Anh Hùng Đông A – Gươm Thiêng Hàm Tử (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 99

Anh Hùng Đông A – Gươm Thiêng Hàm Tử (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 99

ANH HÙNG ĐÔNG A – GƯƠM THIÊNG HÀM TỬ
* Tiểu Thuyết Lịch Sử
* Tác giả: Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ
* Nguồn: Blog Trần Đại Sỹ (https://trandaisy.wordpress.com)

* Để đọc những phần đã đăng, xin vào khung Search this site (Tìm Kiếm) và gõ tên tác giả: Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ.

HỒI THỨ CHÍN MƯƠI CHÍN
Gươm thiêng Hàm tử

Hưng Nhượng vương ban lệnh:

– Chúng ta tái chiếm vùng đất của đại vương Bác Câu La Chế Đa bằng bốn mặt. Trước hết là mặt bắc là nơi trọng binh Thát đát trấn đóng. Mời Thiên Kình đại tướng quân nhận lệnh.

Yết Kiêu đứng dậy.

– Đích thân Thiên Kình đại tướng quân xử dụng quân cơ hữu là hiệu Thiệu Hưng, hợp với dân quân Chiêm. Đường tiến binh khởi từ đỉnh đèo Trưởng, đổ xuống. Đánh từ từ tái chiếm từng trang, từng ấp. Chiếm được trang ấp nào thì trao lại cho các quan người Chiêm cai trị. Khu ấp có bãi cát đẹp, phía sau có núi hùng vĩ là ấp đức vua Chiêm phong cho giáo hội Hồi của đạo sư Hi Si. Sau khi chiếm lại được thì trao cho đạo sư.

Vương tiếp:

– Mặt đông đánh từ biển vào. Mời đề đốc Võ Văn Sáu nhận lệnh.

Đề đốc Sáu đứng dậy.

– Đề đốc dùng hạm đội Bạch Đằng chở ba đạo binh của các tướng Tống: Mạnh Khánh Nguyên, Tôn Thắng Phu, Lưu Thâm. Để ba đạo này có chính nghĩa, tôi gửi ba thế tử Triệu Nhất, Triệu Trung, Triệu Hòa mỗi vị theo một đạo binh. Tất cả kéo cờ Tống, Chiêm. Đề đốc cho đổ ba đạo binh vào ba cửa biển, rồi từ bờ biển tiến sâu vào trong đất liền, tái chiếm các trang ấp theo Bác Câu La Chế Đa.

Vương đứng dậy nói với thái tử Bổ Đích: (*)

– Thái tử khẩn trở về Đồ bàn. Trong suốt 3 năm qua, vùng Thư mi liên bị bọn Thát đát tàn phá. Dân chúng thù ghét bọn ngoại tộc. Vì vậy tôi không dùng quân Việt, quân gốc Tống trợ giúp thái tử. Từ biên giới Việt Chiêm đến đây các trang ấp trung thành với đức vua tổ chức rất chặt chẽ, dân quân thiện chiến. Vậy thái tử rút hết các đạo chính binh Chiêm về Thư mi liên, đánh lên bắc, thu hồi các trang ấp theo gian vương Bác Câu La. Đề đốc thống lĩnh hạm đội Bạch đằng sẽ dùng chiến thuyền chở các đạo chính binh này theo chỉ dụ của thái tử.

(*) Ghi chú của thuật giả: Trong chính sử, cũng như trong các gia phả đều chép: Hưng Nhượng vương là một đại tướng nhã lượng, cao trí, hào hoa phong nhã. Mỗi lời nói ra đều đẳn đo. Vì vậy khi vương nói với thái tử Chiêm, vương phải đứng dậy, tỏ ra lễ độ với vị trừ quân anh hùng này.

Vương hỏi cử tọa:

– Có ai thắc mắc gì không?

Ba tướng Tống Mạnh Khánh Nguyên, Tôn Thắng Phu, Lưu Thâm hỏi:

– Khi chúng tôi bắt được tù binh, thì sẽ đối xử ra sao?

– Chúng ta sang đây là vì Chiêm. Tất cả các đạo khi bắt được tù binh phải phát lạc như sau. Một là tù binh gốc Mông cổ thì trao về Hành doanh. Tôi sẽ xử lý. Hai là tù binh gốc người Tống, trao cho ba vị thế tử Tống, các thế tử sẽ thuyết giảng về việc cần vương đuổi Thát đát khỏi Trung nguyên, giúp họ trở lại với chính nghĩa diệt Thát đát phục hồi Trung thổ. Ba là tù binh gốc Chiêm phải trao lại cho các tướng Chiêm. Tuyệt đối không được làm nhục, không được đánh đập, không được chém giết tù binh. Binh sĩ nào cướp của, giết người thì xử tử hình tại chỗ.

Nang Tiên tỏ vẻ bất phục:

– Thưa vương gia. Đối với bọn Chiêm gian, chúng theo Thát đát tàn hại dân chúng. Khi ta bắt được chúng thì nên giết tại chỗ cho thỏa lòng dân mới phải.

– Thưa công chúa điện hạ. Điện hạ cũng như thái tử, các tướng Chiêm khi bắt được bọn Chiêm gian thì toàn quyền xử tội chúng. Không ai hiểu tâm tình người Chiêm bằng công chúa điện hạ với thái tử.

Thái tử Bổ Đích nhỏ nhẹ với Nang Tiên:

– Em ơi! Dù sao thì đại vương Bác Câu La cũng là chú mình. Khi đối trận với vương, em cũng nên lễ độ một chút.

