Anh Hùng Đông A – Gươm Thiêng Hàm Tử (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 99 (Tiếp theo)

Anh Hùng Đông A – Gươm Thiêng Hàm Tử (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 99 (Tiếp theo)

ANH HÙNG ĐÔNG A – GƯƠM THIÊNG HÀM TỬ
* Tiểu Thuyết Lịch Sử
* Tác giả: Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ
* Nguồn: Blog Trần Đại Sỹ (https://trandaisy.wordpress.com)

* Để đọc những phần đã đăng, xin vào khung Search this site (Tìm Kiếm) và gõ tên tác giả: Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ.

HỒI THỨ CHÍN MƯƠI CHÍN
Gươm thiêng Hàm Tử
(Tiếp theo)

Địa Lô thuật tiếp:

– Di Ái với tùy tùng được dự một buổi thiết đại triều của Hốt Tất Liệt. Y được đứng vào hàng các tước vương chư hầu. Giữa buổi thiết triều, Hốt Tất Liệt ban chỉ:

– Bọn An nam cứng đầu, rồi cuối cùng cũng phải chịu phép. An nam quốc vương gửi biểu nói rằng y bị bệnh hoạn từ nhỏ, nên không thể đi ngựa đường xa vạn dặm sang chầu. Y sai chú là Thái sư Trần Di Ái thay mặt. Chư khanh có ý kiến gì?

Di Ái bước ra phủ phục tung hô vạn tuế.

A Hợp Mã là phó tể tướng, nhưng là cường thần, đệ nhất sủng thần của Chí Nguyên, tâu:

– Thần thấy trong biểu của Quang Bính (chỉ vua Thánh tông) hoàn toàn giả trá. Bởi giòng họ Đông a bắt con cháu dù nam, dù nữ đều phải luyện võ. Võ công các An nam quốc vương đều cao thâm vô cùng, thì làm gì có việc bệnh hoạn đến không cỡi được ngựa?

Di Ái tiếp lời A Hợp Mã:

– Đúng như lời tâu của Trung thư bình chương chính sự (phó tể tướng) A Hợp Mã. Giòng họ Đông a nhà thần, trải gần 200 năm nay, thế thế lưu truyền di chúc: con cháu đều phải luyện võ. Anh của thần là Trần Cảnh võ công cao không biết đâu mà lường. Con là Hoảng tức Quang Bính nổi tiếng anh hùng vô địch, suốt đời không bao giờ phải uống thuốc. Đừng nói cỡi ngựa đi sứ, y có thể phi ngựa mỗi ngày ngàn dặm. Các vị võ quan hiện diện hôm nay đã biết võ công của em y là Nhật Duy. Trong lần Thái sư Ngột Lương Hợp Thai nhập Việt, Thái sư bị Nhật Duy đả bại tại Thăng long. Bản lĩnh như A Truật, Hoài Đô mà cũng không chịu được của Duy quá 10 chiêu. Hồi Duy sang viện Tống ở Tứ xuyên, đã đánh bại Toa Đô, Ô Mã Nhi. Võ công của Quang Bính trội hơn Nhật Duy một bậc.

Các võ quan hiện diện đều đã nghe nói về võ công vô địch của Vũ Uy vương. Nay nghe võ công vua An nam cao hơn Vũ Uy vương thì đều rùng mình.

A Hợp Mã tiếp:

– Bọn Quang Bính xảo quyệt thì triều đình sẽ áp dụng cái thuật: dĩ bỉ chi đạo hoàn thi ư bỉ thân. Nghĩa là lấy cái gian xảo của y mà trị y. Di Ái đã vào chầu thì Di Ái là thần tử. Triều đình phong cho Di Ái làm An Nam quốc vương, sai Sài Thung đem quân đưa về nước.

Nhà vua tuyên chỉ:

– Lễ bộ ban chỉ phong cho Trần Di Ái làm An nam quốc vương. Phong Lê Tuân làm Hàn lâm học sĩ, Lê Mục làm Thượng thư lệnh. Binh bộ cấp cho Sài Thung một thiên phu Kị binh thiết đột đưa An nam quốc vương về nước.

Di Ái, Lê Tuân, Lê Mục quỳ gối bái tạ. Hoàng đế ban chỉ chiều hôm ấy cho An nam quốc vương và sứ đoàn ăn yến. Yến do Nguyên phi Bạch Liên khoản đãi.

Giờ thân, Di Ái cùng Lê Tuân, Lê Mục được xe do bộ Lễ phái đến khu Lan hoa đón, lại phái một thập phu Thị vệ hộ tống, tới cung Nguyên phi.

Khi mới tới Đại đô, bọn Di Ái dùng ngọc, ngà, vàng, bạc đút lót cho một số quan lại. Trong câu truyện, y lộ cho họ biết về xuất xứ ca kĩ của Nguyên phi. Y tố cáo Nguyên phi do triều đình Đại việt gửi qua làm gian tế.

