Anh Hùng Đông A – Gươm Thiêng Hàm Tử (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 96

Anh Hùng Đông A – Gươm Thiêng Hàm Tử (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 96

ANH HÙNG ĐÔNG A – GƯƠM THIÊNG HÀM TỬ
* Tiểu Thuyết Lịch Sử
* Tác giả: Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ
* Nguồn: Blog Trần Đại Sỹ (https://trandaisy.wordpress.com)

* Để đọc những phần đã đăng, xin vào khung Search this site (Tìm Kiếm) và gõ tên tác giả: Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ.

HỒI THỨ CHÍN MƯƠI SÁU
Đạo binh Hàm-tử

Khi triều đình mới phong tước cho Quốc Toản, bộ Công đã dùng tiền thuế của bốn xã xây dinh Hoài Văn, cùng mua sắm bàn ghế, giường chiếu, nhưng chưa có người phục dịch. Bây giờ mới nhận ấp, hầu đã có ba tỳ nữ xinh đẹp. Tuyên cao Thái phi sai người về phủ Vũ Uy đem lên mã phu, người làm vườn, gia súc như lừa, ngựa, chó, mèo, gà, vịt; đồ dùng như bát, đĩa, nồi, dao, thớt. Nên không đầy ba ngày dinh Hoài Văn đã có đầy đủ thứ cần dùng.

Các đại tư hướng dẫn Quốc Toản, Quốc Kiện, Hoàng Phương, Bích Phương, Hồng Phương đi một vòng bốn xã, quan sát đời sống của dân chúng. Trong bốn xã đều có trường dạy văn. Thầy đồ do bộ Lễ tuyển chọn. Trở về dinh, hầu hài lòng khi thấy giảng võ đường rất rộng, có thể huấn luyện một lúc hơn hai trăm người. Tuyên cao Thái phi ban chỉ:

– Trong hoàng tộc, mỗi hầu tước đều có một người quản dinh trông coi chư sự. Mỗi dinh đều có chức phủ khố cai quản tài vật, mua sắm thực vật. Lại có bộc phụ trông coi việc nấu nướng, và ít nhất vài chục tỳ nữ, vài trăm thân binh. Hiện cháu chưa đủ người, vậy bà tạm cử Hoàng Phương làm quản dinh. Bích Phương coi phủ khố. Hồng Phương giữ chức bộc phụ. Còn mã phu, với người làm vườn, bà đã mang từ phủ Vũ Uy về. Bà sẽ tuyển cho con một số tỳ nữ.

– Thưa bà ba cô Phương đủ rồi! Cháu không cần nhiều tỳ nữ, nuôi nhiều tỳ nữ, tốn tiền của dân.

Thái phi tát yêu cháu:

– Cháu tôi có lòng nhân, yêu dân, giống ông nội quá!

Bà nhắc nhở Quốc Toản:

– Hồi con mới sinh, bố mẹ con đã đính ước truyện trăm năm với con gái cô Thanh Nga và chú Ngột A Đa. Bây giờ cô chú ấy đang ở Đại lý. Đợi con lớn lên, bà sẽ sai người lên Đại lý xin cưới con gái cô Thanh Nga về cho con.

Thế rồi Phi họp ba nàng, giảng giải những việc phải làm.

Ngay chiều hôm đó Quốc Toản bàn việc dạy võ cho thiếu niên Hàm tử. Quốc Kiện đề nghị:

– Tước của anh là hầu, trong vùng Hàm tử này dân cư đông đúc. Triều đình đã thiết lập 4 trường dậy văn. Như vậy em cho là chưa đủ.

– Theo em!?!

– Anh cần đưa ra lệnh cưỡng bách giao dục. Trường mở rộng, trẻ con bất kể nam, nữ từ 5 đến 15 tuổi phải cho đi học. Đối với gia đình nghèo, thì anh trợ cấp để họ có thể cho con em đến trường. Đối với những trẻ quá nhỏ chưa học chữ thì nên mở trường, tuyển phụ nữ trẻ, có học, có sức khỏe trông coi chúng. Như vậy các bà mẹ có thời giờ lo việc đồng áng. (*)

* Ghi chú: Như vậy ấp phong Hàm tử là nơi mở trường mẫu giáo mầm non đầu tiên trong lịch sử Việt Nam. Hoài Nhân vương, Hoài Văn hầu là tổ của trường mẫu giáo Việt nam.

Tuyên cao Thái phi khen:

– Ý kiến của Quốc Kiện đáng khen. Phải đấy, hiện một nửa nhân lực là phụ nữ. Thế mà phải trông coi con, thực uổng phí. Vậy ta lập trường nuôi dạy thu nhận trẻ từ 6 tháng tuổi đến 5 tuổi, mượn thầy đồ, mượn bảo mẫu trông coi, dạy dỗ chúng.

Hoàng Phương góp ý:

– Buổi sáng, các bà mẹ đem con đến trường, chiều đón về. Chúng còn nhỏ, chưa có trí khôn thì bảo mẫu trông coi. Buổi trưa cho chúng ăn. Chúng dơ bẩn thì tắm rửa cho chúng. Khi chúng có trí khôn thì dậy chữ.

Quốc Toản cực kỳ vui vẻ:

– Hay! Ý kiến em hay. Chiều nay anh sẽ đến từng xã họp dân, ban bố chính sách giáo dục. Anh lại có ý kiến là mình xây thêm trường dạy nghề: dạy canh nông, dạy đánh nuôi cá, dậy nghề thợ rèn, thợ mộc, thợ nề.

Thế là Quốc Toản cho xuất tiền xây trường, tuyển thầy đồ, bảo mẫu. Tin này loan ra, dân chúng mừng chi siết kể.

Khi Quốc Toản họp các chức sắc gồm đại tư, câu đương, chánh ty, học lễ bàn về lập trường dạy nghề. Họ hân hoan vô cùng. Hầu tiếp:

– Tôi sẽ xây bốn giảng võ đường, mười trường trẻ thơ. Bất kể nam nữ mỗi chiều phải học võ, học binh bị, để họ có thể tự vệ cho thân mình, cho gia đình, cho trang ấp. Mình tổ chức họ thành đội ngũ, cắt cử người chỉ huy. Khi hữu sự họ có thể chống ngoại xâm. Nhưng các vị cần nghiên cứu kỹ, học vào lúc nào, mùa nào để không làm cản trở mùa màng.

