốc: Quách-thị Nam chinh, Triệu-thị chinh tiễu Giao-chỉ ký, Giao-chỉ linh thần kỷ sự.

Việt-Nam: Toàn Việt thi lục, Lã-Đường di cảo, Hoàng Việt thi tuyển, Nam Việt địa dư chí, Hoàng Việt địa dư chí, Thiền-uyển tập anh, Đại-Nam nhất thống chí, Bắc thành địa dư chí, Bắc-ninh tự miếu bi văn, Bắc-ninh toàn tỉnh địa dư, Đồng-Khánh địa dư chí lược, Nam sử lược biên.

Share this post