Y tuyệt không biết rằng, bấy giờ tại Đại việt, Nho học đã có cơ cấu sâu rộng, nên coi trinh tiết của phụ nữ là khuôn vàng thước ngọc. Còn triều Đại nguyên tuy đã dùng Hán pháp cai trị, nhưng trên từ nhà vua, xuống đến các thân vương, tể tướng đều giữ nguyên phong tục Thảo nguyên. Họ lấy việc cướp vợ, cướp con gái của kẻ thù làm điều hãnh diện. Họ biết rất rõ Bạch Liên khuê danh là Đặng Thị Anh, từng là danh kĩ Đại việt, từng là vợ của Phiêu kị đại tướng quân, Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư. Phi bị Ngột Lương Hợp Thai bắt dâng cho đại vương Hốt Tất Liệt. Hốt Tất Liệt thường hãnh diện về xuất xứ của Nguyên phi như một chiến lợi phẩm. Vì vậy những gì y nói với họ đã đến tai Nguyên phi.

Chỉ dụ của hoàng đế ban yến khoản đãi An nam quốc vương, nên Nguyên phi cho mời Thái tử phi Ngọc Kỳ, vương phi Trấn Nam vương Ngọc Trí, phu nhân của Khâm sứ Lý Hằng là Ngọc Quốc và cả Tuyên uy đại tướng quân, Trung hòa hầu, Thống lĩnh Cấm quân, Thị vệ Nguyễn Đại Hành. Cả bốn đều là người Việt.

Bọn Di Ái được mời vào trong cung. Cung nga phụ trách Lễ nghi xướng:

– An nam quốc vương, cùng Lê Tuân, Lê Mục bái kiến Nguyên phi.

– Cho vào.

Di Ái liếc nhìn người mà y từng nghe danh hai mươi năm trước, đẹp nức danh Thăng long, nay đang ngồi ở chót vót quyền lực tại Thiên triều. Y rùng mình: giai nhân trang phục quần áo Việt đẹp huyền ảo, đang ngồi trên ghế cao. Y quỳ gối rập đầu:

– Nô tài Trần Di Ái bái kiến Nguyên phi.

– Nô tài Lê Tuân bái kiến Nguyên phi.

– Nô tài Lê Mục bái kiến vương phi.

Ngọc Kỳ tuyên chỉ:

– Bình thân.

– Ông tới đây đã trên nửa tháng. Trong nửa tháng qua, ông lê lết hết dinh thự các đại thần, nói những truyện trên trời dưới biển, khép nép, nịnh bợ. Sao ông hèn thế? Việc ông hối lộ các đại thần để họ giúp ông được phong làm An nam quốc vương, thì kệ ông. Hà cớ gì ông bán rao Nguyên phi với chúng tôi. Nào là chúng tôi do Đại việt gửi sang làm Tế tác. Nào Nguyên phi là ca kĩ. Chúng tôi là người Việt như ông. Chúng tôi được sủng ái thì ông phải mừng vì có chỗ dựa lớn. Đây ông bán rao khắp Đại đô. Ông hãy trả lời cho Nguyên phi đi! Ông nên nhớ không cần Nguyên phi, tôi là Thái tử phi, lúc nào tôi cũng có thể chặt cái đầu củ chuối rẻ tiền của ông.

Di Ái run lẩy bẩy, y quỳ gối rập đầu binh binh:

– Khải Nguyên phi, khải Thái tử phi. Vụ nói Nguyên phi, Thái tử phi làm gian tế do vua An nam là Hoảng nói ra trong một buổi họp giỗ Linh từ quốc mẫu, chứ thần không hề bịa đặt ra. Vì thần nhất tâm nhất dạ với Thiên triều, nên muốn tránh cho Thiên triều bị Tế tác An nam hại ngầm.

– Hại ngầm! Chúng ta là mấy thiếu nữ chỉ biết ca hát, nuôi con mà mi vu cho tội hại ngầm ư?

Nàng lấy chân đẩy sẽ vào đầu y.

Vì sợ quá, y bò như chó bò đến trước Ngọc Kỳ, rồi úp mặt vào gấu váy của nàng:

– Thần tuổi già lú lẫn, hành sự hồ đồ, xin phi tha cho cái mạng kiến ruồi này.

Có tiếng thái giám Kính sự:

– Hoàng thượng giá lâm.

Nguyên phi, Ngọc Kỳ, Ngọc Quốc, Ngọc Trí, cùng rời sảnh, ra ngoài tiếp nhà vua. Đi theo Hốt Tất Liệt còn có Thái tử Chân Kim, Trấn Nam vương Thoát Hoan, A Hợp Mã, A Lý Hải Nha.

Lễ nghi tất.

Tiệc dọn ra.

Được ba tuần rượu, nhà vua hỏi Di Ái:

– Từ hôm sang đây, khanh đã nói với hơn hai mươi đại thần rằng Nguyên phi với Ngọc Kỳ, Ngọc Trí do An nam gửi sang làm gian tế. Vậy có chứng cớ gì không? Hay là chỉ nghe đồn?

Di Ái run lật bật:

– Chính tai thần nghe Quang Bính nói trong một bữa tiệc. Chứ sự thực ra sao thần cũng không biết.