Nang Tiên không chịu:

– Khi ông đã phản nước hại dân thì ông không còn tư cách người Chiêm. Khi ông phản lại phụ hoàng thì không còn tư cách hoàng thúc nữa. Nếu ông lọt vào tay em, thì em sẽ làm cho ông sống dở, chết dở. Em sẽ làm cho ông ấy nhục nhã ê chề, để làm mát lòng các chiến sĩ tuẫn quốc trong trận này.

Buổi hội chấm dứt.

Đạo binh của Hoài Nhân vương, Hoài Văn hầu, công chúa Nang Tiên đem theo vệ Đại đởm lên đường. Vì đạo quân phải vượt rừng, leo núi rất vất vả Yết Kiêu không cho Vương Chân Phương và Ngọc Hoa theo, vì Chân Phương lại chưa từng luyện võ. Ngược lại Chân Phương theo đạo binh của ba tướng Mạnh Khánh Nguyên, Tôn Thắng Phu, Lưu Thâm.

Các đạo binh xuất phát được hai ngày, tại Tổng hành doanh viện Chiêm, Hưng Nhượng vương nhận được tin báo của Yết Kiêu:

Xuất phát từ sáng hôm qua tiến về các trang ấp dưới chân đèo Trưởng. Bọn Toa Đô không bao giờ nghĩ rằng mình dám trực diện tấn công. Mỗi trang, y chỉ phối trí một bách phu Mông cổ đóng với gian quân Chiêm. Phạm Long Tam dùng người Chiêm thuyết phục gian quân đầu hàng. Họ hứa nếu quân của nhà vua xuất hiện, họ sẽ trở giáo chống Thát đát. Long Tam cho quân của vua Chiêm đi trước, Quân đoàn 3 có vệ Ngưu binh yểm trợ đi sau. Chiếm lại 18 trang ấp dễ dàng. Bọn Mông cổ bị khống chế. Đến trưa đích thân Lưu Khánh Nguyên chỉ huy 5 thiên phu Mông cổ tái chiếm các trang ấp bị ta đánh. Cuộc giao phần thắng nghiêng về phía Mông cổ, thì thần điều Quân đoàn 2 hiệu Thiệu Hưng cùng đoàn quân Lưu Thâm do thủy quân đổ lên, đánh vào hậu quân Mông cổ. Lưu Khánh Nguyên bị vây ép trước sau. Cuộc chiến tạm ngừng vì trời tối. Phạm Long Tam chia quân bao vây, khua chiếng, thúc trống làm cho Mông cổ mất tinh thần, rồi dùng Ngưu binh chiếm được 20 trang ấp nữa. Giữa lúc đó quân Toa Đô tới tiếp viện. Thần đích thân tới đốc chiến. Cuộc giao chiến trong đêm. Mông cổ không có thời giờ nấu ăn. Phía Việt, Chiêm, đạo sư Si Hi đốc thúc dân chúng tiếp tế thức ăn. Quân Nguyên tháo chạy về phía nam.

Hưng Nhượng vương cầm bút viết lệnh:

Giặc đã bị phá mất nhuệ khí. Cần đánh như sét nổ. Đuổi theo. Cho quân của đức vua Chiêm đánh các đạo gian quân. Quân Việt chỉ đánh bọn Thát đát mà thôi. Phía trước của Toa Đô, đã cho đổ bộ đạo quân Tôn Thắng Phu chặn đường. Bị bao vây, ắt Toa Đô rút về phía tây, sẽ gặp quân của thái tử Bổ Đích.

Hôm sau, trời vừa sáng, có tin của đạo binh Hoài Nhân vương, do Hoài Văn hầu báo về:

Kính báo Hành doanh,
Chúng tôi đi theo đường núi, hơn nửa ngày thì được tin triều đình Bác Câu La Chế Đa sẽ đến chiêu dụ trưởng tộc trong thung lũng Mỹ sơn. Triều đình y có một bách phu Mông cổ với một thiên phu Chiêm gian hộ tống. Trong khi quân số của chúng tôi chỉ có 160 người vừa Đại đởm Việt vừa Cảm tử Chiêm.
Công chúa Nang Tiên âm thầm chiêu dụ thủ lãnh Mỹ sơn. Ông ta tên Đoàn Đức. Dân chúng trong thung lũng ước hơn vạn nóc gia. Hầu hết họ là con cháu người Việt sang kiều ngụ đã 5 đời. Họ sống biệt lập như một nước riêng. Nang Tiên hứa phong cho Đoàn Đức lên chức An phủ sứ. Ông ta hết sức hân hoan. Bề ngoài Đoàn Đức giả kéo cờ, kết hoa chào đón Bác Câu La Chế Đa. Trong khi ông cùng chúng tôi xếp đặt kế hoạch bắt triều đình gian:
– Ông hứa với Bác Câu La Chế Đa rằng sẽ phụ trách làm tiệc đãi triều đình gian, cũng như bách phu Mông cổ.
– Khi Bác Câu La Chế Đa với triều đình tới thì sẽ có cuộc làm lễ triều yết rất long trọng.
Nang Tiên lại chiêu dụ tướng chỉ huy Chiêm gian. Ông này tên Việt là Lý Nghĩa, tên Chiêm là Ta Điệp Bạc La Khô, nguyên là Việt kiều, tổ tiên sang Chiêm từ thời vua Lý Thánh tông.
Thành công.
Khi đoàn giặc tới Mỹ sơn, thì bách phu Mông cổ đóng trên bờ suối ngoài trang ấp ở phía tây. Thiên phu Chiêm gian đóng ba phía bắc, nam, đông. Mười cảm tử quân cùng Đại đởm vào trang ấp, lĩnh nhiệm vụ chuyên chở lương thực thiết đãi bách phu Mông cổ.
Sáng nay, triều đình gian tới. Dân quân Mỹ sơn dàn ra, thúc trống, tấu nhạc. Chức sắc Mỹ sơn khăn áo chỉnh tề xếp hàng tiếp đón. Khi Bác Câu La Chế Đa lên đài ngồi vào ngai đểá mọi người bái yết thì thình lình bị Đại đởm, Cảm tử quân bắt trói. Trọn triều đình 48 người bị bắt.
Tướng Lý Nghĩa hạ cờ Nguyên, kéo cờ Chiêm, rồi cùng binh sĩ hướng về Đồ bàn làm lễ bái vọng đức vua.
Đoàn chở thực phẩm đãi Mông cổ đem thức ăn đến cho bách phu. Chúng ăn xong thì cùng nhau ôm bụng đau đớn. Tướng Lý Nghĩa xua quân bắt trọn vẹn.
Cuộc bắt triều đình Chiêm gian không đổ một giọt máu, không tốn một mũi tên. Chúng tôi đã gửi thư báo cho thái tử. Thái tử ban chỉ:
“Tuy Bác Câu La Chế Đa phản triều đình, nhưng thủ hạ của ông ta còn nhiều. Tuyệt đối không xử tử hình bất cứ một quan Chiêm gian nào. Giải tất cả về Đồ bàn cho đức vua phát lạc”.
Công chúa Nang Tiên cho tập tập hợp dân chúng xem hành tội gian vương. Nàng sai lột quần áo Bác Câu La Chế Đa cho ông ta mặc bộ quần áo da khỉ, đeo lục lạc hai cổ chân, hai cổ tay. Lại đào một cái hố, bỏ than bên dưới, trên nắp hố để cái vỉ sắt. Sai quân trói ông ta để trên vỉ. Vỉ nóng quá, ông ta nhảy chồm chồm như khỉ, miệng la hét. Dân chúng vỗ tay hoan hô. Hoài Nhân vương phải can thiệp, bằng không, ông ta sẽ chết. Nang Tiên giam Bác Câu La Chế Đa chung với 4 con đười ươi, giải về Đồ bàn.
Đức vua gửi sứ đến phong cho Lý Nghĩa chức Trung nghĩa tướng quân, tước Trung nghĩa bá. Đức vua cũng ban chỉ nâng Mỹ sơn lên thành phủ Mỹ sơn. Phong cho ông Đoàn Đức làm An phủ sứ, tước Mỹ sơn hầu.
Đức vua ban chỉ cho công chúa làm chánh sứ, ông Đoàn Đức làm phó sứ, đạo sư Mộ Hợp Mễ Si Hi làm bồi sứ mang 5 thớt voi với 100 viên ngọc trai sang Thăng long cống.

Hôm sau, tất cả các đạo binh đều phúc trình: nhiệm vụ hoàn tất.

Giữa lúc Hưng Nhượng vương tổ chức khao quân thì có sứ từ Thăng long tới. Sứ là Văn sơn hầu Nguyễn Địa Lô. Tước của Địa Lô là hầu. Nhưng hầu là sứ thần. Còn tước của Hưng Nhượng là vương. Cao hơn nhiều. Nhưng Hưng Nhượng vương là đại tướng tổng lĩnh mặt trận Chiêm, biên cương trọng thần. Hai bên ngang nhau.

Địa Lô khải:

– Có rất nhiều biến cố. Nên triều đình sai tôi vào khải với vương gia, khải với Hoài Nhân vương.

Thấy thái độ của Địa Lô hết sức nghiêm cẩn, Quốc Kiện nói:

– Xin sứ cho biết chi tiết các biến cố!

– Triều đình ban chỉ: việc trợ Chiêm đánh Thát đát đã hoàn tất. Lực lượng Toa Đô tại Chiêm không phải là đối thủ của thái tử Bổ Đích nữa. Nguyên không còn lực lượng viện cho bọn Toa Đô. Triều đình quyết định giải tán Hành doanh trợ Chiêm. Vậy xin vương gia cho rút quân về. Hiệu binh Thiệu Hưng sẽ do hạm đội Bạch đằng chở về trấn thủ Thiên trường. Vương hợp vệ Trương Thế Kiệt, vệ Lục Tú Phu với quân của ba cựu tướng Tống Mạnh Khánh Nguyên, Lưu Thâm, Tôn Thắng Phu lập thành hiệu binh Tường Hưng. Điều hiệu binh này về Tiên yên, huấn luyện rồi gửi sang Tống kéo cờ cần vương. Lực lượng này trao cho hai thế tử Triệu Nhất, Triệu Hòa chỉ huy.

Các tướng Tống nghe Địa Lô nói, người người nhìn nhau mừng chi siết kể: họ sắp được trở về quê hương đánh Thát đát.

Địa Lô nháy mắt, ngụ ý muốn truyền mật chỉ cho Hưng Nhượng vương, Hoài Nhân vương.

Hưng Nhượng vương truyền giải tán buổi hội quân.

Hưng Nhượng vương tổ chức buổi họp mật chỉ có mấy người để nghe mật chỉ: Hoài Nhân vương, Hoài Văn hầu, Yết Kiêu, Cao Mang, Vương Chân Phương, Ngọc Hoa, Nang Tiên, ba thế tử Triệu.

Hưng Nhượng vương hỏi Điạ Lô:

– Xin sứ cho biết chi tiết các biến cố?

