Anh Hùng Đông A – Gươm Thiêng Hàm Tử (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 94

Anh Hùng Đông A – Gươm Thiêng Hàm Tử (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 94

ANH HÙNG ĐÔNG A – GƯƠM THIÊNG HÀM TỬ
* Tiểu Thuyết Lịch Sử
* Tác giả: Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ
* Nguồn: Blog Trần Đại Sỹ (https://trandaisy.wordpress.com)

* Để đọc những phần đã đăng, xin vào khung Search this site (Tìm Kiếm) và gõ tên tác giả: Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ.

HỒI THỨ CHÍN MƯƠI BỐN
An Nam tứ đại thần khí

Hoài Văn hầu đọc sơ qua thẻ đồng rồi nói một mình:

– Hai tên Vuông, Tròn chắc chắn là bậc chú, bậc ông ta. Dù ta có đem chứng cớ về tố giác với triều đình. Với tinh thần gia tộc giòng họ Đông a, Thượng hoàng cũng không giết hai tên này. Mà có khi ta bị chúng hại ngầm cũng nên. Bây giờ ta tạm mượn nơi này làm chỗ luyện võ. Trước hết ta hãy luyện nội công Âm nhu, rồi sẽ luyện Mê linh kiếm pháp. Sau khi ta có bản lĩnh nghiêng trời lệch đất, ta sẽ tìm hai tên khả ố Vuông, Tròn hỏi tội chúng.

Đã quyết định, hầu luyện nội công Âm nhu. Vì đã luyện thành Vô ngã tướng thiền công, nên hầu luyện nội công Âm nhu rất mau. Không đầy 6 tháng hầu đã luyện hết, bắt đầu luyện Mê linh kiếm pháp.

Hồi ở Trường sa, hầu đã được thân mẫu dạy 72 chiêu căn bản. Rồi phụ thân dạy Kinh Dịch, hầu biến 72 chiêu thành âm, dương hóa ra 144 chiêu. Âm dương biến thành tứ tượng 576 chiêu. Tứ tượng thành bát quái 4.608 chiêu. Mẫu thân muốn dạy hầu biến tam hư, là 13.824 chiêu, thất thực 32.256, cộng chung 46 080 chiêu, nhưng hầu học không được. Bây giờ nội công thâm hậu, hầu luyện lại 72 chiêu căn bản dễ dàng. Từ 72 chiêu, hầu biến thành Âm, Dương, Bát quái không khó. Hầu đọc kỹ rồi biến các chiêu tam hư, thất thực. Phải mất 6 tháng nữa hầu mới luyện xong.

Hầu cầm thanh Thượng phương bảo kiếm vận khí viết lên vách đá mấy chữ:

Đông a Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản
Bị giam vào đây ngày rằm tháng 2, niên hiệu Thiệu Bảo thứ hai.
Trải 2 năm, 6 tháng, 9 ngày…

Nét khắc sâu hằn vào đá. Một ý nghĩ thoáng qua:

– Tại sao ta không dùng kiếm khoét lỗ vào vách đá rồi leo lên khỏi giếng, thoát cảnh tù đầy?

Nghĩ là làm. Hầu chĩa kiếm vận âm kình khoét vào tảng đá cao ngang đầu. Miếng đá rộng bằng bàn tay bị khoét sâu khoảng hơn đốt ngón tay, rơi xuống. Hầu lại khoét miếng thứ nhì ngang với miếng thứ nhất, rồi vọt người lên, hai chân móc vào hai lỗ vừa khoét. Nhưng không có chỗ bám, nên hầu chơi vơi rơi xuống.

Con vượn tiến đến bên Hầu, nó chỉ vào vai, rồi hú lên. Hiểu ý nó, hầu nhảy lên vai nó, rồi khoét vào tảng đá cao hơn hai đầu người hai lỗ nữa. Hầu vừa khoét xong, nó tung mình lên hai lỗ đầu, tay bám vào hai lỗ thứ nhì. Quốc Toản tung mình lên vai nó rồi khoét hai lỗ thứ ba. Hầu vừa khoét xong, con vượn tung mình lên, tay bám lỗ thứ ba, nó phi thân lên cao, đã đáp xuống bờ giếng. Tay nó cầm cái thang dây ném xuống. Hầu theo thang dây lên trên.

Con vượn nhảy nhót hú lên lanh lảnh tỏ ra vui mừng. Ngay bờ giếng, có cái cọc sắt to bằng cổ tay. Con vượn reo lên, rồi nó nhổ cọc. Thì ra đó là cái côn sắt. Nó cầm côn múa vù vù. Hầu nhận ra đây là một bài trượng pháp của phái Tiêu sơn. Múa xong, nó trao cọc cho hầu. Hầu cầm côn, thấy khá trầm trọng. Trên côn có khắc chữ, cạnh có hình bông sen:

“Thiết côn này đúc cho Bạch Viên, dài 1 trượng, nặng 50 cân”.

Hầu tỉnh ngộ:

– Bông sen là biểu hiệu của Bồ tát Viên Chiếu. Thì ra con Bạch Viên này sống đồng thời với Bồ tát Viên Chiếu. Như vậy nó đã trên 200 tuổi. Không biết ai lấy côn của nó chôn ở đây rồi giam nó dưới giếng? Và giam bao giờ?