Nguyên phi cười:

– Khi sang đây, Di Ái mới nói với một người thì người đó đã hỏi thần truyện này. Thần không cần biện luận. Vì thần chỉ cần hỏi ngược lại một câu: thần được Thái sư Ngột Lương Hợp Thai dâng cho bệ hạ, chứ không phải An nam quốc vương dâng cho bệ hạ. Ở An nam, thần chỉ là thứ thiếp một thân vương nhỏ như hạt vừng hạt đậu. Sang Nguyên thần là Nguyên phi được sung ái cùng cực, thì tội gì thần phải làm gian tế cho An nam. Như vậy chẳng hóa ra bán bò tậu ễnh ương ư? Đối với bệ hạ, truớc là chúa tôi, sau là vợ chồng. Thiếp quyết tâm cùng bệ hạ, khai sáng một triều đại hơn cả Hán, Đường. Lại nữa, nhờ những công lao lập được cho bản triều, bệ hạ liệt thần vào khai quốc công thần, không ai có thể chối cãi được. Thế thì thần phải giữ những gì mình lập được chứ! Có đâu đi làm gian tế để mất tất cả!

Phi chỉ vào Đại Hành:

– Người này chỉ là một võ sĩ vô danh, được bệ hạ tuyển làm Vạn phu trưởng. Từ ngày đó, y luôn tìm dịp báo đền hồng ân. Dù y được Mông Ca tuyển làm trưởng đoàn Thị vệ. Rồi y được A Lý Bất Ca cho làm việc tại Khu mật viện. Người y ở Hoa lâm mà lòng ở Đại đô. Y báo cho bệ hạ tất cả những tin mật của A Lý Bất Ca. Trong cuộc chinh thảo A Lý Bất Ca, y giúp bệ hạ chiếm Hoa lâm. Bệ hạ tin dùng y ban cho y chức Tuyên uy đại tướng quân, Trung hòa hầu; thống lĩnh Cấm quân, Thị vệ. Thế mà Di Ái cũng nhả độc rắn, phao rằng y là Tế tác của An nam. Nếu nói y là người Việt, nên làm gian tế cho An nam thì e triều đình sẽ rung động. Than ôi! Triều đình của bệ hạ hiện có tới chín phần mười là người không gốc ở Mông cổ. Bây giờ ai cũng bảo họ làm gian tế thì sao?

Phi chỉ A Lý Hải Nha:

– Vị đại thần này là người có công, là khai quốc công thần của bệ hạ là người gốc Hồi cương. Nếu cứ cái đà suy nghĩ lẩm cẩm của Di Ái thì quan Bình chương Kinh hồ cũng là gian tế của Hồi cương ư?

Phi chỉ Ngọc Kỳ, Ngọc Trí:

– Đây là hai nàng dâu của bê hạ, lúc rời Đại việt chúng là những con bé ăn quà như mỏ khoét, suốt ngày chỉ biết ca hát. Chúng xuất thân con nhà nghèo, đói không đủ ăn, rét không đủ mặc. Cha mẹ phải bán con là điều đau xót cùng cực. Khi sang đây, hạnh ngộ được bệ hạ tuyển cho hai hoàng tử. Chúng được sủng ái, chúng biết rằng hai hoàng tử đem chúng từ chỗ cùng cực lên tiên. Chúng tự biết mình may mắn, nên phải hết sức giữ gìn nhu thuận, hầu hạ không khiếm khuyết bổn phận. Nay mỗi đứa đã dâng cho bệ hạ hai hoàng nam. Thế mà bỗng dưng người ta kết tội chúng làm gian tế. Hỏi với địa vị chỉ biết nuôi con, hầu hạ thì chúng làm được gì đáng gọi là tế tác?

Phi chỉ vào Di Ái:

– Người này là chú vua An nam, tước phong tới vương, chức là Thái sư. Địa vị của y cao vòi vọi. Hai con y đang thống lĩnh hai hiệu binh. Thế mà y lại âm thầm làm gian tế cho ta. Thử hỏi bệ hạ có tin được y không? Y cầu xin cái chức An nam quốc vương kệ y. Hà cớ y muốn phá gia cang của Thái tử, của hoàng tử Thoát Hoan, cả của thiếp nữa. Thiếp xin thưa trước, khi y rời Đại đô về nước, thần sẽ sai Thị vệ đuổi theo băm vằm y ra như băm chả.

Hốt Tất Liệt can:

– Thôi trẫm xin phi hãy hạ hỏa khí xuống, trẫm cần dùng y trong việc chinh tiễu An nam.

Trong khi Hốt Tất Liệt nói, Di Ái quỳ gối, ngửa cổ nhìn Nguyên phi, mắt trợn trừng khiếp sợ.

– Xin Nguyên phi tha cho cái mạng kiến ruồi này!

Phi chỉ vào mặt Di Ái, nói bằng tiếng Việt, trong khi Ngoc Kỳ dịch sang tiếng Mông cổ:

– Ta tiếc công cho Tuyên Minh Thái hoàng thái hậu, một người bác học đa năng, đã dầy công đào tạo cho những đứa cháu thành anh hùng, mà mi thì hèn mạt quá. Triều Nguyên ta, gồm toàn những bậc anh hùng tài trí, mà phải nghe những lời hèn mạt của mi bôi bẩn ta, bôi bẩn Thái tử phi, bôi bẩn vương phi Trấn Nam vương. Thôi mi đứng dậy đi!

oOo

Niên hiệu Thiệu Bảo thứ 4 (1282, vua Nhân Tông) của Đại việt.

