Anh Hùng Đông A – Gươm Thiêng Hàm Tử (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 95 (Tiếp theo)

Anh Hùng Đông A – Gươm Thiêng Hàm Tử (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 95 (Tiếp theo)

ANH HÙNG ĐÔNG A – GƯƠM THIÊNG HÀM TỬ
* Tiểu Thuyết Lịch Sử
* Tác giả: Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ
* Nguồn: Blog Trần Đại Sỹ (https://trandaisy.wordpress.com)

* Để đọc những phần đã đăng, xin vào khung Search this site (Tìm Kiếm) và gõ tên tác giả: Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ.

HỒI THỨ CHÍN MƯƠI LĂM
Cốt nhục trùng phùng
(Tiếp theo)

Tại dinh Quang Hòa. Di Ái, Quang Lộng với bọn Tuyên phủ ty vẫn còn ăn uống. Gã Vũ Đạt bước vào cung tay:

– Khải vương gia, trưởng sử Lê Tắc xin cầu kiến có việc cơ mật.

Di Ái ban chỉ:

– Bảo hắn ngồi chờ. Đêm khuya thế này, cơ mật gì thì cũng để đó. Sáng mai ta lên đường đi Thiên triều rồi, sao còn rắc rối!

Cả bọn tiếp tục ăn uống. Tiệc tàn, Di Ái đứng lên cung tay:

– Bây giờ kính mời bốn vị vào hậu đường, có bốn bông hoa quý nhất trấn Trường yên kính thỉnh bốn vị thưởng lãm. Nếu các vị thấy hoa thơm, tiểu vương xin dâng luôn, các vị có thể đem theo.

Trần Văn Lộng cung cung kính kính đi trước, dẫn bốn tên Thát đát vào hậu đường. Bốn tên hân hoan mở cửa bước vào phòng. Tất cả đều tưởng tượng trong phòng có thiếu nữ xinh tươi đang chờ đón.

Bốc Nhan Thiết Mộc Nhi đóng cửa, rồi tiến tới cái giường, trên giường có người trùm chăn. Như mọi lần, y nói tiếng Việt giọng lơ lớ:

– Tiên nữ ơi! Ta mải uống rượu để tiên nữ phải chờ lâu, ta thực có lỗi.

Tay y kéo cái chăn. Trên giường không phải là người đẹp mà là một con đười ươi. Y hét lên một tiếng kinh hoàng rồi lui lại. Dường như huyệt đạo được giải, con đười ươi nhảy chồm lên vồ Bốc Nhan Thiết Mộc Nhi. Y lại hét lên một tiếng kinh hoàng, rồi tông cửa ra ngoài. Y cũng nghe thấy tiếng hét của Hốt Kha Nhi, và Đường Ngột Đải.

Cả Di Ái, Văn Lộng cùng trở lại. Thấy nét mặt của ba tên Thát đát, Di Ái hỏi:

– Cái gì? Cái gì đã xẩy ra?

Cả ba gã Thát đát đều run lật bật chỉ vào phòng. Di Ái bước vào phòng của Thúy Hòa. Con đười ươi vồ y. Y tung một quyền vào ngực nó. Người nó va vào tường đá đến binh một tiếng, nó dẫy mấy cái rồi nằm im. Bên kia, Văn Lộng cũng đánh gẫy lưng con đười ươi. Đèn đuốc đốt lên sáng rực. Thị vệ gươm đao sáng choang. Di Ái vào phòng Hồng Phương, thấy gã Hốt Kha Nhi chỉ lên giường: trên giường Dì Năm nằm chình ình. Rõ ràng mụ bị điểm huyệt. Di Ái giải huyệt cho mụ rồi hỏi:

– Dì Năm! Cái gì đã xẩy ra?

– Thần thấy Hồng Phương leo qua cửa sổ trốn, thần đuổi theo bắt lại, thì bị một gã tiểu tử điểm huyệt, rồi đem vào để lên giường.

Là người thông minh tuyệt đỉnh, Di Ái đoán ngay ra:

– Có một đại hành gia đã xuất hiện, cướp ba thiếu nữ đem đi, rồi điểm huyệt hai con vượn với Dì Năm đem vào hý lộng quỷ thần.

Trần Văn Lộng than:

– Trong trấn Trường yên không có thiếu niên nào bản sự đến trình độ này. Có lẽ nó từ nơi khác tới.

Di Ái hỏi Dì Năm về hình dạng thiếu niên. Nghe Dì Năm thuật, ông ta đoán ngay ra :

– Nhất định là cái thằng Võ Kinh Hồ hồi chiều.

Văn Lộng gọi hai thị vệ:

– Người đến ấp Côi sơn, tìm gã đồ tể Đào Hiệp, hỏi cho ra lý lịch hai tên nhãi ranh, một đứa có tên Võ Kinh Hồ. Phải cẩn thận, chớ có lôi thôi với người của dinh Tuyên uy đại tướng quân Trung Hòa hầu Nguyễn Đại Hành. Vì Đại Hành đang là sủng thần của hoàng đế Chí Nguyên.

Hai thị vệ lên đường tức thì. Di Ái mời bọn Tuyên phủ ty ra đại sảnh uống trà, miệng luôn nói lời xin lỗi. Y chỉ ba tỳ nữ:

– Bọn hoa khôi trốn mất rồi. Xin các đại nhân dùng ba cô bé này thay thế.

Bốc Nhan Thiết Mộc Nhi bế bổng con Nhài lên:

– Tháng trước chúng ta đã có duyên với nhau đến 10 ngày, 10 đêm. Hôm nay lại tái hồi.

Ba tên Thát đát đem ba thiếu nữ khốn nạn vào phòng rồi. Di Ái thở phào.

Thấy Lê Tắc đứng trong đám thị vệ, Di Ái hỏi:

– Thầy Trưởng sử! Có việc gì khẩn cấp vậy?

– Khải vương gia, thằng bé Quốc Toản với con vượn bạch không biết ai cứu ra. Nó đã điểm huyệt bốn võ sinh trường Lạn Kha rồi trốn đi. Chim ưng theo dõi báo cho biết nó đi Côi sơn, rồi tới đây thì mất dấu vết.

– Bản sự nó làm bao mà điểm huyệt các võ sinh cao đẳng?

Lê Tuân góp ý:

– Nếu đúng như vậy, có thể chính nó đã cứu ba cô gái, rồi hý lộng quỷ thần.