Hầu nghĩ:

– Tuy ta đã học được Vô ngã tướng thiền công, nội công âm nhu, kiếm pháp Long biên. Nhưng như vậy cũng chưa đủ. Ta phải tiếp tục ở tù để luyện thêm võ công nữa rồi hãy ra khỏi đây. Chứ ta rời khỏi chỗ này, biết về đâu? Làm gì có chỗ yên tĩnh để luyện võ?

Nghĩ vậy, hầu nói với Bạch Viên:

– Bạch Viên. Chúng ta không nên rời đây vội. Hãy xuống giếng một thời gian nữa.

Hầu cầm lấy cây côn sắt từ tay Bạch Viên cắm lại chỗ cũ, rồi cả hai thòng sợi dây tụt xuống giếng. Để xóa các hố khoét trên vách, hầu đem mấy viên đá trám vào chỗ cũ.

Biết đã có thể rời khỏi cái giếng, hầu mừng chi siết kể! Hầu ngồi tần ngần với 90 cái thẻ đồng, suy nghĩ:

– Bố ta đã dạy ta 36 chiêu trong Đông a chưởng pháp. Nếu sau này đối chiêu với hai tên Vuông, Tròn, chúng xử dụng Đông a chưởng thành thạo thì ta đấu không lại chúng. Bây giờ công lực ta cao thâm. Ta cần luyện bộ chưởng nào khác lạ hơn.

Hầu lật từng thẻ đồng một, xét kỹ rồi quyết định:

– Trong rừng võ học, còn hai pho chưởng tinh diệu hơn Đông a chưởng là Mục ngưu thiền chưởngTán-cốt lạc phách tiêu hồn chưởng.

Hầu đọc thẻ đồng:

Năm mươi năm trước, Bố-đại hòa thượng, tức Phật Di-Lặc giáng sinh làm người Việt. Một lần người hợp Phục-ngưu thần chưởng âm dương lại dậy cho phò mã Thân Thiệu-Thái, mang tên Mục-ngưu thiền chưởng, dùng nội công là Vô-ngã tướng. Công chúa Bảo-Hòa đứng cạnh theo dõi, cũng lĩnh hội được. Nhưng công chúa chưa luyện Thiền-công, hơn nữa người không bỏ ra ngoài được Ngũ-uẩn, Lục-tặc, thành ra khi phát chiêu, nhìn bề ngoài thì giống nhau, mà sát thủ lại khác. Nếu Mục-ngưu thiền chưởng của phò mã Thân Thiệu-Thái khi phát chiêu chính đại quang minh; thì công chúa Bảo-Hòa, phát chiêu ba phần âm, ba phần dương, bốn phần hỗn tạp. Ba loại đó cực kỳ bá đạo. Người nào trúng phải, thì thịt, xương, chỗ thì bị xé nát, chỗ thì bị nghiền như bị dã chả, xương thì vỡ như bột. Bấy giờ Bố-Đại hòa thượng phải than rằng, chưởng này mà lưu truyền rộng, thì võ lâm sẽ gặp tai kiếp không biết đâu mà lường. Ngài đặt tên chưởng là Tán-cốt Lạc-phách Tiêu-hồn chưởng. Gọi tắt là Tán-lạc hồn chưởng. Mười chiêu Mục ngưu với 10 chiêu Tán lạc hồn chưởng mang cùng tên. Nhưng khi xử dụng hoàn toàn khác nhau.
Sơn trung tầm ngưu (Trong núi tìm trâu).
Kiến tích dã ngưu (Thấy vết trâu hoang).
Lâm trung kiến ngưu (Thấy trâu trong rừng).
Đắc ngưu hội thủ (Bắt trâu đem về).
Mục ngưu ư dã (Chăn trâu ở đồng).
Kị ngưu qui gia (Cỡi trâu về nhà).
Vong ngưu tồn nhân (Trâu mất, người còn).
Nhân ngưu câu vong (Người và trâu đều mất).
Phản bản, hoàn nguyên (Trở về cội nguồn).
Nhập triền, thụy thủ (Buông tay, vào chợ).

Hầu luyện chiêu đầu tiên: Sơn trung tầm ngưu. Hầu vận khí phát lực, nhưng chưởng không ra. Suy nghĩ, rồi luyện lại, phát cũng không ra. Hầu nghĩ:

– Đây là những chiêu võ công phát xuất từ cửa Phật. Mà ta vận khí âm nhu, thì chưởng không ra là phải. Nghĩ vậy Hầu không tâm, vận Vô ngã tướng Thiền công, rồi phát chiêu. Quả nhiên chưởng phong có ra, mà không mãnh liệt.

Hầu đọc lại Tổng khẩu quyết:

Mục ngưu thiền chưởng đi từ Thập mục ngưu đồ, tương ứng với quá trình hành đạo của một người phát nguyên đạt đến sự giác ngộ và bên trong ẩn giấu những tinh hoa của Phật giáo. Khi luyện phải biết mượn hình ảnh chăn trâu để diễn tả về quá trình “minh tâm kiến tính” tức con trâu là cái bản ngã của ta được ví như một con vật. Nguồn gốc của Thiền tông chính là nằm ở khái niệm nhận biết về sự tồn tại của vật dĩ.

