Anh Hùng Đông A (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 46 (Tiếp theo)

Anh Hùng Đông A (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 46 (Tiếp theo)

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

HỒI THỨ BỐN MƯƠI SÁU
Dưới cờ bình Mông

(Tiếp theo)

A Tan lệnh cho quân sĩ đi ngủ.

Quân sĩ vừa riu riu ngủ, thì trong rừng tre vang lên tiếng trống thúc, tiếng người reo. Tưởng quân Việt tập kích, quân Mông-cổ choàng dậy, mặc áo giáp, đốt đuốc chờ đợi. Nhưng sau hơn giờ, thì tiếng trống, tiếng reo lại im bặt. Rừng núi vọng về tiếng dế kêu não nuột. Thỉnh thoảng, đâu đó tiếng cú kêu sầu thảm.

A Tan ra lệnh cho quân sĩ mặc áo giáp mà ngủ. Khoảng hơn giờ sau, mọi người vừa  riu riu, thì có tiếng la hoảng, tiếng ngựa hý. Quân sĩ choàng dậy đốt đuốc lên, tất cả bật ngửa ra rằng, hơn hai chục chiến mã, bị một bọn vô hình nào đó đột kích bắn trúng bụng. A Tan cay đắng nhìn những thần mã từng tung hoành trên vùng Thảo-nguyên, trên chiến trường Tây-vực, trên khắp lãnh thổ Trung-quốc… oai hùng biết bao. Thế mà bây giờ bị những địch thủ không hình, không bóng bắn chết trong trường hợp không minh bạch. Y ra lệnh cho quân sĩ thắp đuốc tới sáng.

Đội quân Lôi-kỵ bách chiến, bách thắng, sau một ngày dài di chuyển mệt mỏi, rồi trải qua một đêm căng thẳng… Người, ngựa đều bải hoải. A Tan ra lệnh cho quân Đại-lý tiến quân vào tàn sát ngôi làng khốn nạn. Đầu tiên một Bách-phu đi tiên phong, vào trong làng dễ dàng. Nhưng hơn một khắc, không thấy chúng trở ra báo tin. Sốt ruột, y cho Lôi-kỵ tràn vào, thì trong làng không một bóng người, không một bóng thú. Chỉ có xác bọn Lôi-kỵ, bọn lính Đại-lý. Một tên lao binh duy nhất bị trói vào gốc cây cau còn sống. Y thuật:

– Khi tôi bị bắt vào làng, thì trẻ con, ông già bà cả yếu đuối đã di tản đi hết.  Còn lại, già, trẻ, trai, gái đều cầm vũ khí chiến đấu. Chúng được chỉ huy bởi hai mươi Ngưu-binh, toàn là nhóc con, chưa đứa nào tới hai chục tuổi.

Dường như chưa hết sợ, y tiếp:

– Bọn binh lính thì không đến nỗi nào. Nhưng tụi dân chúng, nhất là mấy con mụ đàn bà. Chúng hung dữ kỳ lạ. Không có vũ khí, chúng dùng gậy tre, dùng dao phay, dùng cuốc. Nhưng chúng đánh có phương pháp. Chúng liều lĩnh vô cùng. Có đứa bị chặt cụt một tay, bị đâm lòi ruột, mà chúng vẫn lăn xả vào mà chém túi bụi.

A Tan thấy trên bức tường của căn nhà cháy có tờ giấy, trên viết bằng chử Hán. Y nhẩm đọc:

Thống lĩnh hiệu binh Hữu Thánh-dực và đội võ sĩ Trấn Quốc của nước Đại-Việt là Hoàng Vui
Gửi tướng tiên phong Mông-cổ là A Tan.
Ta nghe, phàm đạo làm tướng thì tai nghe tám hướng, mắt nhìn mười phương. Lại phải biết mình, biết người. Nay mi thân làm đại tướng, mà không biết ta là ai, không biết khả năng quân ta; mi cũng không tự biết Lôi-kỵ vô dụng đối với binh ta. Mi vừa nhập biên, ta chỉ dùng mấy đứa nhãi con, cũng làm cho hùng binh của mi mất ăn, mất ngủ. Lại giết cả nghìn tên dễ dàng như chà kiến cỏ!
Mi đã sợ ta chưa?
Ngày mai quyết tái chiến.

Dưới vẽ hình một đứa trẻ cỡi trâu méo mặt, đang cầm… cò đái.

A Tan tức quá, y ra lệnh đốt tất cả những căn nhà trong làng, cho quân nấu cơm ăn, chôn xác tử sĩ, rồi lên đường. Đến giờ Ngọ, thì đi qua một khu khí hậu ấm áp, cỏ non hai bên đường mọc xanh mướt. Đám chiến mã muốn ngừng lại gặm ít miếng, nhưng bọn kỵ mã không cho. Giữa lúc đó tên Bách-phu trưởng tiền phong cho người báo:

– Con đường phía trước đầy chông với chà. Xin tướng quân định liệu.

A Tan truyền quân tạm ngừng lại. Chiến mã được ăn cỏ xanh tươi, chúng hý lên những tiếng vui mừng. A Tan  phi ngựa lên quan sát: Chông chà rất đơn sơ, nhưng nhiều vô tận. Y ra lệnh cho lao binh lên nhổ chông, kéo chà, mở đường. Tuy lao binh đông. Nhưng con đường hẹp, thành ra cuộc gỡ chướng ngại vật phải mất hơn giờ mới xong.