– Khải với nhị vị vương gia. Có ba biến cố cực kỳ hệ trọng. Đầu tiên là cuộc nội chiến của Nguyên ở Vân nam đã chấm dứt. Các đạo quân chống Hốt Tất Liệt do Ngột A Đa thống lĩnh đã bị phá. Ngột A Đa cùng phu nhân Thanh Nga rời Đại lý về Đại việt cùng với một đội tàn quân. Đội quân này được đặt trực thuộc Hưng Ninh vương để trấn thủ đông Bắc cương. Hốt Tất Liệt xóa bỏ Đại lý, Thổ phồn (Tây tạng), thống nhất thành Vân nam. Y trao cho một người hoàng tộc Mông cổ làm Vân nam vương. Quân Vân nam hiện đóng dọc biên giới Đại việt, chong mặt với quân ta. Tổng lĩnh mặt trận tây bắc cương là Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật đã bố trí phòng thủ.

– !?!

– Biến cố thứ nhì là Nguyên không còn che dấu dã tâm đánh Chiêm nữa, mà ra mặt công bố đánh Chiêm để đánh vào sau lưng Đại việt.

– !?!

– Hốt Tất Liệt ban chỉ tước hổ phù của bọn Toa Đô, Ô Mã Nhi, Diệc Hắc Mê Thất, Lý Hằng, vì những thất bại tại Chiêm. Y sai lập An nam hành tỉnh tại Kinh Hồ, đem quân nghiêng nước đánh ta.

Công chúa Nang Tiên than:

– Như vậy chúng coi Đại việt như một tỉnh của chúng. Cái gọi là An nam hành tỉnh chẳng qua là một tổ chức cai trị Đại việt.

– Đúng như công chúa nói. Hốt Tất Liệt phong cho người con tài trí nhất là Trấn Nam vương làm nguyên soái.

Nang Tiên hỏi:

– Tên y là gì? Hành trạng của tên này ra sao?

– Y là hoàng tử thứ 9 của Hốt Tất Liệt tên Thoát Hoan; mẹ là người Hán; văn mô, vũ lược, từng cầm quân đánh Bắc liêu, thắng A Lý Bất Ca, bình định Mông cổ. Vì Hốt Tất Liệt muốn dùng Trung nguyên làm chính quốc, cai trị thiên hạ; nên các mưu sĩ cố vấn rằng: muốn cai trị Trung nguyên thì vị trừ quân phải do một phi tần người Hoa sinh ra. Hồi Hốt Tất Liệt cùng triều đình nghị phong thái tử thì con thứ nhì của Hốt Tất Liệt là Chân Kim đã được lập rồi. Chân Kim là con thứ của Chiêu Duệ Thuận Thánh hoàng hậu. Hậu là người hiền thục, con của nhà đại quý tộc Án Trần Na Nhan. Do con cả của Hốt Tất Liệt bị bệnh chết non, nên Chân Kim được lập. Hầu hết các quan gốc Hán kiến nghị lập Thoát Hoan. Nhưng thái tử Chân Kim được các nhà quý tộc Mông cổ ủng hộ. Chính vì vậy Thoát Hoan hết sức cạnh tranh với anh. Đặc biệt Chân Kim được Nguyên phi Bạch Liên thương yêu như con, tiến cử. Hốt Tất Liệt muốn phế Chân Kim, nhưng không có cớ. Bây giờ y sai Thoát Hoan đánh Đại việt, trao quân nghiêng nước cho y. Giống như Hốt Tất Liệt do nắm quân nghiêng nước mà đoạt ngôi từ A Lý Bất Ca. Bọn người Hán cho rằng Thoát Hoan nắm quân nghiêng nước thì việc hạ Chân Kim, không còn trở ngại nữa.

Quốc Toản hỏi:

– Những tướng nào được cử phò tá Thoát Hoan?

– Thứ nhất là A Lý Hải Nha, y là một đệ nhất công thần triều Nguyên được phong làm Bình chương chính sự hành tỉnh Kinh hồ. Thứ nhì là Lý Hằng, viên đại tướng đã thắng, bắt sống tể tướng Tống Văn Thiên Tường, vây bắt Đế Bính ở Nhai sơn. Thứ ba là toàn bộ các tướng tài, trong đó có bọn Ô Mã Nhi, Toa Đô, Tăng Gu Tai. Quân số thủy bộ lên tới 50 vạn.

Hưng Nhượng vương than:

– Hồi Thành Cát Tư Hãn đánh tây phương, y dùng có 35 nghìn quân, sai Tốc Bất Đài, Triết Biệt đuổi theo đại đế Mộ Hợp Mễ dài hơn năm vạn dặm, phá nát đế quốc Hoa Thích Tử Mô. Thế mà nay đánh Đại việt nhỏ bé, y huy động tới 50 vạn. Như vậy y dồn hết lực lượng vào canh bạc này. Đúng là quân nghiêng nước.

Quốc Toản hỏi:

– Còn biến cố thứ ba là gì?

– Hốt Tất Liệt phong cho Nhân Hòa vương Trần Di Ái làm An nam quốc vương. Phong cho Lê Mục làm Hàn lâm học sĩ, Lê Tuân làm Trung thư lệnh. Mục đích để Trần Di Ái về nước đốc xuất chân tay gây cuộc chiến tranh tương tàn. Thoát Hoan án binh bất đông, đợi cho bọn ngụy Di Ái, gây chia rẽ trong giòng họ Đông a, đem quân đánh nhau với triều đình; tạo cảnh trai, cò, ngư ông hưởng lợi, bấy giờ Thoát Hoan đem quân sang.

Quốc Toản hỏi bằng ngôn từ bình dân:

– Anh Đia Lô này! Ông Trần Di Ái chính là gã thân vương Vuông, đã âm thầm làm gian tế cho Nguyên. Khi ông tới Đại đô thì ông ta có tố giác vụ Đại việt gửi 20 Tây thi sang không? Hốt Tất Liệt có nghe lời ông không?