Hầu đọc khẩu quyết của chiêu Sơn trung tầm ngưu:

Mang mang bát thảo khứ truy tầm. Thủy khốt sơn dao lộ cánh thâm. Lực tận thần bì vô xứ mịch. Đãn văn phong thụ vãn thiền ngâm.

(Nao nao vạch cỏ kiếm tìm trâu. Núi thẳm đường xa nước lại sâu. Kiệt sức mệt nhoài tìm chẳng thấy. Thoáng nghe trong gió tiếng ve sầu).

Chúng ta đi tìm lẽ giải thoát, đi tìm Phật, như người vào rừng tìm trâu. Đi hoài, chỉ thấy này cây, này hoa, này cỏ. Càng tìm càng vô vọng. Trâu ở đâu, nào có thấy? Như chúng sinh đi tìm Phật vậy. Phật ở đâu mà tìm? Tìm đến bao giờ? Thực giống như nằm mơ, phiêu phiêu, tưởng tưởng.

Hầu tỉnh ngộ:

– Bản chất của chiêu này là không tâm. Mà ta cứ chú ý vào hình Mục ngưu đồ thì sao thành công?

Nghĩ vậy hầu tập trung bỏ hết Lục tặc: nhãn, nhĩ, tỵ, thiệt, thân ý rồi phát chiêu. Vù một tiếng, chưởng phong trúng vào cánh cửa sắt của chuồng Bạch Viện. Cánh cửa bị bật tung vào trong. Hầu bước lại: những song sắt to bằng cổ tay cong queo.

Biết đã thành công, vốn bản tính kiên trì, hầu luyện chiêu ấy suốt ba ngày. Thấy kết quả, hầu luyện sang chiêu thứ nhì Kiến tích dã ngưu.

Chiêu này hầu phải luyện trong 5 ngày mới được hai thành. Bền chí, hầu luyện trong suốt 6 tháng mới xong 10 chiêu.

Bản tính không tham lam, thấy mình học như vậy cũng đủ rồi. Hầu lại xuống hầm, quỳ xuống khấn:

– Nam mô Minh Không bồ tát. Đệ tử may mắn được chiêm ngưỡng di thể của Bồ tát, được học võ công trong di thư. Đệ tử nguyện đem hết tâm trí ra để hoằng dương đạo pháp của đức Thế Tôn, để bảo vệ Đại Việt.

Hành đủ tám lễ, rồi hầu lên khỏi hầm, vận cơ quan cho nắp hầm đóng lại. Hầu tính đốt ngón tay: mình xuống dưới giếng này thấm thoát đã hơn 2 năm. Bây giờ mình phải ra khỏi đây, để tính tội bọn mãi quốc cầu vinh.

Có tiếng ho, rồi cái người hằng ngày cho hổ ăn xuất hiện. Như thường lệ, mỗi khi thả hổ ra y cảnh cáo hầu:

– Cậu bé kia! Tôi sắp mở cửa chuồng thả hổ ra. Mau vào hang đá bằng không hổ ăn thịt đấy.

Nói rồi y kéo cái cần thép. Cánh cửa chuồng hổ mở ra. Y ném xuống hai tảng thịt rồi bỏ đi.

Hai con hổ gầm gừ ra khỏi chuồng. Con hổ đực quật đuôi xuống đất, nhảy tới vồ hầu. Hầu tung người lên cao. Con hổ vồ hụt. Hầu đáp trên lưng hổ, như cỡi ngựa. Con hổ gầm gừ lồng lộn, muốn hắt hầu khỏi lưng nó. Hầu chụp bả xương hai tay nó bóp mạnh. Một luồng nội lực từ vai con hổ theo tay cuồn cuộn nhập vào người hầu. Hầu nghĩ thầm:

– Thì ra hai con hổ này không biết ai đã dạy nội công cho nó. Nên mình dùng Vô ngã tướng thiền công kiềm chế nó, thì nội lực của nó bị mình hút hết.

Hầu qui liễm chân khí hấp được vào đơn điền. Bị hút hết nội lực, bị bóp đau, con hổ rống lên rồi khuỵu bốn chân xuống, tỏ vẻ khuất phục. Con hổ cái thấy chồng bị kiềm chế, nó nhảy lên vồ hầu. Hầu đứng dậy phát chiêu cầm nã thủ chụp hai chân trước nó. Chân khí từ chân nó cuồn cuộn tràn vào người hầu. Thoáng một cái, chân khí nó bị kiệt. Hầu quẳng nó xuống cạnh con đực.

Hối hận, hầu than:

– Hổ ơi! Người với ta tuy cùng bị giam trong giếng này thân phận có khác nhau. Nhưng suốt hai năm qua, chúng ta là bạn. Vừa rồi ta vô tình làm người bị tuyệt hết chân khí. Ta ân hận vô cùng.