Giờ Mùi, cánh quân của A Tan gặp cánh quân của Triệt Triệt Đô. Vừa gặp nhau, Triệt Triệt Đô đã văng tục, chửi luôn miệng, chửi liên tu bất tận. Thì ra đêm qua cánh quân của Triệt Triệt Đô cũng gặp trường hợp tương tự. Triệt Triệt Đô ngoác mồm ra:

– Tổ mẹ nó. Từ lúc nhập Việt đến giờ không hề thấy một tên chó Việt nào cả. Cũng chưa được bắn một mũi tên, đánh một chiêu võ, mà hao mất hơn trăm Lôi-kỵ, mấy trăm binh Đại-lý. Bây giờ tôi mới biết những trò ma, trò quỷ này là mưu kế của tên Hoàng Vui. Tổ bà nó, tôi mà bắt được tên Vui-rỗ, thì tôi sẽ nhét vào miệng nó mười bãi phân ngựa.

A Tan thuật lại trận đấu giữa y với Vũ-Uy vương, rồi kết luận:

– Vũ-Uy vương là người có võ công cao nhất trong đám thân vương trẻ mà công lực đã như vậy. Tôi nghe nói An-Nam còn có những cao thủ như Trần Tung, Trần Khánh-Dư, Lê Tần, Phạm Cụ-Chích, Trần Tử-Đức bọn này võ công cao hơn Vũ-Uy vương nhiều. Hà! Đáng sợ thực.

Tên Trịnh Ngọc tâng công với chủ:

– Võ công bọn ấy cũng chưa đáng sợ. Đáng sợ là bọn Nam-thiên ngũ long. Năm con hồ ly này võ công cao không biết đâu mà lường. Ấy là chưa kể Đại-Việt thất tuyệt gồm Đặng Kiếm Anh, Đặng Kiếm-Hùng của phái Tản-viên; Lê Ngân-Sơn, Lê Kim-Sơn của phái Sài-sơn; Tiêu-Dao, Lung-Á của phái Yên-tử; Y-Sơn của phái Tiêu-sơn. Ngoài ra còn Lĩnh-Nam tam đại thần kiếm  của phái Mê-linh là Vô-Ảnh, Vô-Sắc, Vô-Huyền.

Mặt A Tan, Triệt Triệt Đô cau lại, tỏ vẻ lo lắng.

Tên Trịnh Ngọc ra vẻ ta biết nhiều:

– Vùng từ biên giới tới Bình-lệ-nguyên do Vũ-Uy vương trấn nhậm. Tất cả những trò gây tổn thất cho ta, là do đội võ sĩ Trấn-quốc của y. Bọn trẻ con mà đã thế, thì các hiệu binh của y sẽ gây ra nhiều trò quỷ quái không biết đâu mà lường. Nhị vị tướng quân phải cẩn thận.

Triệt Triệt Đô, A Tan truyền đóng quân lại, sai Kỵ-mã phi tiễn báo cáo tình hình cho Ngột-lương Hợp-thai.

Thình lình chiến mã, cũng như lừa, trâu, bò kéo xe, đều hý, rống lên thảm thiết; rồi con thì lồng lộn, con thì ngã lăn ra xùi bọt mép, con thì dẫy tê tê. Bọn Lôi-kỵ kinh hãi, chúng mở to mắt ra nhìn những con vật thân yêu. Y sĩ phụ trách thú vật chạy tới, chạy lui, kéo miệng thú ra quan sát. Sau khi khám nghiệm mươi con, hắn đã tìm ra nguyên do: Chúng bị ngộ độc.

Quân luật Mông-cổ định rằng, nếu chiến mã ngộ độc chết, thì lao binh phụ trách chăn ngựa bị tử hình. Đám lao binh mặt nhìn mặt, chúng đều biết rằng nếu đám lừa ngựa này chết, thì tính mệnh chúng khó toàn.

Triệt Triệt Đô quát lên:

– Nhất định trong đám lao binh có gian tế của Nam-man. Tụi bay phải tìm ra thủ phạm, bằng không tao sẽ giết hết bọn bay.

Y quát lớn:

– Tập trung bọn chăn ngựa lại.

Nhanh chóng, Kỵ-mã, binh Đại-lý dồn đám lao binh chăn ngựa vào một khu. Triệt Triệt Đô hỏi:

– Đứa nào trong chúng mày làm gian tế?

Đám lao binh quỳ gối khóc lóc:

– Bọn tiểu nhân đều theo quân mấy năm nay. Làm sao có quen biết với Nam-man?

Một lao binh chỉ vào ba gã họ Trịnh:

– Nghi can duy nhất trong vụ này chỉ có thể là ba gã họ Trịnh. Vì chúng là người Việt, biết nói tiếng Việt. Có lẽ trong thời gian bị giam ở Thăng-long, chúng đã được An-Nam phong chức tước?

Triệt Triệt Đô đưa mắt nhìn ba gã họ Trịnh. Trịnh Ngọc kinh hãi, y phân trần, chỉ vào Trịnh Đức:

– Hai anh em chúng tôi đều là quan chức Thiên-triều, còn thằng Long là con tôi, lớn lên ở Mông-cổ. Chúng đâu có thể phản, mà theo bọn An-Nam?

Nhìn con ngựa của mình đang nằm dài ra, xùi bọt mép, bốn vó dãy dụa, tỏ vẻ đau đớn cùng cực. Triệt Triệt Đô kề đao vào cổ Trịnh Long, nói với Trịnh Ngọc:

– Mày lý luận không vững. Mày bảo mày không phản Mông-cổ. Thế tao hỏi mày câu này: Đến nước mày, vua mày, làng xóm mày mà mày còn phản được, thì mày làm gì còn lương tâm? Nếu tao hô ba tiếng, mà mày không nhận thì tao chặt một tay con mày.