Trong khi màn thảm kịch tại tại dinh Quang Hòa diễn ra thì trên đường về ấp Côi sơn, Quốc Toản hỏi Quốc Kiện:

– Em liệu ông Di Ái có đoán ra hành tung bọn mình không?

– Em nghĩ ông sẽ tìm ra được. Này nhé, việc anh trốn khỏi giếng đá; rồi hiển lộ võ công bắt bốn người đi chặt củi. Sau bốn giờ, huyệt họ tự giải. Chú Trần Quang Kiện, bọn Lê Tắc thẩm vấn bốn người, thì nảy ra việc anh thoát khỏi giếng. Rồi anh điểm huyệt con mụ có tên Dì Năm. Y thị tả hình dạng anh. Người thông minh như ông Di Ái, chú Lộng sẽ đoán ra kẻ cứu ba chị này là Quốc Toản. Ông đoán ra anh sẽ về Thăng long hay Cố trạch. Ông sẽ cho thiết kị đuổi theo bắt giết anh để bịt miệng. Bằng không tất cả việc bán nước của ông sẽ bị vỡ lở. Ta phải đi cho nhanh.

Hai trẻ trở lại ấp Côi sơn, thuật sơ lược những gì xẩy ra với Cẩm Nhãn, thay y phục, lấy ngựa lên đường.

Quốc Kiện than:

– Có thể chú Lộng sẽ sai thị vệ tìm Đào Hiệp điều tra về chúng mình. Liệu chúng có dám đến đây gây hấn không?

Mắt phượng mở lớn, Cẩm Nhãn nói lạnh như băng:

– Gan chúng bằng trời cũng không dám tới đây. Tước của Lộng là hầu, tước của anh Đại Hành cũng là hầu. Nhưng anh Đại Hành đang là sủng thần của Nguyên triều. Lộng không dám làm ma làm quỷ đâu. Hai em yên tâm.

Có tiếng hú lanh lảnh, rồi con vượn bạch tay cầm côn sắt từ trên cổng ấp nhảy xuống. Quốc Toản vẫy tay. Con vượn nhảy lên xe. Nó ra hiệu tỏ ý muốn thay Quốc Kiện đánh xe. Quốc Kiện trao cương ngựa cho nó.

Ba thiếu nữ thấy con vượn thì rú lên kinh hãi. Quốc Toản giảng giải:

– Bạch Viên tuổi đã trên 200, là đệ tử của Bồ tát Viên Chiếu, võ công cao thâm vô cùng, lòng dạ từ bi. Ba chị đừng sợ.

Quốc Toản lấy bộ y phục dân dã trao cho Bạch Viên:

– Người vào bụi rậm mặc y phục cho thanh nhã mới được.

Con Bạch Viên cầm y phục vào bụi cây ven đường mặc vào. Nhìn nó giống một nông dân.

Hai trẻ cỡi ngựa đi hai bên xe. Bốn ngựa rong ruổi dưới ánh trăng.

Nghĩ đến lát nữa sẽ gặp bà nội, lòng Quốc Toản rộn lên niềm hân hoan khó tả. Dưới ánh trăng mười sáu, hai ngựa hộ vệ một xe long cong lăn bánh. Xe đi hơn giờ thì Quốc Kiện chỉ vào ngọn tháp xa xa:

– Kia là tháp Phổ minh. Chúng ta sắp tới Cố trạch rồi.

– À, tháp có cái vạc do Bồ tát Minh Không đúc vào thời Anh vũ Chiêu thắng đời Lý Nhân Tông phải không? Vạc là một trong An Nam tứ đại thần khí. Anh nghe bố mẹ nói hoài nay mới được thấy!

– Anh ở ngoại quốc, mà cũng thông quốc sử nhỉ. Tháp Phổ minh nằm trong vùng Cố trạch. Cung Trùng-quang của đức Thái Tông tại đó. Trong Cố trạch có phủ Vũ Uy của bác, có cung của Tuyên cao thái phi nữa.

Hai ngựa, một xe gồm ba ngựa đang gõ móng dưới ánh trăng thì có tiếng tù và thổi tu… tu… Rồi đuốc đốt sáng rực. Hai bên đường giáp sĩ dương cung, đao kiếm chĩa ra tua tủa. Một viên đô thống tay cầm đoản đao hô lớn:

– Tiểu tặc Tế tác Thát đát! Đừng chạy!

Quốc Kiện phi ngựa lên trước:

– Ta là Hoài Nhân vương Quốc Kiện đây. Đô thống có lầm không? Đô thống tuân lệnh ai mà ra đây bắt chúng ta?

Viên đô thống hành lễ quân cách:

– Thần đô thống Dư Anh, quản lĩnh thị vệ Cố trạch, tham kiến vương gia. Hồi chiều thần được chim ưng của phủ tổng trấn Trường yên báo: bọn Nguyên gửi Tế tác sang ta. Hai năm trước chúng đón đường bắt giết Hoài Văn hầu Quốc Toản, đoạt thanh kiếm Đông a. Chúng cho một tên người Nguyên giả xưng Hoài Văn hầu. Tên Thát đát con này bị phủ tổng trấn Trường yên giam tại trường Lạn kha. Mới đây y vượt ngục, xưng là Hoài Văn hầu lừa dối Hoài Nhân vương. Y cùng Hoài Nhân vương bắt lương gia phụ nữ, đang trên đường về Cố trạch lừa dối Tuyên Cao thái phi. Nhân Hòa vương ban chỉ: thần phải phục binh chờ. Khi thấy y, không cần hỏi han, cứ cho tiễn thủ giết y ngay đương trường.

Quốc Toản lên tiếng:

– Đô thống tên là Dư Anh thì là con của Dư bà, như vậy đô thống là em sữa của phụ vương cháu. Cháu phải gọi đô thống là chú. Cháu chính là Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản đây. Cháu đâu phải Tế tác Nguyên! Chú có thấy cháu giống bố cháu không?

Dư Anh chưng hửng, vì Tế tác Nguyên không thể biết rõ nội tình phủ Vũ Uy vương như vậy. Y nhìn Quốc Toản, quả giống Vũ Uy vương!

Quốc Toản tiếp:

– Từ đây về cung Trùng-quang của bà nội cháu là Tuyên cao Thái phi không xa. Đô thống hãy cùng cháu gặp bà nội thì trắng đen rõ rệt, cháu là con của Vũ Uy vương hay Tế tác của Thát đát.