Trời đã mờ mờ sáng. Trở lại động đến trước cái cửa đá vuông, hầu suy nghĩ:

– Ta phải vào trong động này xem Bồ tát Minh Không có cất gì không?

Hầu vận sức đẩy mạnh. Cánh cửa từ từ lùi vào. Thì ra đó là một tảng đá. Bên trong có một đường hầm. Hầu đeo kiếm, đốt ngọn nến, kéo tảng đá lại như cũ, rồi theo đường hầm đi. Đến hết đường hầm, thì hiện ra một cái hố nước, một ngã rẽ về phía phải. Hầu tiếp tục đi. Đường hầm khá dài. Khoảng gần trăm trượng có bậc đá đi lên. Đi hơn trăm bậc thì đường cụt. Phía trước là một tảng đá chắn ngang, ánh sáng lọt vào chói chang. Hầu hít hơi, vận khí đẩy mạnh, tảng đá hơi nhúc nhích. Hầu không tâm vận Vô ngã tướng Thiền công đẩy nữa. Tảng đá chuyển sang phải. Không khí trong lành ùa vào. Hầu reo lên chui ra khỏi hầm. Thì ra cửa hầm trổ ra vách ngọn đồi. Ánh sáng ban mai, làm hầu quáng mắt. Hầu đứng trên sườn đồi nhìn về trước: toàn bộ khu trang trại rộng mênh mông. Xa xa có ba toán võ sinh đồng phục đang luyện ngoại công. Hầu tự hỏi:

– Có lẽ đây là tổng đàn một võ phái nào thì phải.

Quan sát những chiêu số võ sinh luyện tập, hầu trấn động tâm thần vì họ luyện võ công Đông a. Hầu nghĩ:

– Đúng như mình đoán. Bọn bắt giam mình là người nhà. Có thể y là hai tên khả ố Vuông, Tròn. Không chừng y là chú, là ông chú, ông bác mình. Không lẽ đây là tổng đàn phái Đông a?

Xa xa là cái hồ trước ngôi dinh thự bốn tầng.

Trời đã sáng hẳn.

Có bốn người, đi trên hai cái xe, do hai con bò kéo tiến về phía đồi. Hai người mặc võ phục mầu xanh. Hai người mặc võ phục mầu tím. Hầu tìm chỗ ẩn thân. Khi hai cái xe tới chân đồi, bốn người xuống xe, tay vác búa chia nhau đốn cây, bó thành từng bó xếp lên xe. Hầu mỉm cười:

– Thì ra bọn này đi đốn củi. Ta phải bắt bọn này tra hỏi xem tên chủ việc bắt giam ta là ai?

Rời chỗ nấp, hầu lững thững lại chỗ hai cái xe, khoan thai leo lên ngồi. Chợt một người áo tím quay lại thấy hầu. Y lên tiếng:

– Người là ai?

Hầu giả ngây, mắt mở trừng trừng không trả lời.

Cả bốn người cùng ngừng tay quay lại nhìn Quốc Toản. Một người nói:

– Dường như một tên si ngốc, đầu bù tóc rối. Y phục dơ bẩn. Hắn ở đâu lọt vào đây?

Người áo tím tiến tới xe quan sát Quốc Toản:

– Thì ra một tên si ngốc, dơ bẩn. Mi là ai? Từ đâu đột nhập vào đây?

Quốc Toản vẫn mở mắt trừng trừng nhìn y. Y xuất một chiêu hổ trảo chụp vào vai hầu. Hầu vận công chịu đòn. Khi tay người áo tím chạm vào vai hầu, y cảm thấy như chụp vào phiến đá. Y kêu lên tiếng “úi chao” tỏ ra đau đớn. Quốc Toản vận Vô ngã tướng Thiền công. Công lực của y cuồn cuộn chuyển vào người hầu. Không đầy mười tiếng đập tim, công lực kiệt quệ, y ngã ngồi xuống. Hầu phóng hai chỉ điểm huyệt y. Một người áo tím khác hỏi:

– Quốc Minh! Cái gì vậy?

– Không biết nữa! Có lẽ tên này dùng tà thuật. Quốc Đức ơi! Công lực tôi mất hết rồi.

Quốc Đức quan sát Quốc Toản thực kỹ rồi vung tay tát vào mặt hầu. Quốc Toản vẫn ngồi im, xòe bàn tay ra đỡ. Hai bàn tay chạm nhau, Quốc Đức kinh hoảng khi thấy chân khí mình cuồn cuộn bị hút mất. Không quá 6 tiếng đập tim, đến lượt Quốc Đức ngã ngồi xuống. Quốc Toản phóng chỉ điểm huyệt y. Y lên tiếng gọi:

– Minh Hòa, Minh Chiêu! Mau bắt tên phù thủy hôi thối này.

Hai người áo nâu đứng ngoài quan sát từ đầu đến cuối. Bây giờ nghe Quốc Đức kêu cứu, cả hai đứng trung bình tấn, rồi tay bắt ấn:

– Mi là ma, hiện ra nhát chúng ta hả? Ta không sợ đâu.