Y hô:

– Một.

– Xin tướng quân xét cho.

– Hai.

– Chúng tôi không hề đánh thuốc độc ngựa.

– Ba.

Ánh đao khoa lên, tiếp theo tiếng rú khủng khiếp.

Triệt Triệt Đô đang cáu, giận cá chém thớt, y định đổ cái hận lên đầu mấy tên chó săn Việt, thì quân báo:

– Thưa tướng quân, phía trước có một chiếc xe hai ngựa đang chạy tới. Người đánh xe xưng là thầy lang chuyên chữa ngựa trúng độc. Thầy tên Đỗ Thanh. Xin tướng quân định liệu.

Triệt Triệt Đô mừng chi siết kể, y truyền lệnh:

– Dẫn thầy lang tới.

Thầy lang Đỗ Thanh là một trung niên nam tử, dáng người thanh nhã. Tên Trịnh Ngọc lại được dẫn tới dịch. Thầy xá Triệt Triệt Đô, rồi nói:

– Lương-y Đại-Việt xin ra mắt tướng quân. Tôi biết ngựa của quý quốc đi qua khu cỏ độc, ắt mắc nạn nên đến đây trình với tướng quân.

Thấy phong tư Đỗ Thanh tiêu sái, tóc đen óng ánh, dáng đi nhẹ nhàng, nói năng kiêu kỳ: Tự gọi nước mình là Đại-Việt, không gọi Mông-cổ là Thiên-quốc, mà gọi là quý quốc; Triệt Triệt Đô biết đây là người có tư cách khác phàm, chứ không phải thầy lang bình thường; cũng không phải bọn mãi quốc như ba gã họ Trịnh. Y dùng lời ngọt ngào:

– Ngựa, thú của ta đã trúng độc hết rồi. Nhà thầy làm thế nào mà biết trước?

– Thưa tướng quân, khi quý-sứ sang chiêu dụ triều đình hàng, thì các quan Đại-Việt chia làm hai phe. Một phe gồm đa số là nho gia, muốn Đại-Việt theo gió đầu hàng, để dân chúng được sống yên những ngày Nghiêu, tháng Thuấn. Tôi thuộc phe này. Một phe nữa nhất định chống đối, gây cuộc binh đao. Tôi bèn cáo quan trở về. Hôm qua tôi thấy hoàng tử Duy tước phong Vũ-Uy vương chỉ huy quân sĩ làm chướng ngại vật, rồi lại đem thuốc độc tưới lên cỏ…

Triệt Triệt Đô tỉnh ngộ:

– Mình đáng chết thực. Khi thấy giặc bầy chướng ngại vật thô sơ, mình cứ tưởng chúng ngu đần. Thì ra chúng bầy với mục đích bắt mình dừng quân, khiến ngựa ăn cỏ non… Mà cỏ non đó, chúng tưới thuốc độc lên.

Nghĩ vậy y hỏi:

– Nhà thầy biết chữa ngựa trúng độc không?

– Tôi là một ngự y, làm viện trưởng Thái-y viện, thì cái thứ thuốc độc này… giải đâu có khó.

– Nếu thầy cứu được đám ngựa của ta, ta sẽ xin hoàng đế Thiên-triều phong cho thầy tước hầu, tước bá.

– Tôi tuy cáo quan về điền dã, nhưng không có lòng phản triều đình Đại-Việt. Tôi không muốn làm quan với quý quốc. Tôi ra đây chữa ngựa, chỉ với mục đích xin tướng quân tha cho dân làng tôi. Bởi tôi nghe, khi quý-binh đến đâu, mà dân chúng đầu hàng thì tha. Còn như chống lại thì bị giết tuyệt.

– Được, ta sẽ tha cho cả làng thầy.

– Dạ, xin cho cả tổng.

– Được, ta tha cho cả tổng.

Đỗ Thanh móc trong cái tay nải đeo trên lưng lấy ra một bình lớn. Ông ta trao cho Triệt Triệt Đô một viên:

– Xin tướng quân nhét vào hậu môn chiến mã. Trong nửa khắc, chúng sẽ sẽ khỏi ngay.

Triệt Triệt Đô làm theo. Quả nhiên lát sau, chiến mã của y đứng dậy, hý lên một tiếng, khỏe mạnh như thường.  Thầy lang trao thuốc cho bọn lao binh chăn ngựa, nhét hậu môn cho tất cả thú vật. Hai khắc sau, tất cả thú vật đều khỏe mạnh.

Triệt Triệt Đô lấy một nén vàng, trao cho Thanh:

– Gọi là chút ít, tặng ông đấy.

Thầy lang Đỗ co tay lại. Ông ta vái dài:

– Kẻ thô lậu này chữa ngựa cho quý-binh, chỉ mong tìm cái lẽ an lành cho dân làng. Rất mong tướng quân hứa không giết dân tổng này.

Triệt Triệt Đô dơ tay hứa. Thầy lang Đỗ trao cho lao binh chăn ngựa một túi thuốc, dặn:

– Chiến mã tuy được trị khỏi, nhưng chưa tuyệt nọc; anh em giữ bọc thuốc này, sáng mai, lại cho mỗi chiến mã uống một viên, thì không còn sợ gì nữa.

Nói dứt, thầy vái Triệt Triệt Đô, rồi đánh xe vào một con đường nhỏ.