Quốc Kiện góp ý:

– Các vị vương hầu khác thu thuế, thu tô của dân để làm giầu, để đài thọ chi tiêu cho thân binh, người hầu, cho gia quyến. Đây anh không chịu dùng thân binh, người hầu thì chỉ có ba cô Phương, với hai đầu bếp, một người làm vườn. Bao nhiêu tiền thu tô anh dùng để mở trường dậy học, lập trạm y tế. Em có đề nghị: nam nữ trong những ngày luyện tập binh bị được nuôi ăn, cho ở trong trường. Nghĩa là mình lập thành một đội binh Hàm tử.

– Mình có được phép không?

– Anh mới về nước nên không biết quân luật. Em nói cho anh nghe, thời đức Thái tông, người ban chỉ cho vương, hầu, công chúa, phò mã được quyền tuyển mộ, thành lập các đội quân riêng để tự giữ trang ấp, để chống ngoại xâm. Vậy chúng ta hãy theo Binh thư yếu lược, Vạn kiếp tông bí truyền thư, tổ chức đội Hàm tử. Anh đã biết tổ chức quân Mông cổ, quân Nãi man, quân Bắc liêu, quân Tống. Anh thu thái kinh nghiệm, tổ chức đội Hàm tử sao cho hợp với chiến trường Đại việt.

Quốc Toản nói với chức sắc:

– Các vị giúp tôi tổ chức đội Hàm tử. Nhưng làm gì thì làm, tôi phải giữ căn bản của ông nội tôi là đức Thái tông là tuyệt đối không tăng thuế. Tăng thuế thì không khác gì cắt thịt, hút máu dân. Tôi thà mặc quần đùi, nhịn ăn chứ không tăng thuế. Nếu trong ấp Hàm tử có một người phải nhịn đói thì tôi là đứa cháu bất hiếu của đức Thái tông.

Các chức sắc đều cảm động về tình yêu dân của vị hầu tước trẻ. Buổi họp dứt.

oOo

Vào một buổi chiều, hoàng nam gác cổng báo:

– Thưa quân hầu, có một vị lão trượng, và một trung niên phụ nhân xin cầu kiến.

– Họ có xưng tên không?

– Lão trượng xưng là Trần Tử An. Phụ nữ xưng là Vũ Nguyệt Hương.

– À! Trung Thành vương với Hồng Liên đây! Tôi từng sống với Trung Thành vương, với cô Hồng Liên tại Trường sa một thời gian dài.

Quốc Toản dẫn Quốc Kiện và ba nàng Phương, y phục chỉnh tề ra đón.

Vừa trông thấy khách, hầu reo:

– Ông nội! Cô cô!

Không kiềm chế được, hầu ôm lấy Hồng Liên:

– Từ hôm con bị bắt cóc thoáng một cái đã ba năm. Bây giờ con mới được gặp ông nội, được gặp cô.

Hầu cung cung kính kính mời khách vào dinh.

Trung Thành vương nhìn Quốc Toản từ đầu đến chân:

– Ôi cháu lớn mau quá.

Hồng Liên vuốt tóc hầu:

– Từ hôm Trung Thành vương với cô về Đại việt. Triều đình nghị công, phong cho Trung Thành vương tước Thái sư, Trung Thành vương. Lại ban cho mỹ tự Thượng phụ. Còn cô thì được tôn là Ôn từ thánh mẫu.

Trung Thành vương hỏi han chi tiết về tổ chức ấp Hàm tử. Quốc Kiện nói:

– Bây giờ ông già rồi! Tuổi của ông là tuổi trời cho. Hài nhi nghĩ, ông nên đem tất cả hiểu biết truyền cho con cháu. Vì một mai ông qua đời thì kiến thức cũng chết theo. Xin ông ở lại đây, dậy dỗ cho anh Quốc Toản với cháu.

– Ông rất vui lòng. Còn Hồng Liên?

Hồng Liên cười tươi như thời niên thiếu:

– Cô là con gái của ông. Cô cũng ở lại hầu hạ ông chứ.

Quốc Toản vui không bút nào tả xiết:

–Từ hôm nhận ấp phong. Con cứ lo ngay ngáy rằng tuổi còn trẻ, có thể có sơ xuất. Bây giờ con có cây đại thụ là ông nội, có mái nhà che nắng, che mưa là mẹ Hồng Liên.

Hầu nói với ba nàng Phương:

– Để thêm thân mật, từ nay chúng ta gọi Trung Thành vương là ông nội. Gọi cô Hồng Liên là mẹ. Ông là ông nội chung của Hàm tử. Mẹ Hồng Liên là mẹ của Hàm tử.

Thế là Trung Thành vương trực tiếp huấn luyện cho đạo binh Hàm tử. Đạo binh gồm 800 nam, 800 nữ. Đạo binh được trang bị như một đội Thiết đột cảm tử của Thiên tử binh. Trước đây vùng Hàm tử có một Vệ bộ binh tuần phòng, giữ an ninh. Bây giờ Quốc Toản trả về Binh bộ.

Một hôm Hồng Liên gọi Quốc Toản nói nhỏ:

– Cô có tin mừng cho con.

–???

– Sau khi rời Trường sa đi Đại đô, bố mẹ con được Hốt Tất Liệt thân ra cổng thành đón. Hốt Tất Liệt ban cho bố mẹ con được đeo kiếm vào chầu, khi tâu không phải xưng tên. Bố con được phong tước đại vương, được trao cho tổng trấn vùng Tây hạ, Đại uyển, Hoa thích tử mô. Mẹ con được trao cho Tổng lĩnh binh đoàn Tây Nam.

– Thế còn cô Hồng Nga?