Quốc Toản bật cười, hầu thè lưỡi ra, miệng khè khè mấy tiếng. Người áo nâu quát:

– Mi là người hay là ma?

– Là ma! Ma đói.

– Là ma sao ta bắt quyết mi không biến đi?

– Ta là ma rừng không sợ quyết.

– Nói láo!

Hai tên Minh Hòa, Minh Chiêu múa búa tấn công. Quốc Toản tung mình lên cao, rồi điểm xuống hai chỉ. Véo, véo hai tiếng, trúng huyệt Bách hội. Hai gã Minh cứng đơ trong tư thế cầm búa dơ ra trước mặt. Quốc Toản xách cả bốn người đem vào hang đá, để ngồi thành một hàng, rồi giải huyệt cho chúng. Vì mất hết công lực, cả bốn người uể oải như người bệnh. Quốc Toản cười hì hì. Hầu cầm cái búa, vận công Âm nhu rồi chém vào một tảng đá. Chít một tiếng, tảng đá bị chẻ làm đôi êm đềm như cắt củ chuối vậy. Hầu cầm búa ướm thử vào đầu hai tên Minh:

– Này hai vị huynh đệ! Nếu tôi bổ xuống đầu hai anh, hai nhát búa thì cái gì sẽ xẩy ra nhỉ?

Minh Hòa run run nói lắp bắp:

– Lọ là phả hỏi, đầu chúng tôi sẽ bị chẻ làm đôi. Nhưng trường hợp này chẳng ích lợi gì cho nhân huynh.

– Tôi cần biết về tổ chức của trang trại này. Nếu hai người khai thực thì tôi sẽ thả ra. Bằng nói dối nửa câu, tôi sẽ bổ đầu hai huynh thành đôi.

– Chúng tôi thề không nói dối!

– Trước hết Minh Chiêu cho tôi biết đây là cơ sở gì? Ai là người đứng đầu?

– Đây là trường Lạn kha. Trường này do Thái úy Chiêu Minh vương Trần Quang Khải thành lập để đào tạo cấp Lượng trưởng, Vệ trưởng, Đô trưởng cho các hiệu binh toàn quốc.

– Những người như thế nào thì được nhập trường này?

–Trước hết là con em trong giòng họ Đông a. Dù được phong tước vương, tước hầu cũng phải nhập trường học rồi mới được trao chức võ. Thứ nhì là các cấp ngũ trưởng, lượng trưởng, đô trưởng nếu có chiến công, có tài năng thì được nhập học. Học xong sẽ được thăng vệ úy, tá lĩnh.

– Các học sinh sẽ học gì?

– Thứ nhất học hành binh, bố trận, học chỉ huy, học binh pháp. Sau đó phải học võ. Đây là trường huấn luyện bộ binh. Còn trường về Ngưu binh thì học ở Trường yên. Học về Thủy quân, Ngạc binh thì ở Đồn sơn. Học về Kỵ binh thì ở Phù đổng.

– Ai là người thống lĩnh trường này?

– Trên danh nghĩa thì do Chiêu Quốc vương Trần Ích Tắc quản lĩnh. Nhưng vương trao cho chú là Nhân hòa đại vương Trần Di Ái, cùng với Văn Chiêu hầu Trần Văn Lộng, Chương hiến hầu Trần Quang Kiện, Văn nghĩa hầu Trần Tú Hoãn trực tiếp chỉ huy.

– Thế bốn người là hoàng tộc Đông a hay từ các hiệu binh nhập học?

– Chúng tôi đều là vệ úy của hiệu binh Thiên cương và Thiên thánh về học. Tháng sau ra trường được thăng tá lĩnh.

– Bốn người có biết ta là ai không?

– Không! Trên đời tôi chưa từng thấy ai trẻ tuổi mà võ công cao như người.

– Các người không biết ta là ai càng tốt cho các người. Ta hứa không làm các người đau đớn đâu! Các người thuộc hai hiệu binh Thiên cương, Thiên thánh thì là thuộc hạ cũ của cha mẹ ta. Ta nói cho các người biết, ta là Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản. Ta là cháu nội của đức Thái tông, là con của Vũ Uy vương. Khi ta từ Trung nguyên về nước thì bị tên khả ố Kiến Đao bắt cóc giam dưới cái giếng kia. Bây giờ ta thoát ra được rồi!

Hầu hỏi chi tiết đường đi nước bước của trường Lạn kha, nhắc bốn người bỏ vào trong hang, điểm vào huyệt Đại trùy, Dương lăng tuyền rồi dặn:

– Các người tạm ở đây. Khi việc của ta xong, ta sẽ thả các người ra. Nếu ta bận thì sau bốn giờ huyệt các người tự giải. Các người có thể ra về. Hy vọng sau này chúng ta còn gặp nhau.

Hầu nghĩ:

– Ta ở trong hầm hai năm qua, đầu tóc rối bù, y phục quá chật. Phải đợi trời mưa mới được ra sân tắm rửa. Người hôi hám. Ta phải tới ấp phong của anh Đại Hành, xin chị Cẩm Nhãn giúp ta may quần áo, dóc tóc cho ta. Chứ người ta hôi thối thế này mà về Thăng long thì không ổn.