Địa Lô thuật:

Tại Đại đô, vào một buổi chiều Tuyên uy đại tướng quân, Trung hòa hầu, Đại Hành, Thống lĩnh Cấm quân, Thị vệ đến cung Nguyên phi Bạch Liên, xin yết kiến. Nguyên phi truyền mời vào. Đại Hành vào trong thư phòng của phi, thấy có Ngọc Kỳ, Ngọc Quốc, Ngọc Trí, đang ngồi đó. Mặt người nào trông cũng có vẻ gay cấn, căng thẳng. Hầu cung kính:

– Thưa chị, chị đã biết cả rồi ư?

– Đúng như trước đây em báo cho chị. Trong nước đã tìm ra một trong hai tên thân vương làm gian tế cho Nguyên, đó là Chiêu Hòa vương Trần Di Ái. Ông ta là em út của vua Thái tông, tức vai ông của hoàng đế Thiệu Bảo. Ông ta không giữ chức gì tại triều đình, nhưng hai con ông đang nắm trọng binh. Một là Quang Hòa hầu Trần Lộng, Tổng trấn Trường yên thống lĩnh hiệu binh Tứ thiên. Hai là Văn Nghĩa hầu Trần Tú Hoãn, Tổng trấn Thiên trường, thống lĩnh hiệu binh Trung thánh dực.

Đại Hành thêm:

– Nguy hiểm hơn nữa ông ta đang cầm đầu sứ đoàn thay hoàng đế chầu Chí Nguyên.

Ngọc Kỳ than:

– Có điều khó hiểu là nhà vua biết ông ta làm gian tế cho Nguyên, mà sao còn sai ông ta đi sứ?

Đại Hành xua tay:

– Khi đức vua khám phá ra ông ta làm gian tế, thì ông ta đã lên đường đi sứ rồi. Đuổi theo không kịp nữa. Thôi bây giờ chúng ta phải đối phó với vụ này ra sao? Trước hết Ngọc Kỳ! Thái tử có thắc mắc gì không?

Ngọc Kỳ thuật:

Suốt bốn năm qua, Chân Kim sủng ái em cùng cực, việc gì cũng bàn với em, không bao giờ nghi ngờ. Chân Kim luôn nhắc lại việc em đi sứ Hoa lâm thành công, bình định cựu địa Mông cổ, không đổ máu. Nhất là việc trừ hai đứa con của Tháp Sát Nhi.

Chân Kim kể:

– Phụ hoàng có hơn 100 con dâu. Chỉ duy em là tham dự vào việc đại sự, lập công trạng lớn vô cùng. Thế mà em luôn nhũn nhặn, nhu thuận, không cầu xin gì. Hơn nữa em dâng cho người 2 hoàng nam. Phụ hoàng mẫu hậu thương yêu 2 bé cùng cực. Nếu sau này con em lên ngôi vua, em sẽ trở thành thái hậu.

Thế nhưng hơn tháng trước, có một lần Chân Kim hỏi em:

– Giữa Đại việt với Đại nguyên em coi bên nào trọng, bên nào khinh?

Em trả lời:

– Đối với Đại việt em chỉ là một con bé ca hát, địa vị không bằng con gái một Đại tư. Ăn không đủ no, mặc không đủ ấm. Còn với Đại nguyên, em là một Thái tử phi, địa vị cao quý biết mấy. Phú quý hơn cả hoàng hậu Đại việt. Đại việt so với Đại nguyên thế nào được.

– Một vài đại thần người Hán tại Khu mật viện, căn cứ vào một tin từ Đại việt gửi qua, đã thắc mắc nhiều về em.

Thanh Liên hỏi:

– Thế em trả lời sao?

– Em giả nổi giận:

Mấy lão hủ nho ấy nghi ngờ em ư? Thế sao Khu mật viện không nghi ngờ chính bọn y. Bọn y là người Hán.

Thái tử cười:

– Anh cũng nói vậy với lão! Lão câm họng.

Đại Hành hỏi Ngọc Quốc:

– Còn em! Lý Hằng có nghi ngờ gì em không?

– Chồng em là người Hán, văn võ toàn tài, xuất thân từ phủ của Thoát Hoan. Mới đây bọn Toa Đô, Ô Mã Nhi, Lưu Quân Khánh, Khu Tu Hu (Qutuku), Diệc Hắc Mê Thất bị bại ở Chiêm, triều đình sai chồng em đến thu hồi hổ phù của bọn họ; chiêu dụ tàn binh, đem về tổ chức lại đội ngũ. Chồng em được Đường Ngột Đải (Tang-gu-tai =Tang’utai) thuật cho nghe: Đường Ngột Đải có dịp họp mật với cha con Di Ái. Di Ái đưa ra lời đe dọa sẽ tố cáo với Nguyên về việc chị em mình làm gian tế. Nhưng y bị Sài Thung dọa: không dễ gì triều đình tin y. Như vậy kỳ này Di Ái sẽ tố cáo với triều đình. Chị em mình phải chuẩn bị đối phó ngay.

Bạch Liên hỏi Ngọc Trí:

– Còn em, Thoát Hoan có nghi ngờ gì em không?