– Cô Hồng Nga với các con được đưa về Kinh bắc sống với bố mẹ. Bốn đứa con của cố ấy nói tiếng Việt giỏi lắm rồi. Tháng trước A Truật được phong vương, nên cho người đón cô Hồng Nga với các con sang Nguyên rồi.

Ngay từ khi về ấp, bàn về việc học võ, hầu hỏi Quốc Kiện:

– Thượng hoàng muốn anh dạy võ cho em. Vậy em đã học được những võ công gì?

Quốc Kiện trình bầy: chỉ mới học được phần nội công Đông a nhập môn với mấy bài quyền sơ đẳng. Quốc Toản giảng:

– Chúng mình là con cháu họ Trần, phải học võ công Đông a cho tinh, rồi mới học những võ công khác.

Hầu lấy thẻ đồng chép võ công Đông a ra đọc lại một lượt rồi giảng chi tiết phép luyện nội công Đông a, cùng bộ Đông a chưởng pháp cho Quốc Kiện. Bấy giờ Quốc Kiện mới khám phá ra ông chú Trần Văn Lộng chưa dậy cho mình gì cả.

Được chân truyền, Quốc Kiện học rất mau. Chỉ trong một tháng Kiện đã luyện xong bộ Đông a chưởng pháp. Quốc Toản dạy sang bộ võ công trấn môn Cương la thập bát thức. Quốc Toản dạy tất cả võ công Đông a cho Kiện. Gặp minh sư, anh em thương yêu nhau, Kiện luyện ngày, luyện đêm. Nên chỉ một thời gian ngắn, bản lĩnh của Kiện đã cao thâm như những đại cao thủ trong giòng họ Đông a.

Ba nàng Phương, xin học võ, hầu cũng dạy luôn với Quốc Kiện.

Suốt thời gian đó, khi hai thiếu niên đi đâu cũng mang ba nàng Phương theo. Họ trở thành Hàm tử Ngũ nhân. Còn Trung Thành vương, bản tính ông xuề xòa, dễ dãi, dân chúng coi ông như một ông phúc. Bất cứ ai phạm tội gì, ông cũng bảo Chánh ty trao cho ông, ông dậy dỗ rồi tha tội luôn.

Cho đến một hôm, có mật sứ của thượng hoàng ban chỉ cho Quốc Kiện, Quốc Toản:

Kỳ này Quế Linh hẹn với tên Huyền âm ở Đông hoa môn tự. Vậy Quốc Toản, Quốc Kiện âm thầm phục tại chùa cầu Đông, rồi theo dõi y. Sẽ có người giúp.

Quốc Toản than:

– Từ hôm ấy đến giờ trải hơn 2 tháng, Quế Linh đã 2 lần hội ngộ trao tin tức cho tên Huyền âm. Không biết chú Quang Khải đã theo dõi y đến đâu rồi, mà lần này lại sai 2 đứa chúng mình? Hôm nay mới là ngày mùng hai. Còn 14 ngày nữa mới tới kỳ hành sự bắt bọn Huyền âm. Không vội.

Nghĩ đến phải đôi phó với Huyền âm chưởng. Quốc Toản lo lắng không ít:

– Huyền âm chưởng độc hại vô cùng. Chỉ cần chạm vảo tay đối thủ là độc tốnhập cơ thể. Không có thuốc gì trị được.

Chợt nhớ tới bộ Lĩnh Nam vũ kinh, trong đó có chép bí quyết luyện Huyền âm độc chưởng, cùng phương thuốc giải. Quốc Toản lấy cái thẻ đồng chép về Huyền âm độc chưởng ra đọc. Tò mò hầu vận công luyện thử. Vì đã luyện nội công Âm nhu và Vô ngã tướng thiền công, nội công hầu cực kỳ cao thâm, nên chỉ không đầy ba khắc, hầu đã luyện được phần thứ nhất. Thấy dễ dàng, hầu luyện sang phần thứ nhì là dùng nội công hút độc tố chữa độc cho người. Cũng không khó. Hầu đọc yếu quyết:

Phải có 5 độc vật là rắn, rết, tằm độc, bò cạp, nhện độc. Dùng mỗi loại 100 con, vận công hút hết nọc độc của chúng. Nếu không có độc vật thì phải dùng phương thuốc như sau:

Hoa thủy trùng. Hắc chi ma. Qui vĩ. Xuyên liên. Hoàng bách. Kinh giới. Trắc bách. Dương khởi thạch. Thiết sa. Phòng phong. Ban thích trùng. Ngân hoa. Bạch tật lê. Thạch cao. Bạch truật. Bạch tín. Hồng nương tử. Ngô công. Can khương. Não sa. Hồng hoa. Nguyên sâm. Bắc tế tân. Bạch tân bì. Đinh thí trùng. Tiểu nha qui. Chỉ thiên tiêu.

Tổng cộng 28 vị. Nấu với 20 bát nước, còn 10 bát thì ngâm tay vào hút lấy”.

Hầu viết đơn thuốc, rồi gọi mã phu:

– Anh ra phố chợ cắt cho tôi 10 phương thuốc này.

Nhưng mã phu đi một lát, trở lại trình:

– Phố chợ có 3 hiệu thuốc, nhưng không hiệu nào có đủ những vị này.

– Vậy anh lấy ngựa về Thăng long, thì hy vọng có đủ.

Mã phu đi nửa ngày, trở về trao thuốc cho hầu. Anh ta nói:

– Ông chủ được phòng dặn rằng phương thuốc này cực độc. Khi sắc phải tránh xa, vì chỉ cần hít phải khói cũng hộc máu ra mà chết.

Quốc Toản dùng nồi đất lớn, đổ một gói thuốc vào, đem ba viên gạch làm đầu rau, ra sau vườn, dưới gốc cây bàng dùng củi đun. Cẩn thận, hầu dặn đầu bếp, bộc phụ không ai được tới gần. Thuốc sôi, khói bốc lên, lập tức lá bàng rụng lả tả. Đợi cho nước còn một nửa, hầu tắt củi. Nước nguội, hầu ngâm tay vào nồi, vận công hút. Không đầy một khắc, nước thuốc đang đen ngòm, hóa thành trong vắt. Biết đã thành công. Hầu đào một hố nhỏ chôn bã thuốc, rồi về.