Bên Trung nguyên niên hiệu Chí Nguyên thứ 19. Thế tổ của Đại nguyên.

Tại Khu mật viện Đại việt, điện Giảng võ.

Buổi thiết triều gồm Thượng hoàng (Thánh tông), Thiệu Bảo hoàng đế, Tiết chế Hưng Đạo vương, Tổng trấn Tây Bắc cương Chiêu Văn vương Nhật Duật, Tổng trấn Đông Bắc cương Hưng Ninh vương Trần Quốc Tung, Quản Khu mật viện Chiêu Quốc vương Trần Ích Tắc, Tổng trấn nam thùy Tĩnh quốc vương Trần Quốc Khang, Tổng lĩnh Thiên tử binh Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng. Tổng lĩnh Kị binh Chiêu Hòa ương Quốc Uất.

Mục đích buổi thiết triều để nghe Hưng Nhượng vương tâu trình tình hình Viện Chiêm sát đát, trong ba năm qua.

Sau khi tâu trình, vương kết luận:

– Hiện tất cả chư tướng có công đều chờ chỉ dụ của Thượng hoàng.

Thượng hoàng ban chỉ:

– Mời chư tướng vào.

Lễ nghi tất.

Thượng hoàng phủ dụ:

– Từ hồi rợ Thát đát gây nạn binh đao khắp thiên hạ, trước sau Đại việt ta trải qua 5 cuộc chiến. Cả 5 cuộc, nhờ liệt tổ Đại việt linh thiêng phù hộ. Nhờ sức của toàn dân cùng đứng dậy với triều đình. Nhờ chư tướng xả thân giữ nước. Nhờ anh em trong nhà hòa thuận. Chúng ta thắng cả năm.

Ngài nhìn chư tướng một lượt, rồi tiếp:

– Cuộc chiến thứ nhất, vào thời Nguyên phong. Bọn Ngột Lương Hợp Thai (1257), hung hăng, tàn bạo tràn vào như nước vỡ bờ. Đức Thái Tông, nghị với Trung Vũ đại vương, Hưng Đạo vương đưa ra sách lược “Cả nước là thành, toàn dân thủ thành”. Ta lùi 5 trận, Thảo lâm, Cụ bản, Phù lỗ, Thăng long, cánh Đồng văn, để rồi chỉ đánh một trận Đông bộ đầu, diệt gần trọn 10 vân Kị binh. Đó là một thời.

Ngài chỉ vào Dã Tượng, Yết Kiêu, Cao Mang, Địa Lô:

– Bấy giờ trẫm mới 17 tuổi. Các khanh chỉ mới 15-16 tuổi. Chúng ta cùng phá giặc. Trẫm tái chiếm Thăng long. Nay trẫm với chư khanh tuổi đã lớn, nhưng nhớ lại lúc xung sát, mà hùng tâm rừng rực!

Ngài lướt nhìn chư vương hiện diện:

– Cuộc chiến thứ nhì, sau khi bọn Ngột Lương Hợp Thai đại bại, để duy trì hòa bình cho Đại việt, đức Thái Tông với Trung Vũ đại vương (Trần Thủ Độ), theo sách lược của Hưng Đạo vương mở rộng cuộc chiến không gươm đao sang Mông cổ. Triều đình gửi Vũ Uy vương sang Mông cổ làm con tin. Vương đem Thiên trường ngũ ưng, Đông hoa ngũ tiên, Tô lịch thất tiên theo. Giữa lúc đó Hốt Tất Liệt đã chiếm hết Hoa bắc, đánh 11 châu, 144 thành phía nam Trường giang. Thế như chẻ tre. Tống như ngọn đèn trước gió. Sứ đoàn thành công trong việc gây cho Mông Ca nghi ngờ Hốt Tất Liệt. Hốt Tất Liệt bị thu hồi binh quyền, về lêu bêu ở Hoa lâm. Tất cả tổ chức hành chính, binh bị của y tại Trung thổ bị phá tan hoang. Các mũi tấn công Tống không còn nữa. Nhờ vậy mà Tống được yên trong một thời gian dài. Vũ Uy vương giúp Cao ly, Đại lý, Tây tạng, Hồi cương, Lý Đảm lấy lại được thế mạnh, phân tán lực lượng Mông cổ. Nhờ cuộc chiến này, mà Tống nhượng bộ, ta thu hồi được ba châu: Văn sơn, Khâu bắc, Chiêu dương. Đó là một thời. Triều đình lúc nào cũng trân trọng đại công của vương.