– Em không rõ! Hồi em mới về phủ của y. Trong đêm động phòng, y có hỏi em một câu: Người ta nói, con gái Việt yêu nước hơn yêu chồng. Bây giờ em là vương phi, địa vị cao quý, em có còn tưởng nhớ đến An Nam không? Em trả lời: Đại việt là quê hương của em. Ở đó có cha mẹ, anh chị em, mồ mả tiên, làm sao em quên được. Nhưng ở Đại việt em chỉ là con nhãi ranh, địa vị không, tiền của không! Bây giờ em là vương phi, địa vị cao quý biết mấy; lại sống trong nhung lụa, thì em phải cố giữ, không thể để mất. Mới đây anh ấy tiết lộ: phụ hoàng quyết đánh An Nam, vì chúa An Nam không chịu vào hầu. Anh được phụ hoàng ủy cho cầm quân chinh thảo. Em có muốn theo anh không? Em trả lời: con gái lấy chồng có ai muốn xa chồng đâu. Em cũng muốn theo anh, để có dịp làm thuyết khách chiêu hàng các tướng Việt như chị Ngọc Kỳ chiêu hàng các tướng của A Lý Bất Ca.

Đại Hành bàn với Bạch Liên và ba nàng Ngọc, phân vân chưa quyết định phải hành sự ra sao thì thị vệ canh gác cung báo:

– Có thân nhân của Nguyên phi xin cầu kiến!

Phi hỏi:

– Họ có mấy người? Tên là gì?

Thị vệ đưa ra thanh kiếm:

– Họ có hai người, một nam, một nữ! Người nữ đưa thanh kiếm này nói: chủ nhân của thanh kiếm muốn yết kiến Nguyên phi.

Bạch Liên cầm thanh kiếm lên xem, chuôi có khắc chữ “Mê linh, Trần Ý Ninh. Phi giật bắn người lên, biết đây là Vũ Uy vương với vương phi Ý Ninh. Phi ban chỉ:

– Mời khách vào.

Vũ Uy vương, vương phi trang phục như những người chăn cừu miền núi Mông cổ. Bạch Liên cung cung, kính kính mời vào. Đại Hành ra ngoài cắt đặt thị vệ canh gác. Cửa đóng kín.

Vũ Uy vương nói:

– Hốt Tất Liệt ban chỉ triệu hồi vợ chồng tôi về Đại đô để tham khảo ý kiến vụ chú Trần Di Ái. Buổi tham khảo kéo dài suốt ngày hôm qua. Có nhiều điều liên quan đến Nguyên phi và bốn em Ngọc, nên chúng tôi phải âm thầm đến đây báo cho phi biết.

Vương phi Ý Ninh nói:

– Hốt Tất Liệt chỉ mới biết vụ Đại việt gửi người đẹp sang Mông cổ hơn tháng nay mà thôi. Nhưng ông ta cũng không tin. Ông ta nói rõ tin này do gian vương Di Ái cung cấp cho Tuyên phủ ty tại Thăng long. Ông ta biết thế lực của phi, của bốn em Ngọc quá lớn, nên ông ta giữ kín; đến bốn tể tướng, Khu mật viện ông ta cũng không cho tham dự vào. Ông ta chỉ thảo luận với: Hoàng hậu, Trung thư hữu thừa tướng An Đồng, Trung thư bình chương chính sự (phó tể tướng) A Hợp Mã, hai con là Chân Kim, Thoát Hoan. Thêm A Lý Hải Nha nữa.

Bạch Liên hỏi lại:

– Chỉ có 6 người biết vụ này. Trong buổi họp, ý kiến của từng người ra sao?

Vũ Uy vương đáp:

– Gần như thống nhất. Ý kiến của Chân Kim có lợi cho chúng ta nhất:

Con nghĩ phụ hoàng không nên tin lời thằng Trần Di Ái. Cái thằng trộm trâu này quá vô liêm sỉ, quá hèn nhát.

Thứ nhất, Trần Di Ái là em của Trần Thái tông, là chú của vua An Nam, tước phong tới Thái sư. Hai con y đều nắm giữ trọng binh; thì dù y không làm vua, địa vị đâu có thua vua? Thế mà y bán nước để cầu vinh; mà chưa chắc đã vinh! Ngu! Quá ngu.

Thứ nhì, giòng họ Đông a của An Nam trên dưới như một. Triều Nguyên nhà ta uy trấn gầm trời. Vua nước nào cũng phải phủ phục khiếp sợ. Duy An Nam thì không. Một trận phá đại quân như hùm, như hổ của Ngột Lương Hợp Thai. Uy rúng thiên hạ. Vua An Nam không khép mình tuân theo 6 điều của ta, mà còn sai Vũ Uy vương trợ Tống, làm Tuyên túc hoàng đế bị hại. Mới đây sai Hưng Nhượng vương trợ Chiêm, khiến bọn Toa Đô, Ô Mã Nhi, Lưu Quân Khánh, Khu Tu Hu (Qutuku), Diệc Hắc Mê Thất bị thất bại. Hùng khí đáng trọng. Thế mà tên Di Ái cam tâm đâm sau lưng anh-em, con-cháu mình. Táng tận lương tâm đến thế là cùng.

Thứ ba, hiện Di Ái là người có vai vế cao nhất trong giòng họ, y phải hãnh diện, xắn tay cùng con cháu giữ nước mới phải. Đây y âm thầm làm gian tế cho ta. Y muốn cái chức An Nam quốc vương bù nhìn, ngồi nghe lệnh Tuyên phủ ty của ta. Rõ ràng như tục ngữ nói: bán bò tậu ễnh ương.

Với ba điều vô tư cách như vậy, phụ hoàng nên đánh cho y mấy roi, rồi bắt bỏ cũi chó, đem trả về An nam, cho bọn con cháu y xử tội y.