Chiều hôm đó, thì đại quân Ngột-lương Hợp-thai tới. Y hỏi Trịnh Ngọc:

– Vùng này tên là gì?

– Thưa là Thảo-lâm.

Ngột-lương Hợp-thai truyền quân đóng trên một vùng dài ven rừng. Khác với hôm qua, trời mưa phùn. Hôm nay vùng này trời nắng ráo. Cây cỏ về mùa Đông khô héo. Ngột-lương Hợp-thai họp các tướng lại để nghị kế, tìm phương cách đối phó với trường hợp tương tự có thể sẽ gặp.

Tế tác báo cho biết:

Vua An-Nam, cùng đại quân khoảng hai vạn, gồm bộ binh, Kỵ-binh, Ngưu-binh. Tất cả dàn ra tại Bình-lệ nguyên sẵn sàng chiến đấu.

A Truật nghi ngờ:

– Bọn An-Nam có ngu không? Chúng đã biết quân ta hùng mạnh, vô địch. Quân số của ta tới mười vạn. Thế mà vua chúng lại dàn hai vạn ra mong đối trận với ta. Không lẽ chúng muốn tự tử?

Phò mã Hoài-Đô cẩn thận hơn:

– Thái sư phải cẩn thận lắm mới được. Vua An-Nam là người trí dũng hơn đời. Y trao quyền Tiết-chế cho người cháu là Hưng-Đạo vương. Hưng-Đạo vương vừa có tài thao lược như  Khương Thái-công, vừa có tài dùng binh như Tôn Vũ, vừa mưu trí như Gia-cát Lượng. Chúng đã biết quân ta tinh nhuệ, hùng tráng, đông gấp bội, thế mà chúng dám dàn ra đối trận với ta, ắt chúng có mưu kế gì đây.

Ngột-lương Hợp-thai thấy lời bàn của Hoài-Đô có lý. Nhưng y tự tin:

– Dù chúng có mưu gì chăng nữa, với sức mạnh của Lôi-kỵ, ta há sợ chúng sao?

Sau khi ra lệnh cho quân sĩ canh phòng cận thận. Y truyền đóng trại qua đêm. Trái với dự đoán rằng thế nào quân An-Nam cũng quấy rối như đêm trước. Nhưng, cho đến nửa đêm, tình hình vẫn yên tĩnh. Toàn quân chìm vào giấc ngủ.

Giờ Tý, thình lình khu đóng quân của A Truật vang lên tiếng reo hò, tiếng la hét, tiếng vũ khí chạm nhau. Ngột-lương Hợp-thai cùng các tướng bật dậy, ngồi chờ. Hơn giờ sau, quân báo:

– Có khoảng hơn hai trăm con trâu, sừng buộc dao nhọn, xông vào trại húc túi bụi. Khi quân đốt được đuốc lên, lập được trật tự, thì đoàn trâu đã biến vào trong rừng. Hơn bốn trăm binh sĩ vừa chết, vừa bị thương. Bọn chỉ huy trâu toàn nhóc con.

Ngột-lương Hợp-thai uất khí lên cổ. Trước khi tiến quân, y đã được Tế-tác báo cho biết rằng An-Nam có Ngưu-binh. Thuật dùng Ngưu-binh do vua Đinh Tiên-Hoàng, nguyên là trẻ mục đồng xuất thân đã nghĩ ra. Ngưu-binh xử dụng trâu lâm chiến lợi hại vô cùng. Thời Tống Thần-tông, bọn Quách Quỳ, Triệu Tiết mang quân sang đánh đã bị Ngưu-binh làm cho khốn đốn bao phen. Y khinh thường, cười rằng Ngưu-binh sao có thể chọi với Lôi-kỵ của y. Bây giờ, qua một cuộc đột kích, y mới cảm thấy nguy hiểm đang chờ đợi.

Quân trình cho Ngột-lương Hợp-thai một lá cờ Cửu-mao đại đạo của Mông-cổ :

– Thưa Thái-sư, lá cờ này là đạo quân tướng Triệt Triệt Đô bị giặc lấy trộm đêm qua. Hôm nay, một Ngưu-binh đột nhập trại ta bỏ lại. Trên cờ có bức thư gửi Thái-sư.

Ngột-lương Hợp-thai cầm lên đọc :

Đô-thống Hoàng Vui, thống lĩnh hiệu binh Hữu Thánh-dực, kiêm đội võ sĩ Trấn Quốc nước Đại-Việt.
Kính gửi:
Ngài Kiểm-hiệu Thái-sư , Thống lĩnh hành quân chinh thảo Nam-thiên, Tứ-xuyên vương của đại quốc Mông-cổ.
Từ lúc đại binh của ngài nhập biên, Vui này chỉ mới được giao hảo ít trận nho nhỏ với hai tướng tiên phong A Tan, Triệt Triệt Đô. Hôm nay, mới được hân hạnh cho bọn trẻ con ra mắt vương gia.
Lát nữa đây, tôi sẽ cho chúng đốt pháo cháo mừng quân Thiên-triều.
Hẹn ngày mai gặp lại ngài trên sông.

Dưới vẽ hình một đứa trẻ méo miệng, đang cầm… cò đái.

Trọn đời chinh chiến, từ Đông sang Tây, từ Bắc đến Nam, chưa bao giờ Ngột-lương Hợp-thai lại bị chọc giận đến như thế này. Y nghiến răng kèn kẹt. Tên Trịnh Ngọc được dịp khoe tài:

– Thưa Thái-sư. Cái tên Vui này nói được, thì y làm được. Y hẹn đốt pháo mừng cùng tái gặp trên sông, ắt y sẽ thực hiện. Xin Thái-sư cẩn thận.