Ngài trầm ngâm:

– Cuộc chiến thứ ba, đây là cuộc chiến thực sự. Hốt Tất Liệt bị thu binh quyền, Mông Ca phân binh làm ba mũi đánh Tống. Tống cầu cứu với ta. Thượng hoàng quyết định: Tống như hàng rào bảo vệ mặt bắc cho ta. Cần trợ Tống. Tống còn thì ta được yên. Vũ Uy vương cùng hai hiệu binh Văn bắc, Thiệu Hưng được gửi sang trợ Tống tại Tứ xuyên. Kết quả phá tan các đạo binh hùng mạnh nhất của Mông cổ. Vũ Uy vương đánh ba trận Giang an, Bồ lăng, Điếu ngư, diệt chủ lực Mông Cổ, giết Mông Ca. Vũ Uy vương gây cho Mông cổ có nội chiến giữa A Lý Bất Ca, Hốt Tất Liệt. Hốt Tất Liệt phải ký hòa ước trả cho Tống 11 châu, 144 thành, đem quân về tranh ngôi đại hãn với A Lý Bất Ca. Vũ Uy vương cũng trợ giúp cho anh hùng Trung nguyên là Lý Đảm kéo cao cờ nghĩa chống Thát đát. Giúp Cao ly đủ sức đương đầu với Mông cổ. Vương khích cho các Hãn Thảo nguyên tách ra tái lập nước Nãi man, Bắc liêu chong mặt với Mông cổ. Nhờ thế mà Tống, Đại việt ta yên được một thời gian dài. Đó là một thời nữa. Tài trí của vương thực tiền vô cổ nhân, hậu vô lai giả.

Ngài thở dài lúc rồi tiếp:

– Cuộc chiến thứ tư, do mệnh trời không còn ban cho Tống cai trị Trung nguyên nữa. Hốt Tất Liệt thắng A Lý Bất Ca, lập ra triều đình Đại nguyên, lấy Trung nguyên làm lãnh thổ chính, cai trị các nước xung quanh. Hốt Tất Liệt đánh bại Lý Đảm. Cao ly cúi đầu quy hàng. Bắc liêu bị phá. Sau một thời gian gần chục năm, tinh lực vùng Thảo nguyên, Trung nguyên phục hồi. Hốt Tất Liệt quyết diệt Tống. Y thân chinh vượt Trường giang đánh Tống. Tống quyết định phong cho Vũ Uy vương tước Hành sơn vương, lãnh thổ gồm vùng Kinh châu, Hồ nam, Lưỡng quảng. Trẫm đồng ý cho vương sang Tống. Nhờ tài trí của vương, Hốt Tất Liệt không dám cho quân vượt Trường giang đánh xuống Nam. Nhưng y cho đánh vào vùng Tương dương, Phàn thành, Ngạc châu. Tống hèn nhát đầu hàng. Vũ Uy vương bàn với trẫm: nếu dân chúng Kinh hồ ngả theo Nguyên, thì mình có giữ cũng vô ích. Quả nhiên bốn hiệu binh còn lại của Tống hàng Nguyên. Vũ Uy vương trao Kinh hồ cho Nguyên, rồi theo lời đề nghị của trẫm, sang Đại đô làm con tin. Hốt Tất Liệt trọng tài của vương, trao cho vương trấn nhậm vùng tây bắc Trung nguyên, gồm lãnh thổ của Hoa Thích Tử Mô, Tây hạ, Tây liêu. Ta cũng yên được mấy năm. Đó là một thời nữa.

Ngài đứng dậy:

– Cuộc chiến thứ năm, gốc của Hốt Tất Liệt là vùng Thảo nguyên, vốn không có văn hóa, chẳng có văn học. Khi đánh Trung nguyên, y học chữ Hán, thâm nhiễm Hán học. Y dùng Hán pháp mà thành công ở Trung nguyên, ở chính gốc Mông cổ. Mà như chư vị biết, bất cứ một ông vua Trung nguyên nào, một ông văn quan, võ tướng nào cũng muốn khắp thiên hạ phải quy phục. Họ ảnh hưởng của kinh điển Trung nguyên: Vua của Trung nguyên là con trời, các quan văn võ đều là người nhà trời giáng sinh. Cho nên Hốt Tất Liệt diệt Tống xong lập tức đánh Nhật bản ba phen, lại cử binh đánh các nước ngoài biển Đông và phía nam. Nước mà y uất hận nhất là Đại việt ta. Nhưng nghĩ đến trận đánh thời Nguyên phong, Ngột Lương Hợp Thai đại bại, các văn quan võ tướng triều Nguyên đều ghê sợ, không dám nghĩ tới. Tuy vậy Khu mật viện Nguyên sau khi nghiên cứu lịch sử Hoa-Việt đã đưa ra kế sách: muốn đánh Đại việt phải có ít nhất bốn đạo quân.

Đạo thứ nhất là phong chức tước cho vua Chiêm, xúi Chiêm đánh vào sau lưng ta.

Đạo thứ nhì là dùng đội ngũ Hoa kiều ở Đại việt làm nội ứng.

Đạo thứ ba là xúi người Việt nổi lên, gây cho trong nước có nội loạn.

Đạo thứ tư là dùng đại quân kéo sang trợ cho đạo quân nội loạn.