Hầu dùng khinh công chạy về hướng nam. Gặp một hàng rào, tung mình nhảy ra ngoài. Hầu reo lên một tiếng, vì đó chính là con đường dẫn về ấp phong Côi sơn. Có tiếng ngựa phi. Hầu nhìn lại: một gã thiếu niên đang khoan thai lỏng buông tay khấu. Nhìn quần áo hầu biết y là một học sinh Lạn kha, chuyên về Võ học. Vì y phục của y giống hệt thằng Cả, thằng Hai, thằng Ba. Đợi khi con ngựa vượt qua, hầu tung mình lên, ngồi vào sau kị mã, tay điểm huyệt đại trùy của y. Người y cứng đơ. Hầu cảm thấy chân khí của y cuồn cuộn chuyển vào thân mình. Biết Vô ngã tướng thiền công hút nội lực của y. Hầu thu liễm vào đơn điền.

Tuy trên lưng có thêm một người mà dường như con ngựa không cảm thấy nặng nề. Nó gõ móng đều đặn, nhưng chậm một chút. Khi qua chân ngọn đồi, Quốc Toản rẽ vào một khu cây cối rậm rạp, rồi xuống ngựa. Hầu cột ngựa vào một gốc cây, nhắc kị mã xuống đặt trên đất, giải huyệt cho y. Người y mềm nhũn vì mất hết công lực. Y quát mắng:

– Mi là ai? Bắt ta để làm gì?

Nghe tiếng quát hầu nhận ra y là thằng Cả, đã đấu với hầu 2 năm trước. Nhưng sau 2 năm hầu lớn lên. Y không nhận ra hầu.

Hầu đáp lạnh lùng:

– Không vội! Lát nữa người sẽ biết ta là ai.

Thẳng Cả nhảy vọt lên phát chiêu tấn công hầu. Nhưng chân tay y vô lực. Hầu cười nhạt điểm huyệt y, ném xuống đất. Y nằm thẳng cẳng.

Hầu rút kiếm chặt một cây tre lớn gần bằng cổ tay, rồi cắt hai đoạn dài khoảng 3 gang. Hầu vót nhọn một đầu, mỉm cười với thằng Cả:

– Người hãy nhìn cho kỹ nhé.

Hầu vận sức, dùng tay trái đập trên thanh tre. Thanh tre ngập xuống đất tới chuôi. Hầu cầm thanh còn lại, ướm mũi nhọn vào ngưc trái y, tay vung lên như định nện vào chuôi. Thằng Cả kêu thất thanh:

– Đừng! Tráng sĩ đừng làm thế!

– Ta nghe nói, muốn biết người nào nói thực hay không thì đóng vào ngực trái y một ống tre. Khi hỏi, nếu y nói thực thì ống tre rung rung. Còn y nói láo thì ống tre sẽ bất động. Vì vậy trước khi hỏi mi mấy câu, ta cần đóng ống tre vào ngực mi để biết thực sự.

– Đừng! Đừng tráng sĩ đừng đóng. Tráng sĩ hỏi gì tôi xin nói thực.

– Mi tên gì? Học khoa gì tại Lạn kha?

– Tiểu nhân tên Trần Quốc Kiện, học binh pháp để chỉ huy một hiệu binh.

– Trường Lạn kha do ai chỉ huy?

– Trường được thành lập mới hơn mười năm. Người thành lập là Chiêu Minh vương Trần Quang Khải. Người trực tiếp thống lĩnh là Chiêu Quốc vương Trần Ích Tắc. Vì vương quá bận, vương trao cho chú là Nhân Hòa vương Trần Di Ái thay thế. Nhưng Nhân Hòa vương giao cho Chương Hiến hầu Trần Quang Kiện, Văn Chiêu hầu Trần Văn Lộng, và Văn Nghĩa hầu Trần Tú Hoãn chỉ huy.

– Gốc gác các ông này ra sao?

– Ông Trần Di Ái là em vua Thái tông. Ông không giữ chức vụ gì của triều đình. Ông được trao cho phụ trách dạy dỗ con cháu tộc Đông a. Con vương là Vũ Đạo Hầu Trần Cương, lĩnh Tuyên vũ sứ Thiên trường. Ông Cương là bố của Văn Nghĩa hầu Trần Tú Hoãn, thống lĩnh hiệu binh Trung thánh dực, Tổng trấn Thiên trường. Con thứ của ông Cương là Minh Thành hầu Trần Tú Huy phó thống lĩnh.

– Nhiệm vụ của ba ông này như thế nào?

– Chương Hiến hầu Kiện phụ trách đào tạo các vệ úy, tá lĩnh. Văn Chiêu hầu phụ trách đào tạo các đô thống, tướng quân. Văn Nghĩa hầu phụ trách dạy con cháu trong hoàng tộc tước hầu, tước vương chỉ huy các quân đoàn, các hiệu binh.

Quốc Toản nghĩ thầm:

– Đúng như tên Minh Chiêu khai.

Hầu hỏi tiếp:

– Trần Quang Kiện à? Y thuộc chi nào của hoàng tộc?