– Được!

Ngột-lương Hợp-thai cùng các tướng đang bàn luận, thì có tiếng rít kéo dài vọng lại, rồi ba tiếng nổ rung chuyển không gian. Trên trời, ba trái cầu lửa nổ tung, tỏa ra ánh sáng xanh, tím, vàng, đỏ.

Binh sĩ Mông-cổ la hoảng:

– Lôi tiễn.

Tiếp theo, mỗi loạt hàng trăm trái Lôi-tiễn từ trong rừng bắn ra, nổ chụp xuống đầu quân Mông-cổ. Rừng mùa Đông toàn cây lá khô héo, bị trúng Lôi-tiễn, bốc cháy. Trong khoảnh khắc, toàn khu đóng quân biến thành một biển lửa. Ngựa hý, quân la hoảng, người người ôm đầu chạy ra khỏi khu rừng khô.

Quân Mông-cổ cũng có Lôi-tiễn, nhưng giữa đêm tối, chúng không biết quân Việt ở đâu để phản pháo! Trong khi quân Việt đã tính toán, nhắm mục tiêu từ trước.

Tên Trịnh Ngọc cố vấn:

– Đó, tên Vui hẹn đốt pháo mừng Thái-sư, thì y giữ lời hứa cho Lôi-tiễn nã. Tôi nghĩ ngày mai y sẽ bầy trò quỷ trên sông chờ ta.

– An-Nam cũng có Lôi-tiễn ư?

– Lôi-tiễn gốc từ thời vua Lý Nhân-tông, do Tây-hồ thất kiệtLong-biên ngũ hùng chế ra trong trận đánh Ung-châu. Sau phò mã Trần Thủ-Huy truyền cho Mông-cổ ta. Tuy nhiên, trên trăm năm qua, Lôi-tiễn Đại-Việt đã được sửa chữa, tầm bắn xa hơn nhiều, lực sát hại ác liệt hơn nhiều.

Cuộc nã Lôi-tiễn cho đến khi trời rạng Đông mới dứt.

Triệt Triệt Đô báo:

– Cuộc nã Lôi-tiễn của Nam-man đêm qua, làm thiệt mạng gần nghìn Lôi-kỵ, hơn nghìn binh Đại-lý, và hai nghìn lao binh. Chiến mã bị chết, bị thương hơn nghìn. Còn bị thương thì nhiều lắm, chưa kiểm kê xong. Theo như tin thu được, thì bọn quấy rối ta suốt từ khi nhập Việt đến giờ, cũng như bọn nã Lôi-tiễn do con thứ của vua An-Nam là Vũ-Uy vương chỉ huy, nhưng người thi hành là Đô-thống Hoàng Vui.

Ngột-lương Hợp-thai cảm thấy cuộc chinh tiễu An-Nam này không dễ dàng như Mông-Kha, Hốt Tất Liệt liệu. Với chiến thuật ẩn ẩn, hiện hiện như ma, như quỷ. Với địa thế này, thì đoàn Lôi-kỵ e không trổ được thần oai, rồi đến kiệt lực mà chết.

Hôm ấy là ngày 10 tháng Chạp, năm Đinh-Tỵ (15-1-1958), sau khi Tế-tác báo cáo tình hình:

– An-Nam mới điều lên hạm đội Âu-Cơ, dàn ra trên sông, phía sau Bình-lệ-nguyên.

Ngột-lương Hợp-thai tập trung các tướng, ban lệnh:

– Con bà nó! Bọn man này khôn thực. Không biết tại sao chúng lại tinh thông binh pháp của Thành-cát Tư-hãn? Binh pháp của đức Thái-tổ là luôn bắt địch chấp nhận giao tranh trên một chiến trường do ta chọn. Thế mà bây giờ nó dàn trận bên kia sông, bắt ta phải chấp nhận địa thế chúng muốn. Được! Ta mà có sợ chúng, thì không còn là tướng Mông-cổ nữa.

Y ra lệnh cho quân dẵn chuối, luồng, nứa, đóng bè. Không đầy hai ngày, quân làm được số bè có thể chở một lúc hai nghìn người ngựa. Toàn quân chuẩn bị vượt sông.

oOo

Ngày 11 tháng Chạp năm Đinh-Tỵ, nhằm niên hiệu Nguyên-Phong thứ 7 đời vua Thái-tông nhà Trần (DL.16-1-1258)

Sáng sớm Ngột-lương Hợp-thai họp chư tướng tại Thảo-lâm ban lệnh. Đầu tiên y gọi Triệt Triệt Đô, A Tan:

– Quân Nam nhiều hay ít, thiện chiến hay không ta không cần biết tới. Kinh nghiệm hồi đánh Tây-vực. Quân Tây-vực hùng mạnh biết mấy! Đông biết mấy! Thế nhưng tiên phụ [chỉ Tốc Bất Đài] cùng thúc phụ [chỉ Triết Biệt] chỉ có 3 vạn Lôi-kỵ, nhưng cứ rượt theo vua của chúng, bất kể ngày đêm khiến y không thể ngừng lại ban lệnh cho các chư  hầu chống ta. Bây giờ, vua An-Nam tự đem thân lên Bình-lệ-nguyên. Ta phải đánh tan cánh quân của y, rồi đuổi bắt cho được y mới thôi. Y bị bắt rồi, thì cuộc bình định coi như xong. Nhưng có một điều phải nhớ rằng: Ta chỉ sở trường về kỵ binh, bộ chiến. Còn thủy chiến, thì ta không phải là đối thủ của chúng. Thế nhưng bọn hạm đội Âu-Cơ lại lên bờ đối trận thì quả thực chúng quá ngu.