Ngài cười:

– Thế nhưng đạo thứ nhất không thành, vì Chiêm với ta quá thân. Khu mật viện Nguyên xin đem quân đánh Chiêm. Hốt Tất Liệt lập bộ Tổng tư lệnh đánh Chiêm mang tên Hành tỉnh Chiêm thành. Chiêm anh hùng chống trả. Trẫm nghe theo Hưng Đạo vương lập Trợ Chiêm Sát Đát hành doanh tức Bộ tư lệnh cứu viện Chiêm, cử Hưng Nhượng vương làm nguyên soái. Gửi hạm đội Bạch đằng, hiệu binh Thiệu Hưng giúp Chiêm. Dù các tướng Nguyên được sai đi đánh Chiêm đều là những bậc tài trí như Hữu thừa Toa Đô, Tả thừa Lưu Thâm, Binh bộ thị lang Diệc Hắc Mê Thất. Nhưng Nguyên bị sa lầy. Cuối cùng là tan nát hết.

Ngài chỉ vào các tướng:

– Binh bộ đang xét công trạng của chư tướng. Ngày mai triều đình sẽ ban chỉ thăng thưởng.

Ngài mỉm cười chỉ vào Triệu Nhất, Triệu Trung, Triệu Hòa:

– Đạo binh thứ nhì thì đội ngũ Hoa kiều ở Đại việt lại là những người Tống, được Đại việt giúp lập ra ba hiệu binh Thiệu Hưng, Tường Hưng, Văn Thiên Tường, đưa về Trung thổ dựng cờ Cần vương đuổi Thát đát. Bây giờ Hốt Tất Liệt đành dùng đạo thứ ba và thứ tư. Đạo thứ ba, y phong cho chú Trần Di Ái làm An Nam quốc vương, rồi sai Sài Thung đem một nghìn Thiết kị về nước gây nội chiếm. Đạo quân này đang lên đường. Đạo thứ tư y sai Thái tử Thoát Hoan, người con tài trí nhất, với những tướng kiệt hiệt như A Lý Hải Nha, Toa Đô, Ô Mã Nhi, Lý Hằng đem tới 50 vạn quân sang đánh ta.

Ngài chỉ vào Hưng Nhượng vương:

– Trẫm trao cho vương nhiệm vụ diệt cái đạo binh Sài Thung này. Lúc đầu trẫm định trao cho bốn tướng Dã Tượng, Yết Kiêu, Cao Mang, Địa Lô đón đường đánh Sài Thung, bắt chú Di Ái. Nhưng Hưng Đạo vương, Chiêu Minh vương can rằng: về tài trí thì bốn tướng dư thừa. Ngặt vì Thiên trường Ngũ ưng tính tình ngay thẳng, ghét kẻ gian cùng cực. Hai vị vương sợ bốn tướng giết Di Ái, gây ra tai vạ lớn, trẫm mang tiếng giết chú. Trong khi trẫm, Hưng Đạo vương, Chiêu Minh vương, Hưng Ninh vương muốn duy trì tình đoàn kết trong giòng họ. Tất cả chỉ muốn bắt chú Di Ái đem về Thăng long giam giữ, như vậy hai người con của ông ta là Trần Văn Lộng, Trần Tú Hoãn không dám phản triều đình. Chiêu Minh vương muốn trao việc này cho ba người. Một là Hưng Nhượng vương, hai là Hoài Nhân vương, ba là Hoài Văn hầu. Cả người đều thuộc hàng cháu của Di Ái, nên không dám xuống tay mạnh với ông ta. Nhất là Hưng Nhượng vương, tài trí, cương cường không ai hơn, nhưng vương là người ôn nhu, thuần hậu. Vậy vương có gì thắc mắc không?

Hưng Nhượng vương hỏi:

– Võ công ông Di Ái hiện cao thâm nhất trong nhà ta. Làm sao thần địch lại ông? Muốn thắng ông họa chăng phải nhờ Hưng Ninh vương hay Vũ Uy vương!

Thượng hoàng cười không trả lời.

Cả phòng hội cùng im lặng. Một lát Hưng Ninh vương lên tiếng:

– Thần không thể ra tay trong vụ này. Thần thấy ở đây Quốc Toản có đủ khả năng bắt chú Di Ái.

Chiêu Quốc vương xua tay:

– Về võ công Quốc Toản đã học được bộ Tán lạc tiêu hồn chưởng, bộ Mê linh kiếm pháp, nhất là nội công Vô ngã tướng, nội công Âm nhu. Nhưng Toản còn quá trẻ, thời gian luyện tập không bao lâu. Toản thiếu kinh nghiệm chiến đấu. Trong khi chú Di Ái tuổi ngoài 60, công lực cao thâm không biết đâu mà lường, kinh nghiệm chiến đấu có thừa. Quốc Toản không đủ bản lĩnh thắng chú Di Ái đâu!

Thượng hoàng vẫn mỉm cười:

– Trẫm biết, Quốc Toản sẽ thành công.

Chiêu Quốc vương Trần Ích Tắc bực mình nghĩ thầm:

– Từ xưa đến giờ, trên cao nhất là đức Thái tông, dĩ chí Trung Vũ đại vương, Linh Từ quốc mẫu đều khen anh Hoảng có con mắt tinh đời, biết dùng người. Nhưng nay thì anh ấy xét đoán lầm người rồi. Tên nhãi con Quốc Toản này tuy có cơ duyên học được những pho võ công trấn quốc. Nhưng địch sao lại Di Ái?