Dư Anh còn đang tần ngần thì có tiếng nhạc ngựa rung rung, rồi một xe song mã tới. Trên xe có hai phụ nữ, một cao niên, một trung niên. Trước xe có hai Thị vệ hộ tống. Thị vệ hô:

– Xa giá của Tuyên cao Thái phi và Nam phương, đại từ, thạc hòa huyền quân, Vũ uy, quang minh công chúa giá lâm.

Quốc Toản mừng vô hạn:

– Bà nội với sư phụ Thúy Hồng tới thì thân phận mình được chứng minh.

Dư Anh mừng rỡ:

– Có đại giá Tuyên cao Thái phi cùng Vũ Uy công chúa tới thực may vô cùng. Xin Tuyên cao Thái phi phát lạc vụ này cho.

Y trình bầy tự sự.

Thúy Hồng (vợ Dã Tượng) tước phong Nam phương, đại từ, thạc hòa huyền quân, Vũ uy, quang minh công chúa. Nghe Dư Anh trình bầy, công chúa ban chỉ:

– Hồi chiều nghe thị vệ nói có tên Tế tác Thát đát đã giết Quốc Toản hai năm trước, rồi giả xưng Quốc Toản xuất hiện. Ta thỉnh Tuyên cao Thái phi cùng giá lâm xem tự sự.

Vừa trông thấy bà nội, và sư phụ, Quốc Toản xuống ngựa tiến tới xe của hai người. Hai tên thị vệ dùng đoản đao bắt chéo trước mặt hầu cản lại. Quốc Toản phất tay, hai thanh đao vuột khỏi tay hai thị vệ bay lên không. Hầu rút thanh kiếm Đông a, vung lên, hai thanh đao bị cắt ra thành hơn ba chục mảnh. Hầu phẩy tay, tất cả các mảnh đao đều bay ra xa, rơi xuống khúc sông Vỵ hoàng.

Thúy Hồng ban chỉ cho đám thị vệ:

– Không được vọng động.

Công chúa dùng một thế khinh thân tung người lên cao, lộn hai vòng như tiên nữ múa vũ khúc nghê thường; rồi đáp trước Quốc Toản. Tuy xa cách hơn hai năm, Quốc Toản đã lớn lên, nhưng công chúa cũng nhận ra người đệ tử. Quá xúc động, quên cả tỵ hiềm nam nữ, công chúa ôm lấy người đệ tử:

– Con! Con đó sao?

– Cô! Cháu nhớ cô đến chết được.

Tuyên cao Thái phi tiến tới. Bà ôm lấy đứa cháu nội bảo bối, mất tích đã hơn hai năm. Không ngờ đêm nay được trùng phùng:

– Từ hồi đó đến giờ cháu bà ở đâu?

Dư Anh vòng tay:

– Thì ra em là Quốc Toản thực.

Ba đoàn người ngựa hợp làm một về Cố trạch. Tất cả vào phủ Vũ Uy. Thúy Hồng ban lệnh cho Dư Anh:

– Đô thống cho thị vệ canh phòng thực cẩn mật. Dù hoàng thân, quốc thích cũng không cho vào dinh này.

Trong phủ Vũ Uy, cao nhất là Tuyên cao Thái phi, rồi đến công chúa Thúy Hồng ngồi nghe Hoài Nhân vương, Hoài Văn hầu tường thuật tất cả biến cố vừa qua một lượt.

Thúy Hồng than:

– Ngày mai thì sứ đoàn do Nhân Hòa vương sang Nguyên lên đường. Vương là chánh sứ, thay hoàng thượng sang Nguyên chầu. Phó sứ có Lê Tuân, Lê Mục là hai nho gia tài trí do vương chọn. Sứ đoàn kể cả mã phu, bộc phụ, thị vệ theo hầu lên tới 50 người.

Tuyên cao Thái phi tiếp lời Thúy Hồng:

– Từ ngày cháu bị bắt cóc. Khu mật viện huy động toàn lực tìm kiếm cháu, nhưng không thấy. Gần đây Dã Tượng thả đội Thần ưng của hiệu Văn bắc đi khắp nơi tìm cháu. Vì chúng biết mặt cháu. Cách đây mười ngày chúng tìm ra tung tích cháu ở chân núi Côi trong trấn Trường yên. Nên Dã Tượng mang theo mẹ sữa Vương Chân Phương vào Trường yên nhờ trường Lạn kha giúp đỡ tìm cháu. Không ngờ cháu đã thoát ra được.

Quốc Kiện bàn:

– Khải Cao Thái phi, phải báo sự việc cho triều đình biết ngay, chặn sứ đoàn Trần Di Ái lại. Bằng không chúng sang Nguyên, sẽ gây ra đại họa. Tính mệnh chị Bạch Liên với bốn cô tiên nữ Ngọc Kỳ, Ngọc Quốc, Ngọc Trí, Ngọc Cách lâm nguy. Nhất là tính mệnh của Đại Hành với 2 kị mã Long biên ở Đại đô!

Tuyên cao Thái phi xua tay:

– Không kịp, bây giờ là giờ Sửu rồi. Giờ Dần thì sứ đoàn khởi hành. Vụ việc Trần Di Ái lớn quá. Chỉ Thượng hoàng mới có thể ban chỉ về việc này. Sáng mai, chúng ta có về Thăng long sớm, thì giờ Mão cửa thành mới mở. Chúng ta tấu lên Thượng hoàng thì cũng sang giờ Thìn. Thượng hoàng có ban chỉ gì thì giờ Ngọ mới truyền ra. Như thế thì sứ đoàn đã sang đất Nguyên rồi. Bây giờ Thúy Hồng sai chim ưng báo cho Địa Lô, Cao Mang lệnh cho hiệu binh Văn bắc báo động, chờ đợi. Khi có chỉ dụ của Thượng hoàng thì còn kịp hành sự.

Thúy Hồng sai chim ưng mang thư về Thăng long báo cho Thượng hoàng, Thái hậu biết:

Tuyên cao Thái phi sẽ về Thăng long yết kiến Thượng hoàng có việc quốc gia đại sự.

Dư Anh chỉ huy đội thị vệ hộ tống Tuyên cao Thái phi. Cạnh phi, Thúy Hồng thân đánh xe. Trên xe có cả ba thiếu nữ Thúy Hòa, Bích Phương, Hồng Phương. Hoài Nhân vương Quốc Kiện, Hoài Văn hầu Quốc Toản cỡi ngựa đi cạnh. Con Bạch Viên cỡi ngựa đi sau Quốc Toản. Đoàn người ngựa lên đường lúc giờ Mão, đến giờ Tỵ thì tới cửa nam. Xe chạy thẳng vào hoàng thành.