– Hầu thuộc giòng chính, là con của Tĩnh Quốc đại vương Quốc Khang. Tĩnh Quốc đại vương hiện là Tổng trấn nam thùy. Hầu thống lĩnh hiệu binh Thiên cương. Hầu với tôi trùng tên chỉ khác chữ lót của tôi là Quốc, của hầu là Quang.

Quốc Toản trấn động tâm can: Tĩnh Quốc vương là con cả của ông nội ta, do công chúa Thuận Thiên sinh ra. Khi xưa vương phi của An Sinh vương Liễu có thai ba tháng, thì Trung Vũ đại vương Thủ Độ ép đem vào cung làm hoàng hậu cho ông nội, để dự phòng ông nội không có con trai, thì dùng con của An Sinh vương thay thế. Quả nhiên công chúa Thuận Thiên sinh hoàng nam. Sau được phong Tĩnh Quốc vương. Vì không phải con của ông nội nên không được truyền ngôi. Cũng như phụ vương ta vì bà nội là ca nhi, nên tuy người có tài nghiêng trời lệch đất, mà không được truyền ngôi, lại phải bôn ba trấn thủ Bắc cương, rồi đi làm con tin. Tĩnh Quốc vương được trao cho trấn thủ Nam thùy.

– Còn Trần Văn Lộng, Trần Tú Hoãn y là ai?

– Văn Chiêu hầu Trần Văn Lộng, Văn Nghĩa hầu Trần Tú Hoãn là con của Nhân Hòa vương Trần Di Ái. Nhân Hòa Vương không giữ chức gì trong triều. Còn Văn Chiêu hầu Trần Văn Lộnglà người tổng trấn Trường yên kiêm thống lĩnh hiệu binh Trung Thánh Dực, Văn Nghĩa hầu Trần Tú Hoãn là người tổng trấn Thiên trường kiêm thống lĩnh hiệu binh Tứ thiên.

Quốc Toản tra hỏi chi tiết về tổ chức trường Lạn kha, thấy những gì Quốc Kiện nói đều đúng như hai tên Minh Chiêu, Minh Hòa khai. Hầu hỏi thằng Cả:

– Mi có biết ta là ai không?

– Tôi không biết.

– Hai năm trước mi từng đấu với ta tại cái giếng đá sau trường Lan Kha.

– À! Thì ra người là Tế tác Nguyên. Người là tên Thát đát con. Tưởng mi là người Việt thì ta nhún nhường, chứ mi là Tế tác Thát đát thì ta không chịu nhục. Người giết ta đi, ta không ân hận đâu.

– Mi bị tên Kiến Đao lừa rồi!

– Kiến Đao là ai?

– Là người bắt ta hôm đó.

– Người ấy là thầy Lê Tắc chứ không phải Kiến Đao.

– Thì y xưng với ta như vậy. Phải rồi, chữ Kiến với chữ Đao thành chữ Tắc. Y bịp cả mi lẫn ta.

Hầu đưa thanh kiếm Thượng phương cho thằng Cả xem:

– Mi thấy không? Đức Thái tông là ông nội ta, ban cho ta thanh kiếm này. Ta là Hoài Văn Hầu, con của Vũ Uy vương. Ta bị tên Lê Tắc dùng thủ đoạn hèn mạt bắt giam, rồi vu rằng ta là Tế tác Nguyên. Y bịp mi như thế đấy. Mi có nghe biết về Vũ Uy vương không?

– Vũ Uy vương là bác ruột tôi, nhưng tôi chưa từng gặp bao giờ. Người hiện làm vua vùng Kinh nam ở bên Tống. Phụ hoàng tôi thường không tiếc lời khen đức độ của bác Nhật Duy với bác gái Ý Ninh. Nghe nói Tống mới bị Nguyên diệt. Phụ hoàng sai hai bác sang Nguyên làm con tin. Còn con người là Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản khi về tới Tiên yên thì bị bọn thổ phỉ tàn binh Tống giết chết, ném xác xuống biển.

– Chính tên Lê Tắc bắt tôi, giam vào cái động đá trong trường Lạn kha. Chứ thổ phỉ Tống đâu có làm truyện đó!

– Không lẽ thầy Lê Tắc lại dám làm truyện phản nghịch bắt con của chú Nhật Duy như vậy? Chú Nhật Duy có nhiều chân tay tài trí, mà Lê Tắc làm vậy thì không khác gì y tự tử. Nhưng ta thấy người có thanh kiếm Đông a thì ta tin người là Quốc Toản.

– Mi biết rõ lai lịch thanh Đông a không?

– Biết. Hồi bọn Mông cổ sang đánh ta. Đức Thái tông bắt được một tên tù binh người Đức lan tư, rất giỏi thuật luyện kim. Y tên Xì Mít (Smid). Khi trao trả tù binh, y xin ở lại lấy vợ Việt, rồi được trao cho coi xưởng luyện kim. Y đúc được 2 thanh kiếm cực kỳ sắc bén dâng cho đức Thái tông. Đức Thái tông đặt tên cho thanh lớn là Đông a, thanh nhỏ là Trần tộc. Phụ hoàng truyền sứ mang thanh Đông a sang Trường sa cho Quốc Toản.