Vào bếp, Hồng Phương đang ôm tay khóc. Quốc Toản hỏi:

– Cái gì đã làm em đau?

– Em làm cá, bị ngạnh cá trê đâm vào đau quá.

Hầu nắm tay nàng: bàn tay đỏ hỏn. Hầu xoa bàn tay cho nàng. Chỉ ba lần, bàn tay hết sưng. Hồng Phương mừng quá:

– Cảm ơn anh đã bóp tay cho em.

Quốc Toản nghĩ thầm:

– Ta không cần vận công hút, chỉ sờ vào, mà độc cá trê đã bị hóa giải. Võ lâm hễ nghe thấy người nào luyện Huyền âm độc chưởng đều muốn tru diệt. Nhưng ta luyện loại độc tố này để cứu người thì có gì đáng khinh đâu?

Chiều hôm đó đến phiên hầu luyện võ cho thiếu niên. Vừa vào võ đường, hầu thấy một võ sinh tên Thu Nga, mặt sưng vù, nước mắt chảy dài. Hầu hỏi:

– Nga! Cái gì đã xẩy ra?

Nga khóc:

– Em cắt cỏ, chạm phải tổ ong. Ong đốt khắp người em.

Không tỵ hiềm nam nữ, hầu dùng bàn tay xoa lên mặt Nga, vận khí hút. Tay hầu xoa đến đâu, chỗ đó hết sưng. Các võ sinh xúm vào xem sư phụ trị nọc ong cho Nga.

Sau buổi học, các võ sinh kháo khắp bốn xã: bị ong đốt, sư phụ chỉ sờ vào là hết. Thế là trong bốn xã, kẻ bị rắn cắn, người bị sâu đốt đều kéo nhau đến nhờ hầu chữa. Hôm sau hầu luyện đến gói thuốc thứ nhì vừa xong, thì thầy lang trong xã Hạ đến xin hầu chữa bệnh cho một thiếu niên. Thầy lang nói:

– Thưa quân hầu. Đây là thầy đồ Tú. Thầy bị chứng Hạc tất phong. Thỉnh thoảng, khi ăn lòng gà, rau mùng tơi, rau dền thì hai bàn chân sưng đỏ lên. Tôi đã cho uống thuốc giải độc 3 ngày mà không khỏi!

Quốc Toản nắm lấy bàn chân thầy đồ Tú. Bàn chân đỏ lừ. Chỉ sờ vào mà Tú đã rên hừ hừ. Hầu vận khí, úp bàn tay lên mu bàn chân Tú rồi hút, không đầy một khắc bàn chân hết sưng, hết đỏ. Tú mừng chi siết kể:

– Đa tạ quân hầu.

Thế rồi hầu luyện ngày, luyện đêm. Đến ngày rằm thì xong hết 10 phương thuốc. Trong thời gian đó dân chúng bị trúng độc cá trê, ong đốt, rắn cắn xếp hàng xin hầu trị bệnh.

Nhớ đến chỉ dụ của thượng hoàng, sáng 16, Quốc Toản, Quốc Kiện nhờ Hòang Phương hóa trang cho thành hai thiếu niên Phật tử, đi lễ chùa. Quốc Toản hỏi gốc tích ngôi chùa. Quốc Kiện giảng:

– Chùa Cầu Đông được kiến tạo niên hiệu Thuận Thiên thứ 10 đời vua Lý Thái Tổ (1019), do bà Lập nguyên hoàng hậu bỏ tiền ra xây. Chùa có tên Đông Hoa Môn Tự.

Sử chép, khi vua Lý Thái Tổ lĩnh chức Điện tiền chỉ huy sứ dưới triều vua Lê Ngọa Triều. Ngọa Triều băng, triều thần tôn lên làm vua vào niên hiệu Cảnh Thụy thứ nhì (1009). Phong 3 bà Hoàng hậu. Phong Nguyên phối là công chúa con vua Lê Đại Hành làm Tá Quốc hoàng hậu. Phong cho bà vợ thứ nhì làm Lập Nguyên hoàng hậu. Cho bà vợ thứ ba làm Lập giáo hoàng hậu.

Nhà vua xuất thân từ chùa Tiêu sơn, nên Lập Nguyên hoàng hậu thỉnh một sư của chùa này trụ trì.

Đến thời phụ hoàng (Thánh Tông), vị sư cuối cùng giòng Tiêu sơn là Quang Huệ trụ trì. Sư Quang Huệ viên tịch, chùa do sư A Hàm La từ Tây tạng thay thế. Sư Quang Huệ thuộc giòng Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi. Sư A Hàm La thuộc giòng Mật Tông.

Tương truyền tổ Trần Thủ Độ còn niên thiếu, bị Thái tử Sảm, cùng Nguyễn Nộn, Đoàn Thượng đem Thị vệ bắt, hành hạ đến ngất đi. Tưởng ngài chết, Thái tử Sảm sai ném xác ra mố Cầu Đông. Nhưng ngài chưa chết, cố lết vào chùa xin nước uống, rồi thề rằng:

“Nếu trời Phật cho tôi sống thì tôi sẽ tuyệt diệt họ Lý để trả thù”.

Vị sư trụ trì khuyên tổ rằng: oán nên cởi, không nên buộc. Rồi ông coi tướng cho tổ rằng: sau này địa vị sẽ lên tuyệt đỉnh. Khi nào thấy Phật Di Lặc thì là lúc oán hờn tuyệt, đó cũng là lúc chết.

Năm ngài 71 tuổi, bấy giờ là thời phụ hoàng tại vị. Chức của tổ Thủ Độ là Thái sư Thượng phụ, Trung Vũ đại vương. Tự nhiên có người chở đến mố Cầu Đông, gần Đông Hoa Môn Tự một tượng lớn như người thực, đặt trên bệ bằng đá trắng. Tượng bằng đá xanh giống Phật Di Lặc, nhưng mặt giống hệt tổ, miệng cười toe toét. Dân chúng gọi là tượng Phật Cười. Thái sư Thủ Độ nghe truyện nói với phụ hoàng rằng: Xưa sư trụ trì Đông Hoa Môn Tự đoán rằng khi ta gặp Phật Di Lặc là lúc ta sẽ thác. Nói rồi hoăng.