Thượng hoàng, Thái hậu, Hưng Đạo vương, Chiêu Minh vương, Hưng Ninh vương thân ra đón Tuyên cao Thái phi.

Lễ nghi tất.

Thượng hoàng truyền đem ghế ra giữa vườn Ngự uyển để hội họp. Tránh bị người núp ở phòng bên cạnh, hay trên mái nhà nghe trộm.

Tuyên cao Thái phi ban chỉ cho Quốc Toản:

– Con hãy tường thuật tất cả những gì đã xẩy ra từ khi rời Trường sa đến giờ lên Thượng hoàng.

Quốc Toản khoan thai thuật lại những biến cố từ khi giã từ cha mẹ, xuống cảng Trường sa về Đại việt. Bị bắt, bị đánh thuốc mê ở Tiên yên, rồi tỉnh lại ở trường Lạn kha ra sao! Hầu điểm huyệt Lê Tắc, chạy ra ấp Côi sơn. Sau Lê Tắc sai chim ưng dẫn đường đến dinh Đại Hành bắt về giam tại cái giếng đá dưới chân núi. Lê Tắc đem Quốc Kiện đấu với mình thế nào… Hầu dấu tuyệt không nói gì đến việc tìm được di thư của Bồ tát Minh Không.

Tiếp theo Hoài Nhân vương thuật: vương bị Quốc Toản bắt sống, anh em suýt giết nhau. Hai người thám thính phủ Văn Chiêu hầu, Nhân Hòa vương Di Ái cống 3 thiếu nữ cho bọn Tuyên phủ ty. Di Ái bàn với bọn Tuyên phủ ty làm sao để vua Nguyên phong cho làm An Nam quốc vương. Hai người cứu 3 thiếu nữ chạy về Cố trạch, thì bị Trần Văn Lộng sai chim ưng lệnh cho đô thống Dư Anh phục binh dùng tiễn thủ giết cả hai người hầu bịt miệng.

Quốc Toản chỉ vào chuôi thanh Thượng phương bảo kiếm Đông a:

– Trong chuôi kiếm này, mẫu thân thần gắn hai cái ống bạc, chứa hai tờ thư của hai thân vương đã làm Tế tác cho giặc, mong được phong làm An Nam quốc vương.

Thượng hoàng rùng mình, dùng ngôn ngữ bình dân:

– Mẹ cháu sợ chú không tin cháu, nên đã sai chim ưng báo cho chú biết việc này rồi.

Ngài dùng một thanh trủy thủ, tách chuôi kiếm ra làm hai. Bên trong quả có hai cái ống bạc nhỏ. Ngài mở cái ống thứ nhất. Bất giác ngài bật lên tiếng ái chà, rồi đưa cho Thái hậu xem mảnh lụa. Thái hậu đọc qua, rồi tâu với Tuyên cao Thái phi:

– Cái ông thân vương Vuông chính là Nhân Hòa vương Di Ái. Khi được thư của chị Ý Ninh, Thượng hoàng với thần nhi đã điểm lại danh sách các thân vương. Không bao giờ thần nhi nghĩ rằng chú ấy lại làm truyện bạo nghịch như vậy. Bút tích này chính là của chú Di Ái.

Quốc Kiện thắc mắc:

– Bác Ý Ninh gửi thư bằng chim ưng cho phụ hoàng. Chính phụ hoàng đã lấy thư từ chim ưng. Tại sao ông Di Ái biết được mà tổ chức bắt cóc anh Quốc Toản để hủy hai tấm lụa dấu vết bút tích này!

Thái hậu than:

– Có lẽ mẹ với phụ hoàng thường bàn luận về vụ này, rồi bọn cung nga, thái giám nghe lỏm, chúng bàn tán với nhau, việc lộ ra nên ông Di Ái mới biết. Ông muốn giết Quốc Toản để phi tang. Nhưng ông đâu ngờ chính ông với bọn Tuyên phủ ty bàn bạc, bị Quốc Toản khám phá trước.

Hưng Ninh vương là anh ruột Thái hậu. Vương xua tay:

– Từ trước đến nay, Thượng hoàng với hậu thường bàn quốc sự khi không có ai bên cạnh. Làm sao việc trọng đại này lộ ra được?

Thái hậu chỉ vào một cung nga:

– Thưa anh, khi thượng hoàng với em bàn quốc sự thì chỉ có cung nga Quế Linh được hầu cạnh mà thôi. Quế Linh là cháu gọi Tổng thái giám Đại Lực bằng chú. Không lẽ Quế Linh lại phản em?

Quốc Toản gay gắt:

– Phải điều tra xem liệu Quế Linh có làm gian tế cho ông Di Ái không? Nếu sự cố này là thực thì nguy hiểm vô cùng.

Quế Linh đang đứng sau Thái hậu, nghe Quốc Toản đặt vấn đề, thình lình nàng tung mình chạy. Nhấp nhô một cái, Thúy Hồng đã điểm huyệt Quế Linh, túm áo đem trở lại. Quế Linh run lật bật, nói lắp bắp:

– Xin Thượng hoàng tha tội.

Quốc Kiện hỏi:

– Này chị Quế Linh! Chị là cháu gọi Tổng thái giám Đại Lực bằng chú. Đại Lực từng là người hầu cận đức Thái tông, vì vậy chị mới được phụ hoàng tín cẩn. Tại sao chị lại làm gian tế, tiết lộ tin tức tức hết sức trọng đại ra ngoài. Sự đã như thế này, chị cứ khai hết tiền nguyên, hậu quả, may ra sẽ được ân xá! Phụ hoàng tôi là Phật tử thuần thành. Tại đây còn có Bồ tát Tuệ Trung, lòng dạ rộng như trời, như biển.

Quế Linh run run khai hết tự sự.

Cách đây 7 năm, trong dịp được về thăm nhà. Khi đi đò qua sông sang Gia lâm, thì Quế Linh bị một người nhà đò điểm huyệt đem vào khoang. Đó là hai người đàn ông. Một người già, một người trẻ. Nàng những tưởng hai người này sẽ xâm phạm tiết hạnh mình. Nhưng cả hai chỉ ngồi im mỉm cười. Không đầy một khắc nàng cảm thấy đau đớn như xé da, cắt thịt. Mặc nàng đau đớn quằn quaị rên la thảm khốc. Mặt hai người đàn ông vẫn lạnh như tiền. Thình lình người trẻ vỗ tay vào đầu nàng một cái, lập tức cơn đau hết ngay. Người trẻ nói lạnh như băng:

– Phải chăng cô nương là Vũ Quế Linh, là cung nữ tín cẩn, hầu cận đức vua với hoàng hậu?