Tự nhiên vương thấy ghét Quốc Toản, Quốc Kiện:

– Hai tên ôn con này mới xuất hiện ở mặt trận Chiêm lần đầu đã thành công chẳng qua như chó ngáp phải ruồi. Thế mà Thượng hoàng trao việc trọng đại cho chúng e hỏng đại sự. Đánh nhau với Mông cổ, với ông Di Ái đâu phải trò chơi!

Nhưng vương không muốn nói ra, nghĩ thầm:

– Để hai tên nhóc con bị Di Ái giết đi thì Thượng hoàng mới mở mắt ra. Mọi người sẽ biết Thượng hoàng không hề có tài dùng người! Tiếc thay, ta là người minh mẫn, tài trí nhất trời nam, chỉ vì là con thứ mà phải thờ ông anh như thế này thực đáng tiếc.

Chiêu Quốc vương hỏi:

– Đối phó với một Thiên phu kị binh thiết đột của Mông cổ không phải là điều dễ. Phải đánh tiêu diệt thực mau, thực gọn, rồi rút ngay. Chậm trễ, Kị binh tiếp viện sẽ tới trong hai giờ . Vậy Thượng hoàng muốn đánh chúng tại đâu? Dùng hiệu binh nào?

– Để Hoài Văn hầu quyết định.

Chiêu Quốc vương than thầm:

– Tên nhóc con chưa học binh thư, chưa từng cầm quân, mà bây giờ để cho nó quyết định một trận đánh sinh tử thì nguy thực. Được xem nó trả lời sao?

Mọi người nhìn Hoài Văn hầu như muốn hỏi ý kiến. Chiêu Quốc vương nghe Thượng hoàng nói, vương uất nghẹn, định hét lên:

– Trời ơi! Việc trọng đại như vậy mà trao cho tên ôn con quyết định thì còn trời đất nào nữa?

Hoài Văn hầu tâu:

– Thần nghĩ nếu ta đợi cho bọn Sài Thung vào bắc biên rồi đón đường phá Thiên phu kị binh, thì ta ra mặt chống Nguyên. Trong khi hơn hai chục năm qua, ta vẫn mềm dẻo giả bộ khuất phục Nguyên bằng các sứ thần, bằng các đạo biểu. Thần nghĩ mình không cần ra mặt! Thần sẽ đánh Sài Thung trên đất Tống; bằng Cần vương Tống.

Cử tọa thấy Quốc Toản nhỏ tuổi mà lý luận vững chắc đều gật đầu đồng ý.

Quốc Toản tiếp:

– Hiện toàn quốc đang chuẩn bị kháng nguyên, nhưng bề ngoài ta vẫn sai sứ sang xin Nguyên bãi binh. Trong khi Thoát Hoan cũng đang tập hợp binh mã sang đánh ta. Y vẫn đeo mặt nạ bề ngoài ra bộ nhân nghĩa: ra binh vì Chiêm không phải vì Việt. Vậy thì tội gì ta phải thực thà với chúng? Mày xảo trá, thì tao cũng xảo trá. Thần sẽ dùng quân Cần vương Tống, kéo cờ Tống đón đánh Sài Thung trên đất Trung nguyên. Dĩ nhiên sau trận đánh bọn Thoát Hoan sẽ biết sự thực. Nhưng ta chối biến đi: không! Đại việt tôi không đánh quân Thiên triều. Đó là quân Cần vương Tống.

Cử tọa vỗ tay hoan hô. Trong khi Chiêu Quốc vương hỏi:

– Nói thì dễ, nhưng liệu có điều được Cần vương Tống đến chiến trường không? Kị binh Mông cổ như hùm, như hổ, liệu mấy ngoe Cần vương Tống có làm được không? Hay đem xác cho chúng băm vằm?

Quốc Toản không hiểu những uẩn khúc trong lòng ông chú. Hầu đề nghị:

– Đối phó với Kị binh thì nên tránh đồng bằng. Thời Anh vũ Chiêu thắng, Trung thành vương, Tín nghĩa vương đã phục binh đánh kị binh của Tống tại núi Đại giáp, Hỏa giáp và thung lũng Ngọc tuyền. Bây giờ thần cũng phục binh tại núi Đại giáp. Dĩ nhiên có thể một số Kị binh chạy thoát, thần cho phục tại núi Hỏa giáp, để bắt hết bọn tàn binh.

Thượng hoàng khen:

– Quốc Toản sinh ra tại vùng Kinh hồ, từng sống với dân Kinh hồ, từng gần gũi binh tướng Kinh hồ. Hiểu địa thế Kinh hồ. Vì vậy trẫm mới ủy trận này cho Quốc Toản.

Chiêu Quốc vương bực mình:

– Khen cho lắm vào, cứ đợi đi. Mấy hôm nữa tên ôn con này sẽ nát thây ra, bấy giờ không còn mặt mũi nào mà nhìn chúng ta.

Đến đó Thái giám tâu:

– Vũ Minh vương Quang Húc, Tổng lĩnh Ngự lâm quân, Thị vệ, phụ trách xưởng chế vũ khí Thăng long xin vào tâu trình.

Lễ nghi tất.