Y gọi A Tan:

– Ta trao cho tướng quân hai Thiên-phu Lôi-kỵ, ba Thiên-phu binh Đại-lý. Tướng quân đem quân vượt sông. Sau khi sang sông, án binh. Đợi lúc Triệt Triệt Đô đánh quân Việt ở Bình-lệ-nguyên thì tướng quân đem quân tấn công vào phòng tuyến của hạm đội Âu-Cơ. Phải cố cướp lấy thuyền, như vậy vua tôi của chúng không còn đường rút chạy, ắt bị ta bắt sống. Ta sẽ cho ba Thiên-phu Lôi-kỵ đi sau tiếp ứng. Trong ba Thiên-phu trưởng ta cho theo người, thì Tăng Phúc, Triệu An là người Hán. Cả hai thuộc phái Trường-bạch. Độc công của chúng vô địch thiên hạ. Thứ ba là Thiên-phu trưởng Di Hòa (Djihoark) nức danh về tiễn thủ.

Y gọi Triệt Triệt Đô:

– Ta trao cho tướng quân ba Thiên-phu Lôi-kỵ, ba Thiên-phu binh Đại-lý. Tướng quân  đem quân vượt sông. Vượt sông rồi, người tìm địa thế thuận lợi mà bầy trận, cứ chần chờ, như vậy ắt chúng sẽ xua quân tấn công tướng quân. Bấy giờ tướng quân mới tung Lôi-kỵ đánh tan chủ lực chúng. Trong khi đó A Tan chọc thủng trận, cướp lấy thuyền của chúng. Dù không cướp được thì cũng ngăn không cho chúng trở về thuyền. Ta sẽ đem quân sang tiếp ứng.

Y nhấn mạnh:

– Trong tất cả 50 Thiên-phu trưởng Lôi-kỵ của ta, thì ba Thiên-phu trưởng theo tướng quân thuộc loại ưu tú nhất. Thiên-phu trưởng Hòa Khâm (Hoarkamp) là cháu của Thân-vương Bác Nhĩ Truật, nức danh đệ nhất kỵ mã Mông-cổ. Thiên-phu trưởng Sung-Di (Jungit) là cháu của Thân-vương Triết Biệt. Y là đệ nhất tiễn thủ của ta. Thứ ba là Thiên-phu Vương Huy. Y là người Hán, võ công Liêu-Đông của y cao thâm không biết đâu mà lường.

Y đứng dậy nói với phò mã Hoài-Đô:

– Phò mã tiến xuống hạ lưu, vượt sông đánh vào hậu quân chúng, rồi chặn đường rút lui. Chúng mất thuyền, bị đánh đầu, chặn cuối, không còn thuyền rút chạy, sẽ bị ta bắt hết.

Y dặn Triệt Triệt Đô, A Tan, Hoài-Đô lần cuối:

– Tên mặt rỗ Hoàng Vui hẹn tái ngộ với ta trên sông. Vậy khi vượt sông các người phải cẩn thận, bằng không sẽ trúng quỷ kế của y.

Triệt Triệt Đô độ giang trước. Người ngựa rầm rập di chuyển. Chuyến đầu tiên sang sông gồm một Thiên-phu Lôi-kỵ, một Thiên-phu Đại-lý. Viên Thiên-phu này nguyên là người Hán theo Mông-cổ trên mười lăm năm. Y có tên Vương Huy. Tuy võ công Vương Huy cao cường, nhưng bè của y vẫn có 18 võ sĩ theo bảo vệ, và cũng để uy hiếp tướng địch. Ngột-lương Hợp-thai sai tên Trịnh Đức theo làm thông dịch. Khi bè bắt đầu rời bến, thì từ thượng lưu, một con thuyền bậc trung, dương buồm đang chạy đến. Tiếng nhạc véo von từ trong con thuyền vọng ra, nghe rất lọt tai. Tên Trịnh Đức cảnh cáo Vương Huy:

– Tướng quân phải cẩn thận. Bọn An-Nam thường bầy trò ma trò quỷ để hại ta. Giữa lúc đại quân ta di chuyển ồn ào thế này, nếu không phải quan quân Đại-Việt, thì đứa nào dám thả thuyền tấu nhạc? Chắc là trò ma của tên Vui-rỗ!

Đến đó, một tiếng pháo nổ, rồi trên cột của con thuyền kéo lá cờ, trên có hình đứa trẻ chăn trâu đang cầm cò đái, với hàng chữ:

Đại-Việt, Đô-thống Hoàng,

Thống lĩnh hiệu binh Hữu Thánh-dực,

Kiêm chỉ huy đội võ sĩ Trấn-quốc“.

Vương Huy ra lệnh cho tên chỉ huy 18 võ sĩ với mấy Lôi-kỵ:

– Đem bè chặn ngang con thuyền kia, rồi các người nhảy lên cướp thuyền, bắt sống cho được tên Vui-rỗ, nộp Thái-sư. Đừng giết nó.