Quế Linh run run:

– Quả đúng.

– Cô nương có biết tại sao lại bị đau đớn kinh khủng không?

– Dạ, tiểu nữ không biết.

Người trẻ chỉ vào người già:

– Không có gì lạ cả. Lão tiên sinh đây đã nhả vào người cô nương một ít Huyền âm độc tố. Cô nương có biết độc tố này là gì không?

Từ năm 12 tuổi Quế Linh được tuyển làm cung nữ hầu cận hoàng hậu. Một lần Quế Linh nghe nhà vua luận về võ học cổ Đại việt, có bàn đến Huyền âm độc tố.

Nàng chỉ nhớ đại khái rằng vào thời triều Âu Lạc. Tần Thủy Hoàng muốn thăm dò võ học tộc Việt. Y bắt vua An Dương phải cống một số võ sĩ. Nhà vua sai quan Đại tư mã là Lý Thân, mang theo 36 đệ tử sang Hàm dương, đấu với võ sĩ Trung-nguyên. Hầu ra lệnh cho đệ tử: trong ngày đầu thì chống đỡ tìm hiểu chiêu thức địch. Tối về nghiên cứu các thế phá, hôm sau phản công. Sau khi đại thắng võ lâm Trung-nguyên. Ngài cùng đệ tử tổng hợp các chiêu thức sáng chế thành một hệ thống mới. Từ đó, ngài tìm ra một lối luyện công âm-nhu khắc chế dương-cương. Đặt trên nguyên tắc Dĩ nhu, chế cương. Sau này Đồ Thư cùng võ sĩ Tần Thủy Hoàng sang đánh Lĩnh Nam bị lạc bại, vì võ công Trung nguyên đã bị khắc chế. Khi rời Trung-nguyên, Lý Thân để lại một đệ tử là Trần Mạnh Chi, làm Nội giám hiệu-úy. Mạnh Chi lấy vợ Trung-nguyên, sinh con, đẻ cháu, lập ra phái Trường-bạch. Trường-bạch sơn là vùng núi nhiều côn trùng độc. Các đệ tử phải chống chất độc, lâu ngày thành ra kỹ thuật của môn phái. Đến đời thứ năm. Trong môn phái có biến chuyển lớn. Một đệ tử họ Phan bị kẻ thù bắt giam, tra khảo, đòi khai cách luyện nội công âm nhu. Y không chịu. Kẻ thù cho rắn, rết, nhện, tầm và bò cạp, đốt. Nhờ bản lĩnh kháng độc sẵn có, y không bị độc chất làm hại. Một đêm sau khi vận công. Y giật mạnh tay, gông cùm vỡ tan. Y tỉnh ngộ ra rằng chính nhờ trong lúc vận khí chống độc. Nọc độc hợp với chân khí thành một thứ nội lực mới. Mạnh vô cùng.

Y rời nhà tù, đánh phá tổng đàn đối phương. Đối phương bị trúng chưởng của y lập tức bị đau đớn khủng khiếp rồi chết. Y trở về phục mệnh sư phụ: kể cho sư phụ nghe mọi chuyện. Sư phụ y, là giòng dõi Trần Mạnh Chi. Ông bảo y dùng chưởng lực đánh thử vào thú vật, y ngoan ngoãn tuân theo. Con vật đau đớn, nổi điên mà chết. Sư phụ y thấy vậy cho là tà phái âm độc, khuyên y bỏ đừng luyện tiếp.

Một ngày kia, ông khám phá ra y vẫn bí mật luyện độc công. Ông trục xuất Phan khỏi môn phái. Y nổi giận giết sư phụ, chiếm lấy chức chưởng môn. Từ đấy phái Trường-bạch thành phái Huyền-âm độc chưởng. Khắp Trung-nguyên ai nghe tiếng cũng kinh hồn táng đởm. Đến đời thứ bẩy, chưởng môn là Phan Sùng, võ công lừng danh thiên hạ. Kết huynh đệ với Lưu Huyền, tức Cảnh-Thủy hoàng đế.

Phan Sùng một lần nhìn thấy hoàng-hậu của Cảnh-Thủy, đem lòng say đắm. Y hại ba người anh kết nghĩa Lưu Huyền, Lý Diệt, Chu Huy, xưng vương. Tướng sĩ nhiều người không phục, bỏ y theo phò Lưu Diễn. Lưu Diễn chết. Họ theo Lưu Tú tức Quang-Vũ. Trong trận đánh Trường-sa, Phan Sùng chết giữa loạn quân. Toàn gia bị tru lục. Phái Trường-bạch bị truy lùng rất gắt.

Vào thời Lý Nhân Tông, Tống Thần Tông sai Quách Quỳ, Triệu Tiết mang quân nghiêng nước sang đánh Đại Việt. Quách Quỳ thu dụng những cao thủ võ lâm kiệt hiệt theo trong quân. Trong đó có Trường bạch song hùng. Trường bạch song hùng bị Kinh Nam vương Trần Tự Mai bắt đem về giam tại Thiên trường. Từ đấy không thấy võ công này xuất hiện. Bất cứ ai bị trúng Huyền âm nội lực thì mỗi ngày lên cơn một lần, đau đớn đến chết đi sống lại trong một giờ. Nếu không có thuốc giải thì trong 7 bần bẩy là 49 ngày sẽ chết như ngọn đèn hết dầu.

Người trẻ ra điều kiện với Quế Linh:

– Bây giờ cô nương muốn thoát khỏi cái đau đớn này thì cũng dễ thôi. Cô nương phải cung cấp cho chúng tôi những tin tức chúng tôi muốn biết. Mỗi tháng, vào ngày trăng tròn chúng tôi sẽ gặp cô nương, trao thuốc giải cho cô nương để nhận tin tức. Nơi gặp gỡ là trước cổng tam quan Chiêu thiền tự.

Người già quan sát khắp người nàng rồi nói:

– Tôi thấy cơ thể của cô nương xinh đẹp, không có mùi hôi. Tôi muốn dùng cô nương làm cây thuốc để luyện công.

– Tiểu tỳ không hiểu.

– Đây là đặc ân cho cô nương.

– Xin lão gia nói rõ hơn.