Phụ hoàng sai đúc tượng Thái sư Thủ Độ với Linh Từ Quốc Mẫu Trần Thị Kim Dung thờ trong chùa.

Hai người gọi xe đưa đến phường Diên hưng trong thành Thăng long. Xe đến cầu Đông thì dừng lại. Hai bên mố cầu có hằng chục cửa hàng bán hoa quả, vàng hương. Quốc Kiện mua hai mâm lễ vật gồm hoa, quả, hương, rồi hai người vào chùa bằng chính điện. Một tiểu sa di chạy ra đón khách. Quốc Kiện lên tiếng:

– A Di Đà Phật, xin tiểu sư phụ cho chúng tôi lễ Phật trước, rồi lễ Trung Vũ đại vương với Linh Từ quốc mẫu sau.

Hai người vào bảo điện lễ Phật. Vì là ngày 16 nên chùa có rất đông thiện nam, tín nữ lễ cầu phúc. Lễ Phật xong hai người sang nhà ngang lễ Thái sư Thủ Độ. Cả hai quỳ gối lễ 8 lễ. Quốc Toản khấn:

– Kính lậy cụ. Cháu của cụ là Quốc Kiện, Quốc Toản đến lễ cụ. Tại thiên chi linh, xin cụ phù hộ cho hai cháu minh mẫn để giúp dân, phụ quốc.

Hai người đi một vòng quanh chùa, Quốc Toản đã thấy Quế Linh đến bằng xe ngựa. Hai người lảng vào dòng Phật tử. Quế Linh xuống xe, vào chùa, nhưng không lên bảo điện mà rẽ sang nhà ngang, nơi thờ Thập điện Diêm vương. Một người đàn bà vẫy tay. Quế Linh theo mụ ra trước chùa. Cả hai lên một chiếc xe ngựa chờ sẵn. Chiếc xe chạy đi liền. Quốc Toản định cùng Quốc Kiện chạy theo thì có tiếng nói sẽ:

– Có hai con ngựa đây. Mời nhị vị lên ngựa đuổi theo.

Biết là người của Chiêu Minh vương. Hai người lên ngựa chạy theo chiếc xe chở Quế Linh. Chiếc xe chạy vòng ra đền Trấn võ, thì dừng lại. Người đàn bà với Quế Linh vào trong đền. Quốc Toản, Quốc Kiện bỏ ngựa lẫn vào trong đám người đi lễ. Người đàn bà dẫn Quế Linh ra sau đền, rồi đẩy cửa vào trong một phòng chứa đồ thờ. Quốc Toản dặn Quốc Kiện:

– Em trấn ở đây. Còn anh lên mái ngói. Sợ ngôi nhà này có cửa khác chăng?

Quốc Toản tung mình lên mái ngói. Hầu vận âm kình vào ngón tay chỏ, rồi xuyên thủng viên ngói, ghé mắt nhìn vào. Bên trong đèn nến sáng rực. Ngoài người đàn bà, Quế Linh, còn hai người đàn ông khác. Một người già, một người trẻ. Người già hỏi Quế Linh:

– Hôm nay tôi phải mời cô nương ra đây, vì hành tung của chúng ta dường như bị lộ.

– Không lẽ?

– Ngày rằm tháng trước lão không gặp cô nương được nên ủy nhiệm cho một tên đệ tử. Trên đường trở về y bị mất tích. Tôi nghi y bị thị vệ bắt giam. Thôi bây giờ tôi xin cô nương cho biết hành tung của hai tên Quốc Toản, Quốc Kiện.

– Lần trước tôi đã thưa với người của lão gia rồi. Khi tên Tế tác Thát đát giả Quốc Toản yết kiến Tuyên cao Thái phi với công chúa Thúy Hồng thì bị lộ chân tướng Quốc Toản giả. Tuy vậy Thượng hoàng cũng tương kế, tựu kế giả tin là thực, cho y với Quốc Kiện về sống ở ấp phong là Hàm tử. Người không trao cho hai tên này bất cứ chức gì.

– Tôi hỏi cô nương, để cô nương nhắc lại mà thôi. Thế còn Thượng hoàng có bàn gì về Trần Quang Kiện, Trần Văn Lộng, Trần Tú Hoãn không?

– Không! Người vẫn tin các vị ấy. Nếu người nghi ngờ gì thì đã sai sứ vào bắt ba người chặt đầu rồi.

– Triều đình có tin tức gì về sứ bộ Trần Di Ái không?

– Chỉ mới được tin sứ bộ tới Đại đô mà thôi.

Lão móc trong túi ra một viên thuốc bọc sáp to bằng quả chanh trao cho Quế Linh:

– Đây thuốc tháng này của cô nương đây. Bây giờ cô nương ra trước đền đón xe vào thành.

Quế Linh chào lão rồi mở cửa ra ngoài. Quế Linh ra rồi, người đàn bà vui vẻ:

– Từ Thượng hoàng, nhà vua, tới Hưng Đạo vương, Hưng Ninh vương, Chiêu Minh vương đều mù hết. Cháu trước mắt, mà chúng ta phao tin rằng giả, cũng tin. Tục ngữ có câu: Chúng khẩu đồng từ, ông sư cũng chết. Huống hồ tên ôn con Quốc Toản.

Lão già cười:

– Khi lão gia được Thiên triều phong cho tước An Nam quốc vương, sai quân đưa về. Thì, Chương Hiến hầu Trần Kiện, trấn Nghệ an đem hiệu binh Thiên cương vượt biển về Thăng long. Văn Chiêu hầu Trần Văn Lộng tổng trấn Trường yên đem hiệu binh Trung thánh dực về thẳng Thăng long. Văn Nghĩa hầu Trần Tú Hoãn. Tổng trấn Thiên trường đem hiệu binh Tứ thiên khống chế toàn bộ Cố trạch, Thiên trường. Bấy giờ lão nhân gia thản nhiên lên ngôi cửu ngũ.