Ý kiến của Kinh Hồ hành tỉnh A Lý Hải Nha như sau:

Khắp gầm trời đều quy phục ta. Duy An nam thì không. Ta mà không áp chế được chúng thì sẽ có nhiều An Nam khác nổi dậy. Như thái tử nghị: bọn Đông a ở An nam anh hùng, không dễ gì ta phá nổi, thì tại sao ta không dĩ độc trị độc? Ta chỉ cần mất một tờ giấy, phong cho cái gã vô tư cách Di Ái làm An nam quốc vương, rồi lấy cớ đó đem một đạo quân hộ tống y về nước. Ít nhất giòng họ Đông a sẽ chia hai, một nửa theo Di Ái, một nửa theo Nhật Hoảng (Trần Thánh tông). Đợi chúng tàn sát nhau. Hai hổ tranh hùng, ắt một hổ chết, một hổ bị thương. Tinh lực An nam kiệt quệ, ta chỉ dơ tay ra là chiếm được. Như vậy đỡ tốn tiền, tốn bạc, đỡ tổn nhân mạng.

Cả 5 người đều đồng ý với A Lý Hải Nha.

Hốt Tất Liệt nghị sang vấn đề Di Ái tố giác triều đình gửi người đẹp sang làm Tế tác. Hoàng hậu nói với Thái tử Chân Kim:

“Có thể An nam gửi thực. Có thể tên trộm trâu Di Ái bịa đặt để tâng công. Dù thực, dù hư! Ta mà nghe nó thì chả hóa ra ta ngu ư? Vậy trước hết hãy xét hành vi của từng người mà Di Ái cáo giác là Tế tác xem có đúng không? Trước hết là Đặng Ngọc Kỳ. Chính ta ban chỉ gả Ngọc Kỳ cho Chân Kim. Nay Ngọc Kỳ đã dâng cho ta hai hoàng nam. Con có tin rằng Ngọc Kỳ làm gian tế cho An nam không? Ngọc Kỳ có hành vi gì khả nghi không?”

Thái tử tâu:

– Như phụ hoàng và mẫu hậu biết. Từ khi Ngọc Kỳ về với con, hầu hạ cơm nước, khăn áo, thư phòng không hề khiếm khuyết. Lại sắc nước, hương trời, ca múa không ai bằng. Hồi theo phụ hoàng chinh tiễu A Lý Bất Ca, Ngọc Kỳ không nề nguy hiểm, đi sứ vào chốn hang hùm, ổ rắn, giúp phụ hoàng chiếm Hoa lâm không tốn một mũi tên, một giọt máu. Thế nhưng Ngọc Kỳ vẫn nhũn nhặn, chưa từng thốt ra một lời kiêu căng cậy công! Còn bảo Ngọc Kỳ làm gian tế cho Giao chỉ ư? Kỳ không cầm quân, cũng chẳng có một chút quyền thì dù có muốn làm gian tế cũng không làm được. Suốt bốn năm, Kỳ chỉ xin thần nhi hai lần được gửi vàng ngọc phụ hoàng, mẫu hậu ban cho khi lập công; cũng như khi sinh hoàng nam; đem về quê dâng lên đấng sinh thành. Qua Ngọc Kỳ, thần nhi thấy rõ tên Di Ái khi quân quá đáng. Y bịa truyện.

Hoàng hậu nói với nhà vua:

– Bệ hạ thường không ngớt lời ca tụng Nguyên phi là người tài trí, góp công lớn trong việc chinh tiễu A Lý Bất Ca, trong việc bình Tháp Sát Nhi. Lại giúp bệ hạ thu phục nhân tâm các tướng Toa Đô, Ô Mã Nhi, Lý Hằng, Đường Ngột Đải. Như vậy cũng đủ chứng tỏ phi là người nhất tâm, nhất trí với bản triều. Thế mà tên Di Ái bảo phi làm gian tế thì còn trời đất nào nữa. Qua vụ này bệ hạ đã thấy cái tên trộm trâu Di Ái bịa truyện tâng công, khi quân, dối chúa rồi!

Sau khi Vũ Uy vương, vương phi thuật truyện. Vương phi Ý Ninh nói:

– Có thể nhà vua sẽ nghe lời bàn ra, tán vào mà thắc mắc với Nguyên phi. Cũng có thể nhà vua sai người chất vấn các em. Tất cả không cần chối, chỉ hỏi ngược lại: “Từ ngày chúng tôi sang Nguyên. Chúng tôi đã làm những việc có thể nói là lập đại công với triều đình! Đấy là việc nước. Còn việc nhà, chúng tôi không hề khiếm khuyết bổn phận làm vợ, làm mẹ. Chúng tôi không nắm giữ bất cứ quyền lực nào, lại không hề can thiệp vào việc của chồng. Nếu bảo chúng tôi là gian tế, vậy xin hỏi: chúng tôi đã làm những gì gọi là Tế tác cho Đại việt?

Vương nói:

– Phi cũng như các em, nếu Di Ái muốn yết kiến, phải tỏ ra mình là Nguyên phi, là Thái tử phi, là phu nhân các đại thần, coi y bằng nửa con mắt. Nghĩa là hách dịch với y, làm nhục y cho y khiếp sợ.

Sau buổi họp, Vũ Uy vương, vương phi trở về đất trọng nhậm.

Nghe Địa Lô thuật hành trạng của cha-mẹ, Hoài Văn hầu cực kỳ súc động. Vì hầu phải xa cha mẹ ba năm qua. Bây giờ mới được biết tin tức. Hầu hỏi:

– Vụ Di Ái sau ra sao?