– Có phải hàng tháng, mỗi khi có kinh, cô nương bị đau bụng, nhức đầu, ngực căng rất khó chịu không?

– Vâng! Xin tiên sinh trị chứng này cho tiểu tỳ.

– Được! Chứng này y học gọi là Thống kinh. Ta hứa trị cho cô nương. Phương pháp trị như thế này: khi cô nương sắp hành kinh, bụng chướng thì đến gặp ta, ta mới trị được.

Nàng trở về Hoàng thành, 5 ngày sau thì bị hành kinh, đau bụng, nhức đầu, ngực căng. Nàng tìm đến chỗ ở của chúng. Lão già bảo nàng nằm trên giường rồi chui đầu vào váy nàng, miệng ngậm âm hoa mút, hút. Kỳ diệu thay, y vừa hút một hơi, bụng hết đau, đầu hết nhức, ngực hết căng. Một cảm giác khoan khoái cùng cực khiến nàng bật lên tiếng rên. Mỗi lần y hút, kinh huyết tuôn ra cuồn cuộn. Y hút trong khoảng một khắc thì ngừng lại, nói:

– Ta chữa chứng đau bụng kinh cho cô nương. Cô nương không phải trả tiền. Ngược lại ta dùng kinh huyết của cô nương luyện công. Cả 2 bên đều có lợi.

– Thưa tiên sinh, mỗi khi hành kinh, thì kinh huyết xuất ra trong 3 ngày. Liệu lát nữa kinh có còn ra không?

Người trẻ đáp:

– Không. Vì sư phụ tôi dùng nội lực hút, thì kinh ra hết rồi. Có điều, mỗi tháng cô nương phải đến đây để sư phụ tôi hút một lần.

Mẹ Quế Linh đã 40 tuổi, em Quế Linh 16 tuổi cũng bị thống kinh như Quế Linh. Nàng xin lão già trị bệnh cho. Lão sai đệ tử lão tức người trẻ thay lão (*).

Thế là từ đấy Quế Linh ngoan ngoãn tuân theo lệnh gã tuổi trẻ, và nhận được thuốc giải. Cứ mỗi cuộc gặp gỡ y lại hẹn Quế Linh tháng sau tại một địa điểm khác.

(*) Ghi chú của thuật giả: Khi viết đến đây tôi đẳn đo đến hơn năm với câu hỏi: có nên thuật đoạn này hay không? Vì Anh Hùng Đông A – Gươm Thiêng Hàm Tử là bộ sách thuật lại hành trạng, chiến công của những anh hùng được tôn kính là thánh, được thờ phượng gần nghìn năm qua. Thế mà lại có đoạn dơ bẩn kinh khủng! Đến hồi thứ 110, cha con lão già này bị xử tử. Rồi sau hồn ma chúng gây ra nạn hữu sinh vô dưỡng của trẻ con Việt, cha mẹ chúng phải lên đền thờ đức Thánh Trần bắt tà. Đây là một phần tín ngưỡng của dân Việt, không thể bỏ qua. Nên tôi phải chép lại. Độc giả đọc đến hồi 110, chú giải 4, sẽ thông cảm với tôi.

Chiêu Minh vương rùng mình nói với Hưng Ninh vương:

– Từ hơn 10 năm nay, khắp nước thường có những người bị trúng Huyền âm chưởng, đau đớn cùng cực rồi chết. Bây giờ nảy ra vụ Quế Linh bị kẻ vô danh khống chế bằng Huyền âm chưởng. Em đoán chừng còn không biết bao nhiêu người bị khống chế nữa. Xưa kia trong trận đánh đồi Vương sơn ở Trường sa, công chúa Yên lãng Trần Năng nhờ Bồ tát Tôn giả Nan đà giảng kinh Bát Nhã, công chúa ngộ đạo, thắng vợ chồng Phan Anh. Anh luyện Thiền công đến chỗ tối cao, anh phải tìm cho ra kẻ xử dụng Huyền âm chưởng rồi giết y đi để trừ tuyệt hậu hoạn cho võ lâm.

Hưng Ninh vương than:

– Trừ bọn này thì dễ rồi. Nhưng hiện có hằng nghìn người bị trúng độc Huyền âm. Muốn họ không tiếp tục làm gian tế cho bọn xử dụng Huyền âm thì phải trị nọc Huyền âm cứu họ. Muốn trị thứ nọc này thì cần phải có người luyện Huyền âm độc, rồi mới hút hoặc đẩy độc tố ra khỏi người nạn nhân. Điều này anh không làm được.

Chiêu Minh vương tính đốt ngón tay:

– Em ước chừng cái kẻ khống chế Quế Linh chỉ là người giúp ông Di Ái thôi. Không chừng chính ông cũng bị chúng kiềm chế. Hôm nay là ngày 10, còn 5 ngày nữa Quế Linh phải gặp bọn Huyền âm cung cấp tin cho chúng. Ta nhân đó phục kích bắt y, khảo y, ta sẽ tìm ra những tên chủ trương Huyền âm.

Thượng hoàng ban chỉ:

– Ta cần tương kế, tựu kế. Lần này Quế Linh gặp tên Huyền âm. Nếu y hỏi về vụ Quốc Toản trở về đoàn tụ với Tuyên cao thái phi. Quế Linh đáp rằng: Cái tên xưng là Quốc Toản khi yết kiến Tuyên cao Thái phi, công chúa Thúy Hồng thì bị lộ ra y là tên Tế tác Thát đát, y không phải Quốc Toản. Vụ này không nên xử dụng Khu mật viện, Chiêu Minh vương bố trí các cao thủ trong đội thị vệ, theo dõi tên Huyền âm, rồi bắt trọn ổ.

Ban chỉ dứt, ngài lấy ống bạc thứ nhì, đem giải lụa ra, rồi lắc lắc đầu nói với Thái hậu:

– Nét chữ này lạ quá.

Ngài trao cho Tuyên cao Thái phi, Thái hậu cùng xem. Tất cả đều không tìm ra đó là bút tự của ai.

Dù đã tin lời con là Hoài Nhân vương, tin lời cháu là Hoài Văn hầu, Thượng hoàng đích thân thẩm vấn ba nàng Thúy Hòa, Bích Phương, Hồng Phương về những gì diễn ra ở Trường yên.

Ba nàng quỳ gối rập đầu binh, binh:

– Bọn tiểu tỳ xin Thượng hoàng cho chúng thần được làm tỳ nữ hầu hạ Hoài Nhân vương với Hoài Văn hầu, để báo ơn cứu chúng thần thoát khỏi cái ô nhục của đời con gái.