Quốc Toản thuật cho thằng Cả nghe tình hình Tống, Nguyên, rồi hỏi:

– Mi thuộc chi nào mà dám xưng là cháu của bố ta?

– Tôi thuộc giòng cả. Tôi là cháu nội của đức Thái tông, là con út của Thượng hoàng, là em của đương kim Thiệu Bảo thiên tử. Tước phong Hoài Nhân vương. Nhưng vì còn nhỏ tuổi, chưa được mở phủ đệ riêng, cũng chưa được trao cho chức văn, chức võ gì.

– Mi nói lạ, phàm các hoàng tử, thế tử khi đến tuổi 13 thì được phong tước, cho mở phủ đệ riêng, rồi trao cho chức văn, chức võ. Ngay như ta, mới sinh ra đã được phong tước Hoài Văn hầu. Tại sao mi chưa được trao cho chức văn, chức võ?

– Tôi hỏi anh nhé! Tuy anh được phong tước Hoài Văn hầu, nhưng chức văn, chức võ của anh là gì?

Quốc Toản ngớ người ra.

– Ừ nhỉ ta chỉ có tước, mà không có chức.

– Hồi đức Thái tông sắp băng, người thấy con cháu trong hoàng tộc quá đông, được phong vương, phong hầu thì nhiều người tài trí không hơn đời, mà trao chức văn, chức võ cho thì sẽ làm hỏng đại sự. Vì vậy người theo lời tâu của Chiêu Minh vương, lập trường Lạn kha, bắt tất cả con em hoàng tộc nhập học. Sau đó xét tài trí trao cho chức văn, chức võ. Tuy nhiên tước thì vẫn phong. Cho nên phụ hoàng gửi tôi vào trường Lạn kha học binh pháp, rồi sẽ trao cho chức. Nhưng ông Di Ái không ưa phụ hoàng tôi, nên chỉ cho học văn, học binh pháp chung với các con em trong hoàng tộc. Còn võ thì trao cho chú Lộng. Chú Lộng dạy tôi cho có, nên bản lĩnh của tôi quá thấp. Hừ! nhục nhã quá!

Quốc Toản đứng dậy chắp tay xá ba xá:

– Xin lỗi! Như vậy mi là vai em tôi. Chúng ta là con chú con bác. Thực đúng như tục ngữ nói: đánh nhau vỡ đầu rồi mới nhận họ. Cũng chỉ vì tên Lê Tắc. Thôi bây giờ chúng ta đường đường, chính chính đến trường Lạn kha chất vấn y.

– Không nên! Trong trường Lạn kha có hằng nghìn võ sinh với hằng trăm đại cao thủ. Chúng mình không địch lại họ đâu. Chúng sẽ vu cho anh là Tế tác Nguyên, chính anh giết Quốc Toản đoạt thanh Đông a. Chúng sẽ hô các võ sinh bao vây giết anh. Trong khi anh không nỡ giết họ, vì họ hiểu lầm. Em nghĩ anh em mình nên về Thăng long trước, để thân phận anh được Tuyên cao thái phi công nhận, rồi hãy trở lại đây cũng chưa muộn.

Quốc Toản cười khẩy, tay chỉ vào cây thông to bằng bắp đùi:

– Em sợ trong trường Lạn kha có nhiều cao thủ ư? Em coi này.

Hầu phát chiêu Phản bản hoàn nguyên trong Tán lạc hồn chưởng. Bộp một tiếng, cây thông từ từ đổ xuống. Quốc Kiện mở to mắt ra nhìn: những thớ gỗ thông quăn queo như vỏ bào, lại có những thớ nát ra như cám. Y rùng mình:

– Em nghe thời Lý, Tiên nương Bảo Hòa phát minh ra 10 chiêu Tán lạc tiêu hồn chưởng, cực kỳ hung dữ, đã thất truyền hơn trăm năm. Sao anh lại biết xử dụng? Lại nữa ban nẫy anh nắm cổ em, hút hết công lực của em. Bây giờ tuổi anh bất quá 13-14 mà đã thế này. Nếu anh tiếp tục thì năm sáu năm không ai địch lại anh nữa.

Quốc Kiện đề nghị:

– Dù gì chúng mình cũng là anh em. Chúng mình đường đường là vương, là hầu. Anh phải thay y phục, chứ quần áo anh rách rưới thế kia thì không nên xuất hiện.

Quốc Kiện móc trong túi ra một nén bạc:

– Từ đây đến thị trấn Trường yên không xa. Chúng ta đến đó mua y phục cho anh.

Hai trẻ ôm lấy nhau, cùng rơm rớm nước mắt. Hoài Nhân vương than:

– Chỉ vì Lê Tắc mà suýt nữa chúng mình giết nhau! Nào đi mua quần áo!

– Không cần. Phía trước kia là ấp phong của Tuyên uy đại tướng quân, Trung hòa hầu Nguyễn Đại Hành. Chúng ta đến đó nhờ chị Đại Hành mua quần áo cho.

– Ừ nhỉ.

(Còn tiếp Hồi 94)

Share this post