Lão quay ra hỏi người trẻ:

– Linh Nhan! Người nói rằng chúng ta đã khống chế toàn bộ bọn tướng sĩ ba hiệu binh Tứ thiên, Thiên cương và Trung thánh dực. Vậy những tên nào đã bị khống chế?

Quốc Toản nhủ thầm:

– Thì ra tên trẻ tuổi này tên là Linh Nhan.

Linh Nhan đem ra một tập sách mỏng:

– Trình sư phụ, đây là cuốn sổ ghi danh sách tướng sĩ ba hiệu binh trên bị khống chế. Sư phụ bảo chúng nhảy xuống nước, lao đầu vào lửa chúng cũng không dám chối từ.

Lão già cầm tập sách mỏng đọc qua rồi bỏ vào túi.

– Thôi chúng ta đi.

Ba người ra khỏi đền Trấn võ, lên một cỗ xe song mã. Gã Linh Nhan cầm cương, cho xe chạy.

Có một cỗ xe song mã chở khách ghé lại bên Quốc Toản:

– Hai cậu lên xe mau.

Đó là chiếc xe chở thuê trong thành Thăng long. Quốc Toản, Quốc Kiện lên xe. Nhìn kỹ phu xe, Quốc Toản kêu lên:

– Chú Dư Anh.

– Thần được lệnh chỉ của Chiêu Minh vương chờ hai vị ở đây.

Quốc Toản đề nghị:

– Chú giả làm mã phu, thì hai cháu cũng giả làm hai tiểu sa di. Không nên dùng ngôn từ cung đình.

Dư Anh cho xe chạy theo xe của bọn Linh Nhan xa xa khoảng một dặm. Tới bến đò Bắc ngạn, chiếc xe của Linh Nhan chạy thẳng xuống một con đò lớn. Chủ đò là một người trang phục như nông dân, dáng dấp thanh nhã. Bên cạnh là một thiếu phụ nhan sắc tuyệt thế. Nhưng bị mù. Quốc Toản than thầm:

– Trước mình cứ tưởng mẫu thân, mẹ sữa Chân Phương với bản sư Thúy Hồng là người đẹp nhất thế gian. Gần đây Ngọc Hoa mới lớn, trổ mã đẹp huyền ảo, mình cho rằng không ai có thể đẹp hơn. Bây giờ bà này đã lớn tuổi mà đẹp đến như thế này thì thực là tiên nữ.

Dư Anh cũng cho xe xuống con thuyền. Xe của Dư nối theo xe của bọn Linh Nhan. Bốn người chèo đò thân thể lực lưỡng, bắp thịt trên tay cuồn cuộn nổi lên. Quốc Kiện khen thầm:

– Bốn anh này chắc là thuộc thủy đội Thăng long giả làm nhà đò để bắt gian đây.

Quốc Toản ngước mắt nhìn trời, trên trời một cặp chim ưng đang bay lượn. Thuyền nhổ neo ra giữa sông rồi xuôi giòng về nam. Chủ đò kéo nhị, thiếu phụ đánh trống mảnh. Bà cất tiếng hát một bài tình ca dân gian, theo điệu Xẩm:

Hôm qua tát nước đầu đình, Để quên cái áo với cành hoa sen. Em được thì cho em xin, Hay là em để làm tin trong nhà.

Nghe tiếng hát, Quốc Toản kinh ngạc, vì giọng ca quá điêu luyện, quá ngọt ngào. Hầu từng nghe bản sư Thúy Hồng, nghe vợ của A Truật là Hồng Nga hát. Đó là những tài danh nhất Đại việt, mà bây giờ thiếu phụ này có giọng ca điêu luyện hơn.

Thình lình lão già quát:

– Nhà đò! Chúng tôi muốn sang sông, sao các người cho đò xuôi giòng như thế này?

Người lái đò cãi:

– Khách quan thông cảm, vì nước chảy siết quá, đò lớn, mà chỉ có bốn tay chèo!

Gã Linh Nhan chạy lại, y chụp cổ người lái đò, ném vào giữa thuyền, rồi cướp lấy tay lái. Y cố ghì cho con thuyền quay mũi sang bờ bắc. Bốn tay chèo ngừng không chèo nữa. Con thuyền tiếp tục trôi về nam. Thình lình rắc một tiếng, bánh lái gẫy. Con thuyền quay tròn giữa sông. Trong khi biến cố xẩy ra, thì chủ đò vẫn kéo nhị, thiếu phụ vẫn đánh trống mảnh, vẫn ca bình thường.

Linh Nhan mở to mắt ra nhìn Dư Anh:

– Dư đô thống! Dư đô thống theo dõi chúng tôi từ cầu Đông đến đây mà chúng tôi không nhận ra!

Nói rồi y xuất chiêu cầm long công chụp Dư Anh. Dư Anh lạng mình tránh khỏi rồi trả đòn. Hai chưởng găp nhau, binh một tiếng, con đò rung rinh, chao đảo. Chủ đò kêu:

– Xin các vị dừng tay, bằng không đò chìm bây giờ.

Sau khi đối một chiêu, Dư Anh thấy mình không phải là đối thủ của Linh Nhan, cánh tay sưng vù, xám xanh. Linh Nhan cười:

– Dư đô thống! Người trúng Huyền âm độc của ta rồi. Mau ngồi vận công chống trả. Bằng tiếp tục xử dụng võ công thì chết mau lắm.

Lão già chỉ chủ đò:

– Thì ra ngài là Vũ sơn công Tạ Quốc Ninh đấy! Lão già này mắt kém nên không nhận ra ngài.

Y chỉ vào thiếu phụ mù:

– Còn đây là phu nhân, phương danh Hoàng Hoa, nhũ danh Lê Thị Phương Dung, từng là thứ phi của đại vương Ngột Lương Hợp Thai mà lão phu sơ ý không nhận ra.