Thượng hoàng ban chỉ:

– Hoài Nhân vương chưa có phủ đệ, không thể nhận các con được. Còn Hoài Văn hầu đã có ấp phong. Ngay ngày mai hầu sẽ về nhận ấp. Ta ban ba con cho hầu. Còn Thúy Hòa, cha mẹ con tuy sinh ra con, nhưng đã đem con dâng cho rợ Thát đát. Ta tước quyền làm cha mẹ. Ta cho con tên mới là Hoàng Phương. Thế là Quốc Toản có ba tỳ nữ đều là Phương.

Ba nàng rập đầu tạ ơn thượng hoàng rồi bái lậy Quốc Toản.

Chiêu Minh vương đề nghị:

– Giờ này sứ đoàn Di Ái đã vượt biên sang đất Trung nguyên rồi. Ta có cho người đuổi theo cũng không kịp. Vậy phải làm sao bây giờ? Y sẽ tố giác ta dùng Thất tiên, Đông hoa làm Tế tác. Tính mệnh của Bạch Liên, Đại Hành, hai kị mã Long biên và bốn cô bé Ngọc Kỳ, Ngọc Quốc, Ngọc Trí, Ngọc Cách lâm nguy.

Thượng hoàng đưa mắt nhìn Hưng Đạo vương như muốn hỏi ý kiến vương. Vương rùng mình:

– Chúng ta có hai con rắn độc ẩn trong nhà. Từ khi tin tức của Nguyên phi Bạch Liên báo khám phá ra việc này, Thượng hoàng với tôi sợ chúng đến mất ăn, mất ngủ. Bây giờ mình đã tìm ra một tên. Chú Di Ái sang Nguyên, cầu phong làm An Nam quốc vương, chưa chắc Hốt Tất Liệt đã chấp thuận. Vì quanh y có rất nhiều nho sĩ. Các nho sĩ không bao giờ dung túng bọn loạn thần tặc tử, bọn mãi quốc cầu vinh, ô danh vạn đại. Vậy triều đình phải làm gì bây giờ? Một là báo cho Nguyên phi Bạch Liên. Phi dùng bốn con bé Ngọc thuyết phục thái tử, thuyết phục Trấn Nam vương Thoát Hoan, nhất là Lý Hằng và chính Đường Ngột Đải gây ra dư luận xấu về Di Ái tại Đại đô. Hai là nếu như Hốt Tất Liệt nhất quyết phong cho Di Ái, ắt y cử một tướng đem quân hộ tống ông ta về Đại Việt, thì mình có thể dùng hiệu binh Văn bắc kéo cờ Tống, xưng là cần vương Tống, vượt biên đánh tan đạo quân này ngay trên đất Trung nguyên. Ba là, ta cần phải đề phòng, khi ông Di Ái được phong An Nam quốc vương về thì Trần Văn Lộng sẽ dùng hiệu binh Trung thánh dực, Trần Tú Hoãn sẽ dùng hiệu binh Tứ thiên, từ Hoa lư, Nghệ an tiến về Thăng long yểm trợ cho cha. Lại đề phòng bọn Lê Tắc dùng các học sinh trường Lạn kha theo Trần Văn Lộng.

Thúy Hồng đề nghị:

– Để đề phòng, ngay từ bây giờ triều đình sai sứ vào Hoa lư, bắt Trần Văn Lộng, về Nghệ an bắt Trần Tú Hoãn, đến trường Lạn kha câu lưu Lê Tắc cùng đồ đảng chặt đầu, cử người trấn thủ Trường yên, Nghệ an thống lĩnh hiệu binh Trung thánh dực, Tứ thiên. Nhất là thay thế lãnh đạo trường Lạn kha.

Hưng Ninh vương xua tay:

– Vụ chú Di Ái hiên chưa lộ rõ tội trạng, triều đình không thể và không nên có hành động gì. Tuy nhiên cần phải thiết kế kiềm chế ngầm Văn Lộng, Tú Hoãn, Quang Kiện. Ví dù khi ông Di Ái lộ rõ phản phúc, nhưng Lộng, Hoãn có thể chối: cha tôi phản quốc, chứ tôi thì không!

Chiêu Minh vương hỏi Quốc Kiện:

– Cháu thuật rằng, Quốc Toản điểm huyệt Đại trùy hút hết công lực cháu. Đó là Vô ngã tướng Thiền công; sự thực có hay không? Vì khi Quốc Toản rời Trường sa, mới 11-12 tuổi, rồi bị tù, thì sao có bản lĩnh ấy?

Tuyên cao thái phi xua tay:

– Trước khi cho Quốc Toản về nước, bố mẹ nó đã dốc túi truyền hết bản sự cho nó.

Chiêu Minh vương cười:

– Chị Ý Ninh chỉ biết nội công Âm nhu chứ không biết Vô ngã tướng thiền công. Thần công Vô ngã tướng không còn lưu truyền từ khi Bồ tát Minh Không tuyệt tích.

Thúy Hồng cũng hỏi:

– Khi Quốc Toản bị thị vệ Cố trạch vung đao ngăn cản. Cháu xử dụng chiêu kiếm trấn môn của phái Mê linh tên Vô sắc vô tướng rất thành thạo. Chiêu ấy đã thất truyền, đến vương phi Ý Ninh cũng không biết, thì sao có thể dạy cháu?

Hưng Ninh vương nở nụ cười tươi như Phật Di Lặc:

– Cháu ơi! Hiện diện ở đây có bà nội cháu. Có bác, có bác Quốc Tuấn, có chú Hoảng là Thượng hoàng, có cô Thúy Hồng là bản sư của cháu. Không ai giống ông Di Ái, giống chú Trần Văn Lộng, Trần Tú Hoãn hay Lê Tắc đâu. Cháu cứ nói thực ra đi! Ai đã dậy võ công cho cháu?

Bấy giờ Quốc Toản mới thuật việc móc 13 pho tượng dưới giếng, rồi tìm ra đường hầm cất di thư của Bồ tát Minh Không.

Chiêu Minh vương chỉ vào mấy khúc gỗ còn tươi mới cưa để gần đó:

– Cháu đừng sợ gì cả. Cháu vận công phát một chiêu trong Tán lạc tiêu hồn chưởng vào khúc gỗ tươi cho chú xem nào?