Bè ngăn trước con thuyền. Thuyền, bè đụng vào nhau đến rầm một cái. Chín võ sĩ tung mình lên trên nóc thuyền. Binh, binh, binh ba tiếng, mui thuyền bay tung lên cao rồi rơi xuống sông. Bọn võ sĩ còn đang lơ lửng trên không, thì chín cái chài từ trong lòng thuyền tỏa ra, chụp gọn chúng vào trong. Bọn chúng rơi xuống thuyền như những trái mít rụng. Hòa Khâm nhìn rõ chín người tung lưới là chín thiếu nữ tuổi còn trẻ. Y kinh hãi kêu lên:

– Võ công Đông-a, Thiên-la thập bát thức.

Y lại ra lệnh cho bọn võ sĩ nhảy lên thuyền. Chín võ sĩ như chín con hạc tà tà đáp vào mạn thuyền. Chín thiếu nữ cùng bật lên tiếng cười dòn như thác nước đổ, chín cái lưới lại tỏa ra. Bọn Lôi-kỵ chỉ chờ có thế, chúng hướng các thiếu nữ buông tên. Nhanh như chớp, chín thiếu nữ giật tay một cái, chín võ sĩ đã bị bắt, bị đưa lưng ra đỡ tên. Cũng may, chín võ sĩ đều mặc áo giáp. Kịch, kịch , kịch, tên rơi xuống sông. Đến đây thuyền đã rời xa bè. Vương Huy hò hét ra lệnh băn tên, chèo bè đuổi theo. Nhưng thuyền chạy vun vút về phía hạ lưu. Tên bị ghim vào khiên-mây. Phút chốc mất hút, đâu đó, tiếng tiêu véo von vọng lại, lẫn với tiếng Mông-cổ:

– Lôi-kỵ vô địch, nhưng khi đến Đại-Việt thì thành tồi kỵ.

Vương Huy giận cành hông, y văng tục liên tiếp.

Thình lình dây cột bè của y kêu lên những tiếng phựt… phựt… rồi bị đứt. Những cây chuối rời nhau tản ra. Bao nhiêu người trên bè bị ngã xuống sông hết. Mông-cổ là sắc dân sống trên vùng Thảo-nguyên, chỉ biết cỡi ngựa, săn bắn, nào có biết bơi? Vì vậy những người trên bè bị chìm, bị nước cuốn đi. May mắn Vương Huy là người Hán, vùng sông Hoài, nên y biết bơi. Y bám tay vào một cây chuối. Một cái bè khác chèo lại cứu y. Y giật tay, vọt người lên, tà tà đáp vào bè. Y ngoác mồm chửi:

– Tụi quân khốn nạn, dùng dây cột không chắc…

Lại phựt… phựt… rồi bè của y lại bị tan.

Đám quân trên bè này toàn là người Mông-cổ, chúng lại mặc áo giáp sắt, đeo nhiều chiến cụ, nên bị chìm lỉm. Vương Huy bám vào cây chuối, bơi lóp ngóp, rồi cũng như lần trước, y vọt người lên một cái bè khác. Bây giờ y mới chú ý nhìn: Trên mặt sông có hàng mấy chục bè bị đứt dây. Một tên lao binh vớt sợi dây cột bè trình cho y. Y giật bắn người lên, vì rõ ràng dây bị vết dao cắt chứ không phải bị dứt vì sức nặng chuyên chở.

Thình lình ầm… ầm… năm đừa trẻ từ dưới nước vọt mình lên, mỗi đứa xớt một Lôi-kỵ, rồi lăn xuống sông biến mất. Bấy giờ Vương Huy mới biết những bè bị cắt dây là do bọn con nít lặn dưới nước thi hành.

Y kiểm điểm lại, tất cả 12 bè bị cắt dây, trên trăm quân bị chết đuối.

Phải hơn một giờ, Triệt Triệt Đô mới đổ bộ xong ba Thiên-phu Lôi-kỵ, ba Thiên-phu Đại-lý. Hàng ngũ chỉnh đốn lại. Vương Huy báo cho Triệt Triệt Đô biết việc 18 võ sĩ bị mấy thiếu nữ trong con thuyền vô danh bắt sống. Hơn trăm Lôi-kỵ bị bọn con nít làm vỡ bè, bị nước cuốn đi mất. Nghe tin này Triệt Triệt Đô cau mặt lại:

– Con bà nó! Bọn hèn nhát.

Gã Trịnh Đức tỏ vẻ hiểu biết:

– Cái bọn con nít lặn dưới nước cắt dây này là đội Ngạc-ngư, do con nuôi của Hưng-Đạo vương tên Yết-Kiêu chỉ huy. Chúng có thể ở dưới nước hàng giờ.

– Yết-Kiêu với đội Ngạc-ngư là bọn nào?

– Yết-Kiêu là một đứa trẻ mồ côi, gốc người vùng biển Hạ-long. Y tuổi khoảng 12-13, mới được Hưng-Đạo vương nhận làm con nuôi. Còn đội Ngạc-ngư có 18 đứa, đều là con cháu ngư dân trên vùng biển Hạ-long. Chúng rất giỏi thủy chiến, lại gan dạ không ai bì kịp. Nếu ta có thủy quân, thì phải coi chừng, bằng không giữa lúc giao chiến, chúng đục thuyền thì nguy thay. Tuy ta không có thủy quân, nhưng mỗi khi dùng thuyền bè vượt sông, phải tối đề phòng chúng.

Sau ba ngày gây bất ổn cho quân Mông-cổ trên đoạn đường từ biên giới đến ngã ba sông Bạch-hạc, Vũ-Uy vương tâu về triều, cùng phúc trình lên Hưng-Đạo vương. Bấy giờ Nguyên-Phong hoàng đế đang ở Bình-lệ-nguyên. Ngài truyền sai chim ưng mang chiếu chỉ ra mặt trận biên giới phong thưởng cho tất cả tướng sĩ có công. Trong đó:

– Đô-thống Trần Quới thống lĩnh hiệu binh Tiền-thánh dực, được thăng Trấn-biên tướng quân, tước Quy-ninh tử.