Nói rồi y phóng chưởng tấn công Quốc Ninh. Quốc Toản nhận ra võ công của y là võ công Đông a. Quốc Ninh cả cười tránh chiêu chưởng của y. Hai người giao chiến trên con thuyền. Được trên 20 chiêu, thì lão già thu chiêu lùi lại:

– Tạ công! Người bị trúng Huyền âm chưởng của ta rồi. Ta không đấu với người nữa.

Trong khi Tạ Quốc Ninh đấu với lão già thì gã Linh Nhan điểm huyệt bốn phu chèo đò.

Y nhìn Hoài Nhân vương Quốc Kiện:

– Còn cậu bé này, trông mặt quen quen. Cậu cùng gã Dư theo chúng ta từ sáng đến giờ! Cậu là ai?

Y ra chiêu hổ trảo chụp Quốc Kiện, định nhắc lên. Quốc Toản ngồi cạnh Quốc Kiện, hầu vận công để tay lên đùi Kiện. Lập tức một nguồn nội lực như bài sơn đảo hải truyền vào cơ thể Kiện. Gã Linh Nhan chụp trúng vai vương, y cảm thấy như chụp vào tảng đá. Tay y đau buốt. Y bật lên tiếng ái chà, rồi phát một chường hướng vương. Vương vẫn ngồi im, tay ra chiêu nhu chưởng Thiết kình. Hai chưởng chạm nhau đến tẹt một cái. Quốc Kiện nắm lấy bàn tay Linh Nhan. Quốc Toản vận Vô ngã tướng thiền công hút, chân khí từ người Linh Nhan cuồn cuộn chuyển vào người vương. Mụ đàn bà hỏi:

– Cái gì vậy?

Chợt mụ nhìn ra sự thực:

– Thàng nhỏ này đang đấu nội lực vói Linh Nhan. Dường như Linh Nhan bị thất thế.

Mụ để tay vào vai Linh Nhan. Chân khí mụ cuồn cuộn tràn vào tấn công Quốc Kiện. Quốc Toản ngồi im mỉm cười, hầu vận Vô ngã tướng thiền công. Công lực của hầu truyền vào Quốc Kiện, hút nội lực của Linh Nhan. Cơ thể của Linh Nhan hút nội lực mụ già!

Lão già nhìn bốn người dính vào nhau thành một chùm, hiểu ra sự thực, y lên tiếng:

– Cái trò này quá ấu trĩ!

Y chỉ tay vào mặt Quốc Toản:

– Người mau thu chân khí lại, bằng không ta nhả Huyền âm độc chưởng thì người mất mạng.

Quốc Toản vẫn thản nhiên. Lão già vỗ một chưởng vào vai hầu. Bộp một tiếng. Hầu vung tay, mụ già, gã Linh Nhan bật tung ra xa, rơi tòm xuống sông. Hai người lóp ngóp bơi, thì có con đò đi song song. Người trên đò reo lên:

– Ôi có hai con cá to quá.

Một người tung ra cái chài, chụp Linh Nhan vào trong. Quốc Kiện nhảy ùm xuống nước, rồi lặn mất. Thình lình mụ già bị chìm nghỉm. Mụ bị Quốc Kiện dìm xuống đáy sông.

Trên thuyền, lão già đã phát chiêu tấn công Quốc Toản. Y dùng Đông a chưởng pháp, xuất chiêu Phong ba hợp bích. Thấy chưởng phong hùng hậu, hầu không dám khinh thường, phát chiêu Nhân ngưu câu vong trong Tán lạc tiêu hồn chưởng. Binh một tiếng, hầu cảm thấy rung động toàn thân. Tai phát ra tiếng vo vo không ngừng. Còn lão già, lão tần ngần ôm tay tỏ ra đau đớn. Qua một chiêu, lão thấy chân khí của mình bị bị mất tăm mất tích. Vừa rồi thấy Quốc Toản còn nhỏ tuổi, lão không vận Huyền âm công, mà dùng thần công Đông a.

Lão lên tiếng:

– Nhóc con, vừa rồi mi dùng võ công gì vậy?

Quốc Toản cười nhạt:

– Võ công Đại việt.

– Hãy đỡ chiêu nữa của ta.

Y phát chiêu Huyền âm chưởng. Quốc Toản vận Vô ngã tướng thiền công phát chiêu Kị ngưu qui gia. Hai chưởng giao nhau, binh một tiếng. Lão cảm thấy chân khí bị mất tăm mất tích. Tuy nhiên lão cười nhạt:

Ôn con, mi bị trúng Huyền âm chưởng rồi.

– Huyền âm của lão vô dụng với ta.

Thấy Quốc Toản không hề hấn gì. Lão kinh ngạc:

– Thì ra mi cũng biết xử dụng Huyền âm độc chưởng đấy.

Lão cảm thấy bàn tay đau nhức vô cùng, rồi sưng vù lên. Lão cười nhạt:

– Cái đồ trẻ con này không làm gì được ta đâu.

Y móc túi lấy ra một bình nhỏ, bỏ một viên vào miệng rồi nuốt chửng. Thình lình lão già hét lên một tiếng như heo bị thọc huyết, rồi lăn lộn trên sàn thuyền. Quốc Toản điểm huyệt lão.

Thấy Dư Anh đang ngồi ôm tay đau đớn, hầu lại bên cầm tay lên xem: tay sưng vù đỏ lòm. Hầu để tay lên huyệt Bách hội của Dư, vận công hút. Không đầy 10 tiếng đập tim, bao nhiêu cái đau đớn của Dư biến mất.

Quốc Toản ra lệnh:

– Chú lo giải quyết mọi truyện, để cháu bắt mấy tên ma đầu này.

Dư giải huyệt cho mấy tay chèo, rồi trói lão già. Trên con thuyền bên cạnh, Hoài Nhân vương đã túm cổ mụ già trao cho thuyền phu.

Tạ Quốc Ninh nói với Quốc Toản:

– Tôi bị trúng Huyền âm chưởng. Xin quân hầu giải cho.