Không đừng được, Quốc Toản đứng dậy hành lễ, rồi vận Vô ngã tướng Thiền công phát chiêu Kiến tích dã ngưu hướng khúc gỗ. Vù một tiếng, khúc gỗ vỡ thành nhiều mảnh bay tung lên, rơi xuống.

Hưng Ninh vương, Chiêu Minh vương đứng dậy nhặt những mảnh gỗ vỡ: có những miếng vỡ ra cong queo như những vỏ bào, có những miếng vỡ thành từng cục như sỏi, lại có những miếng tan ra như bột.

Trong khi trên nét mặt Thượng hoàng, Chiêu Minh vương hiện ra vẻ hân hoan, thì trên nét mặt Hưng Ninh vương lại hiện ra nét lo lắng.

Chiêu Minh vương chúc mừng:

– Mừng cho cháu, đã học được pho võ công vô địch. Với nội công Vô ngã tướng, âm nhu, cháu thừa khả năng đối phó với độc Huyền âm.

Trong khi Hưng Ninh vương thở dài:

– Pho võ công này vô địch thiên hạ thực. Nhưng cháu phải chế chỉ tâm thần. Bằng không khi xử dụng sẽ gây ra sát nghiệp khủng khiếp.

Vương nhìn Thúy Hồng:

– Công chúa là bản sư của cháu. Công chúa phải hết sức giảng cho cháu đức từ bi của Thế tôn, để tránh sát nghiệp.

Quốc Toản tỏ vẻ ngoan ngoãn:

– Bạch Bồ tát, cháu là một Phật tử, hơn nữa là cháu nội một hoàng đế uyên thâm Phật pháp mà. Cháu hứa với bác rằng cháu sẽ hết sức đắn đo khi xử dụng pho võ công này.

Quốc Kiện tâu với Thượng hoàng, Thái hậu:

– Phụ hoàng trao con cho ông Di Ái dạy võ, nhưng ông không dạy con, mà trao cho chú Lộng dạy. Chú ấy cũng không dạy con. Cho nên tuổi con đã lớn mà bản sự không có gì! Hôm rồi con đã bái anh Quốc Toản làm sư phụ rồi.

Thượng hoàng ban chỉ:

– Được rồi, ta tước quyền sư phụ của ông Ái, chú Lộng, cho con bái Quốc Toản làm sư phụ. Tước của con là vương. Tước của Toản là hầu. Nhưng Toản là vai anh. Con là vai em. Con đã bái Toản làm sư phụ thì cố gắng luyện thành bản lĩnh cao thâm, để sang năm ta sẽ trao cho con chức văn, lẫn chức võ.

Thượng hoàng ban chỉ chung:

– Buổi hội hôm nay phải hết sức giữ bí mật. Như vậy bọn Trần Văn Lộng, Trần Tú Hoãn, Lê Tắc không biết việc làm đó đã bị lộ. Ấp phong của Hoài Văn hầu là vùng Hàm tử. Ngày mai triều đình sẽ cử quan dẫn cháu nhận ấp phong. Trong khi cha mẹ cháu ở xa, ấp phong của cha mẹ cháu, do cháu quản lĩnh hết.

Ngài ban chỉ cho Quốc Kiện:

– Con phải theo anh Quốc Toản về Hàm tử ngày đêm học võ. Còn học văn, thì cứ hai ngày, anh em phải về Quốc tử giám nghe các Kinh diên quan giảng sách. Ta tước quyền làm thầy của Lê Tắc với con. Con không phải gọi tên phản quốc này bằng thầy nữa!

Hưng Đạo vương truyền lệnh cho Quốc Toản:

– Bác lập Trợ Chiêm Sát Đát hành doanh, bác đã sai anh Quốc Tảng vào trực tiếp chỉ huy mặt trận quân viện cho Chiêm thành. Triều đình sẽ ban một mật chỉ cho Quốc Toản, Quốc Kiện vào Trường yên, phòng Lộng, Hoãn dùng hiệu binh Tứ thiên, Trung thánh dực làm loạn. Hai cháu phải âm thầm gặp các tướng chỉ huy các quân bộ và các tướng chỉ huy những vệ yểm trợ, để khi Lộng ra lệnh cho họ làm loạn, các cháu sẽ xuất hiện khống chế y, các tướng sẽ không tuân lệnh y. Lại phòng bọn Lê Tắc với trường Lạn kha. Quốc Toản có thanh Trấn bắc, là Thượng phương bảo kiếm của đức Thái Tông, nếu gặp kẻ phản quốc, được quyền tiền trảm hậu tấu.

Hôm sau, bộ Lễ sai sứ dẫn Quốc Toản nhận ấp phong. Tuyên cao Thái phi cũng theo cháu. Hoài Nhân vương rời Hoàng thành theo Quốc Toản về ấp với sư phụ. Hai thiếu niên như bóng với hình.

Ấp phong Hoài Văn là Hàm tử. Đây là vùng bờ xôi, giếng mật, dân cư đông đúc. Từ mười mấy năm qua, dân chúng được biết mình sẽ sống trong việc cai quản của Hoài Văn hầu, hầu là con của Vũ Uy vương. Bây giờ họ mới được thấy hầu: một thiếu niên uy vũ, mặt đẹp như ngọc, nói năng nhỏ nhẹ. Ấp phong gồm bốn xã, hai xã nằm trên bắc ngạn sông. Hai xã nằm trên nam ngạn sông.

Hồi ở Trường sa, Quốc Toản từng ngồi cạnh phụ vương, xem phụ vương điều động tướng sĩ đã quen, bây giờ phải lãnh đạo một khối người lớn, hầu không bỡ ngỡ. Hầu ban lệnh họp bốn đại tư, bốn pháp ty, bốn câu đương, bốn học lễ của bốn xã lại, để nghe họ trình bầy về tình hình dân số, tài nguyên, giáo dục, thuế khóa. Hầu khen ngợi họ, rồi quyết định:

– Tôi còn nhỏ tuổi, kiến thức cai trị dân không làm bao. Tất cả đều nhờ các vị trợ giúp. Các chức đại tư, câu đương, chánh ty, học lễ đều giữ nguyên.

Hầu hỏi Quốc Kiện:

– Như em biết, thuế của vùng Ham tử so với các nơi khác ra sao?

– Em thấy tương đối là thấp. Không biết có đủ chi dùng trả lương cho các thầy đồ, trả lương cho tỳ nữ, mã phu không? Ấy là chưa kể việc chi tiêu cho anh, chi tiêu cho bốn y viện của ấp, liệu có đủ không?

(Hết Hồi 95)

Share this post