Vũ Minh vương tâu:

– Hồi tháng 5, các xưởng luyện kim chế vũ khí ở Thăng long, Thiên trường gặp một quặng gang không phải gang, thép không phải thép, đồng không phải đồng. Các lò nấu đến hai ngày, quặng vẫn cứng. Đành bỏ ra không dùng được. Thần góp lại đem về Thăng long, gọi là quặng hoàng thiết. Đúng lúc đó Hưng Vũ vương cùng công chúa Thủy Tiên đem quân đi An bang. Khi quân vuợt sông Bạch đằng khoảng 250 dặm thì nghỉ nấu cơm ăn. Quân sĩ lấy những tảng đá đen nhánh bắc lên làm bếp. Không ngờ củi đốt, hắc thạch (đá đen) cháy đỏ rực, đến nỗi nồi đồng, nồi gang đều bị chảy ra. Vương sai quân sĩ chở mấy xe hắc thạch về Thăng long. Dùng hắc thạch nung quặng thép nào cũng mềm cả. Đem nung quặng hoàng thiết thì quặng mềm ra. Nhân đó Hưng Vũ vương dùng quặng ấy đúc hai thanh kiếm. Một thanh lớn, một thanh nhỏ. Thần sai binh lên Đông triều chở mấy trăm xe hắc thạch về dùng cho tất cả các lò luyện kim chế vũ khí. (*)

Thượng hoàng truyền:

– Cho đem hai thanh kiếm ấy vào đây.

Vũ Minh vương trở ra, rồi dẫn hai Thị vệ bưng hai cái giá kiếm, trên phủ nhiễu đỏ, quỳ xuống dâng lên. Thượng hoàng mở tấm nhiễu che thanh kiếm nhỏ, ngài rút kiếm ra khỏi vỏ: ánh vàng chiếu sáng lòa, toát ra hơi lạnh rợn người. Thượng hoàng cầm lên múa một vòng, ánh sáng chiếu như quả cầu vàng. Ngài chống thanh kiếm xuống nền điện. Sột một tiếng, kiếm xuyên thủng viên đá lát điện sâu đến một tấc.

Thượng hoàng khen:

– Kiếm sắc thực.

Vũ Minh vương sai mang vào một tảng đá lớn. Thượng hoàng vung kiếm lên, sột một tiếng, tảng đá bị chẻ làm đôi như chẻ củ chuối. Ngài lại mở khăn nhiễu phủ thanh kiếm lớn: thanh kiếm khá trầm trọng. Ngài tuyên chỉ:

– Trẫm đặt tên cho hai thanh kiếm này. Thanh lớn mang tên Trấn bắc. Thanh nhỏ mang tên Bình nam. Ngày mai trẫm sẽ đem thanh lớn ra treo ở cửa Bắc, thanh nhỏ ra treo ở cửa Nam thành Thăng long. Trẫm sẽ khấn liệt tổ Đại việt: Các vương, hầu, tướng quân nào đi qua cửa Nam khiến cho thanh kiếm di động thì sẽ được phong làm Bình nam đại tướng quân. Sẽ trao cho làm nguyên soái các trận đánh phương Nam. Còn ai đi qua cửa Bắc mà thanh kiếm di động, sẽ phong làm Trấn bắc đại tướng quân, trao cho nhiệm vụ trấn thủ Bắc cương.

 (*) Ghi chú của thuật giả: Xét trong lịch sử Việt thì từ đời Trần đã dùng Hắc thạch, tiếng bình dân gọi là than đá, đốt lên để nấu nướng, để sưởi ấm, để luyện kim. Hồi cuối thế kỷ thứ 19, người Pháp nhân đó khai thác thành mỏ than Hòn gai. Trữ lượng than đá mỏ này rất lớn. Khai thác trên 100 năm qua, mà mới như bốc một bốc cát trên một bãi cát vậy.
Những tài liệu còn lưu trữ tại Pháp thì mỏ than Hòn gai có đặc điểm như sau:
– Than trong mỏ là loại than đá nguyên chất, nguyên khối. Chứa 100% than đá, óng ánh như gương. Không giống như những mỏ tại châu Phi, Trung quốc là loại than mùn, thường chứa 20-70 đất lẫn với than, phải đào sâu xuống mặt đất đến mấy trăm mét, rất nguy hiểm cho thợ.
– Mỏ than nổi trên mặt đất, hoặc cả một quả đồi, quả núi là một khối than. Chỉ việc dùng sức đập ra, rồi nghiền nhỏ, trộn 20-30% than với 70-80% đất là thành than dùng trong kỹ nghệ, đốt nóng nấu ăn, sưởi ấm, chạy máy.
– Độ sâu của mỏ ước tính từ 2 km đến 15 km.
– Bề rộng dài từ Hòn gai ra Cẩm phả min (“mine” là mỏ), Cọc 1 đến cọc 7, Cẩm phả bo (“port” là hải cảng), tức Cửa ông, Mông dương, Tiên yên, Ba chẽ, Đầm ha, Móng cáy.
– Người Pháp khai thác cho tới năm 1945 thì Việt Nam tiếp tục. Cho đến nay mỏ than khai thác đã 112 năm, mà những ngọn đồi mới như thấp đi trăm mét!

(Hết Hồi 99)

Share this post