Quốc Toản để bàn tay lên đỉnh đầu hầu, vận công rồi hút độc tố. Khoảng 30 tiếng đập tim, Quốc Ninh rùng mình đứng dậy:

– Khủng khiếp thực. Không ngờ Huyền âm độc chưởng vẫn còn trên thế gian này.

Có hai con thuyền của thủy quân áp lại hai bên con đò. Tạ Quốc Ninh, Dư Anh ra lệnh đem bọn Linh Nhan sang chiến thuyền. Quốc Toản, Quốc Kiện cũng lên cùng. Chiến thuyền kéo con đò theo. Thấy lão già đeo cái túi bên cạnh. Quốc Toản gỡ ra, đeo bên hông.

Quốc Toản, Quốc Kiện để cho Tạ Quốc Ninh, Dư Anh giải bọn Linh Nhan đi. Hai người vào hoàng thành phục mệnh Thượng hoàng.

Hôm nay cạnh Thượng hoàng ngoài Thái hậu, Hưng Ninh vương, Chiêu Minh vương, còn còn có hoàng đế Thiệu Bảo (Nhân tông) và Khâm Từ hoàng hậu.

Lễ nghi tất.

Nhà vua rót hai bát nước mía pha rau má trao cho Hoài Nhân vương, Hoài Văn hầu:

– Hai em giỏi thực. Mới ra quân lần đầu đã bắt sống bọn độc như bắt ba ba trong rọ. Chú Kiện! Chú thuật lại chi tiết cho Thượng hoàng nghe nào!

Quốc Kiện tường trình từ lúc anh em rời Hàm Tử về Thăng long. Khi vương thuật đến chỗ hai người vào đền Trấn Võ, thì Khâm Từ hoàng hậu ngắt lời:

– Hai em giỏi thì giỏi thực, nhưng thiếu thận trọng.

Bị chị dâu chê, Hoài Nhân hỏi:

– Xin chị chỉ ra chỗ sơ hở của bọn em!

– Cái sơ hở của hai em là: đi bắt bọn độc, mà để Hoài Nhân canh cửa trước. Lỡ chúng ra tay, thì Hoài Nhân không đủ khả năng chống lại, e bị trúng độc.

Hậu cười:

– Chị hỏi chú Kiện câu này nhé?

– Em xin nghe.

– Phu nhân Quốc công Tạ Quốc Ninh là kiếm thuật danh gia. Tại sao lúc Quốc công bị trúng độc, phu nhân không can thiệp?

Hoài Nhân vương suy nghĩ một lát rồi đáp:

– Nếu bà Hoàng Hoa can thiệp thì phải sử dụng kiếm. Sử dụng kiếm thì chỉ có thể giết chúng, chứ không bắt sống được. Vì vậy bà để cho anh Quốc Toản ra tay.

– Giỏi.

Đến đó Tạ Quốc Ninh tới.

Lễ nghi tất.

Sau khi hành lễ, Tạ quốc công tâu:

– Cái lão già có tên Nguyễn Chiến Thắng, mụ già có tên Minh Nguyệt. Thắng là chưởng môn phái Trường bạch, vợ hắn là người Việt. Còn tên Linh Nhan là con của chúng. Nguyên di thư của phái Trường bạch bị tam sao thất bản, nên chúng luyện Huyền âm công bị can, tỳ, thận âm hư, sinh chứng âm hư nội nhiệt. Nên chúng thường đột nhập hoàng cung Nguyên, bắt những cung nữ đang hành kinh hút kinh huyết để chữa bệnh. Bị Thị vệ bắt được. Chúng xin sang Đại việt làm Tế tác, đới tội lập công. Khu mật viện Nguyên xin thu dụng chúng. Chúng trở thành người của Khu mật viện Nguyên. Chức của Thắng là Thiên phu trưởng, con y, Nguyễn Linh Nhan là bách phu trưởng. Vợ chồng y ẩn thân làm nhân viên của bọn Đạt lỗ hoa xích từ lâu. Vốn xuất thân là một đại hành gia. Khi sang Đại việt vợ chồng y nghiên cứu rất kỹ về tổ chức, hành trạng các võ phái Đại việt. Y được sử dụng vàng bạc rất rộng để mua chuộc, kết thân với võ lâm Việt.

Chợt Quốc Toản than:

– Mình mắc mưu chúng rồi!

Chiêu Minh vương kinh ngạc:

– Cháu nói sao?

– Hồi ở Trường sa, cháu nghe phụ vương nói võ công của vợ chồng Thắng, Nguyệt rất cao thâm. Đến Ô Mã Nhi, Toa Đô cũng chỉ chịu được của y ba chưởng. Thế mà hồi trưa, trên thuyền, cháu mới phát có ba thành công lực, y đã lạc bại. Có thể y thấy hành tung bị lộ, y chống cự cho có, để bị bắt. Y bị bắt thì bọn Tuyên phủ ty sẽ yêu cầu triều đình trả chúng. Còn hơn y phát hết công lực, mình sẽ biết rõ chân tướng y.

Chiêu Minh vương than:

– Chiều nay thế nào bọn Tuyên phủ ty sẽ đến phủ thừa Thăng long đòi người. Dĩ nhiên ta phải thả. Nhưng trước khi thả, ta phải thẩm vấn chúng, để biết những gì chúng đã làm. Vậy Quốc Toản hãy dùng Huyền âm công khảo chúng gấp.

– Xin tuân chỉ chú.

Sau khi lấy khẩu cung cha con Linh Nhan, Quốc Toản trình bản cung từ cho thượng hoàng. Thượng hoàng chú ý đến đoạn:

Vì di thư Huyền âm bị mai một, thành ra bọn Nguyễn Chiến Thắng, Nguyễn Linh Nhan luyện bị hại thận âm, can âm, tỳ âm. Nên chúng bị âm hư nội nhiệt nặng. Vì vậy hằng tháng chúng phải dùng kinh huyết của các thiếu nữ để hỗ trợ cho việc luyện công.

* Ghi chú: Xin xem chú giải 1 hồi 95 và chú giải 4 hồi 110 về Huyền âm công.

(Còn tiếp Hồi 96)

Share this post