Địa Lô thuật:

– Đây là lời phúc bẩm của Ngọc Trí với Nguyên phi Bạch Liên:

Sứ đoàn Di Ái tới Đại đô, được tiếp đãi trọng thể. Cho cư trú tại khu Lan hoa, được cung cấp tỳ nữ, bộc phụ, mã phu. Nghe tin Thoát Hoan được phong Trấn Nam vương, A Lý Hải Nha được trao cho chức Tả thừa An nam hành tỉnh, cầm quân đánh Đại việt. Y viết thư nhờ Sài Thung ngỏ lời xin được đến phủ đệ của hai người để dâng kế sách, cung cấp tin tức về tổ chức, đồn trú quân lực của An Nam.

Thoát Hoan nhận lời tiếp y.

Di Ái dẫn Lê Tuân, Lê Mục đến phủ Trấn Nam vương. Thoát Hoan báo cho Ngọc Trí. Ngọc Trí khẩn khoản nói với chồng:

– Em xuất thân bần khổ ở An Nam, đến muốn nhìn mặt một tên An phủ sứ cũng không được. Nay may mắn nhờ uy linh vương gia mà thành vương phi. Xin vương gia cho em cùng tiếp cái tên Nhân Hòa vương là chú của An Nam quốc vương, để y phải lậy em sứt trán cho nở mặt nở mày.

Thoát Hoan đồng ý.

Di Ái cùng bọn tùy tùng tới phủ Trấn nam vương thì được mời vào. Ngọc Trí ngồi trên một ghế cao. Hai bên có văn, võ quan của phủ Trấn Nam đứng hầu.

Thị vệ xướng:

– Có sứ thần An nam là Trần Di Ái cùng sứ đoàn xin bái kiến.

– Cho vào.

Di Ái cùng tùy tùng quỳ gối rập đầu binh binh:

– Nô tài là Trần Di Ái ở An Nam xin bái kiến vương phi.

Ngọc Trí lờ đi không ban chỉ cho y đứng dậy như thông lệ. Nàng hỏi bằng tiếng Hoa vùng Yên kinh:

– Ông này làm chức gì ở Đại việt?

Lê Mục đáp:

– Khải vương phi, chánh sứ là chú của An nam quốc vương, tước phong Nhân Hòa vương, giữ chức Thái sư.

Nghe Lê Mục đáp, Ngọc Trí nổi giận: mình chỉ là con bé chưa ráo máu đầu, mà mình vẫn trân trọng quốc hiệu Đại việt. Trong khi những tên này ăn cơm vua, lĩnh lộc nước lại tự ty là An nam. Nàng hỏi:

– Người có biết rằng khắp gầm trời này đều cúi đầu quy phục Thiên triều, thế mà chỉ có cái việc đích thân vào chầu, mà chúa người cũng không tuân. Vì vậy thánh thiên tử đã ban chỉ cho Trấn Nam vương, đem 50 vạn quân sang chinh thảo. Quân đang chỉnh bị, người sang đây làm gì?

Di Ái nhổm người dậy, rồi dập đầu binh binh:

– Khải phi! Đó là điều bất hạnh trong nhà thần. Từ khi Chí Nguyên thiên tử lên ngôi, sai sứ sang phủ dụ, ban cho chức tước, thì khắp nơi trong nước không ai mà không cảm ân mưa móc của Thánh Thiên tử. Nhưng thằng cháu của thần là Hoảng (chỉ vua Thánh tông) ngu muội, không biết thuận mệnh trời, nên cả 6 điều Thiên triều ban ra, nó đều không tuân theo. Ương ương kiêu ngạo. Vì vậy Thánh đế ban chỉ chinh tiễu là thuận mệnh trời. Thần rập đầu xin vương gia, vương phi tâu lên Thiên tử, phong thần làm An nam quốc vương, thì không cần tốn sức quan, mệt sức dân xa xôi chinh thảo. Thần sẽ xuất lĩnh toàn dân rập đầu chịu mệnh của Tuyên phủ ty; nhất nhất tuân 6 điều của Thiên triều ban ra.

Nghe Di Ái nói, Ngọc Trí buồn nôn, nàng định mắng y một trận, nhưng kịp thời nghiến răng, im lặng.

– Nghe nhà ngươi nói thì dễ dàng quá. Nhưng ta không có quyền gì. Chỉ vương gia mới quyết được việc này.

Lễ quan xướng:

– Trấn Nam vương giá lâm.

Ngọc Trí, cùng các quan cúi đầu hành lễ. Thoát Hoan bước vào. Y giả không biết bọn Di Ái, mà hỏi:

– Bọn nào vậy?

Lễ quan thưa:

– Là sứ đoàn An Nam.

– À cô gia có nhận được thư xin bái kiến của chánh sứ Trần Di Ái. Thôi cho bình thân.

Di Ái cùng bọn tùy tùng được mời ngồi. Thoát Hoan hỏi:

– Di Ái! Phụ hoàng nghe lời tâu của cô gia, người đã thuận phong cho ngươi làm An nam quốc vương. Người lại sai Sài Thung đem quân hộ tống ngươi về nước. Vậy ngươi phải sai sứ báo về cho văn võ quan của người ở trong nước, chuẩn bị nổi dậy khi ngươi về. Tuy nhiên trong thư xin bái kiến ta, người nói sẽ trình bầy tất cả tổ chức quốc phòng của An Nam. Bây giờ người trình đi.

Di Ái nhìn Ngọc Trí, tỏ vẻ ái ngại. Ngọc Trí cười:

– Việc quốc gia đại sự đàn bà không nên can thiệp. Thiếp xin lui.

Nói rồi nàng vào trong. Khi đi qua chỗ Di Ái, nàng cố ý làm cho giải váy bay lên, quệt vào đầu y. Nàng những tưởng y sẽ né tránh hay tỏ vẻ bất mãn. Không ngờ y hân hoan cùng cực, hướng mũi theo nàng hít một hơi dài.

(Còn tiếp Hồi 99)

Share this post