– Đô-thống Bùi Hoán, được thăng Phì-đức tướng quân, Kiên-long tử.

– Đô-thống Hoàng Vui được thăng Văn-mẫn thượng tướng quân tước Kiêu-kỵ bá.

A Tan cũng đã đổ bộ xong. Hai tướng bàn với nhau . Triệt Triệt Đô thắc mắc:

– Cứ như ước tính của Thái-sư, thì  nhất định bọn Việt sẽ tiến lên tấn công ta. Thế mà ta sang sông, lập trận cũng lâu, tại sao chúng lại im lặng thế kia?

A Tan bị khích động mấy ngày liền, tinh thần trở lên thất thường:

– Tôi nghĩ bọn Nam-man chỉ có tài cắn trộm, có tài bầy trò ma, trò quỷ mà thôi. Nếu chúng không đánh ta, không lẽ ta cứ án binh tại đây rồi đêm nay chúng lại tới cắn trộm? Vậy theo tôi nghĩ, ta cứ xua quân phá trận của chúng, rồi bắt sống Trần Cảnh. Trần Cảnh bị bắt, thì coi như An-Nam bình định xong.

– Thôi thì ta cứ án binh thêm một giờ nữa xem sao?

Triệt Triệt Đô sai một Thập-phu thám mã dò dẫm trận Việt tại Bình-lệ nguyên. Hơn ba khắc sau, đội thám mã trở về báo:

– Quân Việt có hai cánh. Một cánh dàn ra tại bờ sông . Cánh này toàn Thủy-quân thuộc hạm đội Âu-Cơ. Còn cánh trên bộ, có vua Việt thân chinh. Vua Việt dàn quân trên một cánh đồng. Phía sau lưng là những xóm làng, đồng lầy. Trận của chúng rất kỳ lạ: Cứ một đội Tượng-binh, một đội Kỵ-binh, một đội Ngưu-binh thì có hai đội bộ binh. Trận thế rất vững.

Nhìn sang phía bên kia sông thấy quân của phò mã Hoài-Đô đã di chuyển xuống hạ lưu rồi, Triệt Triệt Đô cho rằng qua lẽ giờ này cánh quân ấy đang qua sông.

Hơn giờ trôi qua, vẫn không thấy bóng quân Việt.

Thám mã báo:

– Từ phía Nam, có một đội kỵ mã, y phục giống Lôi-kỵ của ta, đang phi tới.

– Hay quá! Có lẽ họ là người của phò mã Hoài-Đô sai liên lạc với ta đấy.

Đội kỵ mã phi như bay, mỗi lúc một gần. Gã Thiên-phu trưởng Hòa-Khâm ra lệnh:

– Ngăn chúng lại.

Một Thập-phu dàn ngang, vẫy tay ra hiệu cho đội kỵ mã ngừng lại. Nhưng dường như bọn này không tuân lệnh. Ngựa vẫn phi, gió cuốn bụi bay mịt mờ. Thấy triệu chứng bất thường,  Hòa Khâm quát lớn:

– Dùng thoòng loọng lôi cổ chúng xuống.

Thoòng-loọng tung lên, chín Lôi-kỵ bị lộn đầu xuống đất. Mọi người nhìn lại, thì ra chín xác chết của bọn võ sĩ bị tung chài bắt dưới sông ban ngãy. Còn một Lôi-kỵ, đầu đội mũ đỏ chói, y né đầu tránh khỏi, rồi bắt lấy giây giật mạnh. Tên võ sĩ tung giây bị bay tung lên cao. Gã bị tên mũ đỏ kẹp vào nách, quay đầu ngựa chạy. Biến cố xẩy ra nói thì chậm, nhưng kẻ tung giây, người giật giây, bắt người, quay đầu ngựa… trong chớp nhoáng. Gã mũ đỏ quay mặt lại, để tay lên mũi trêu Triệt Triệt Đô. Y nói bằng tiếng Mông-cổ:

– Ê! Tên Thát-đát kia! Có giỏi phi ngựa đua với tớ!

Bị khích động, không làm chủ được, Triệt Triệt Đô ra lệnh cho Hòa-Khâm đuổi theo. Gã mũ đỏ dường như không biết những gì xẩy ra phía sau, y vẫn cắm đầu ra roi cho ngựa phi. Nhưng y kẹp thêm một người, nên chưa đầy một khắc, y đã bị Hòa Khâm đuổi kịp. Thình lình y tung người lên cao, đứng trên lưng ngựa, tay y ném tù nhân về sau. Hòa Khâm không kịp phản ứng, thân thể gã tù binh trúng đầu ngựa của hắn, rồi rơi xuống đất. Con ngựa cất cao vó trước hý lên, nhưng nó đã đạp phải gã tù binh. Quyết bắt cho đươc đối thủ, Hòa Khâm thúc ngựa đuổi theo. Ngựa của gã mũ đỏ chạy vòng vòng quanh cánh đồng mênh mông, dường như trêu ghẹo đệ nhất kỵ mã của đoàn quân Nam-chinh Mông-cổ.

Thấy Hòa Khâm không bắt được gã mũ đỏ, Triệt Triệt Đô ra lệnh cho Vương Huy vọt ngựa chặn đầu y. Gã mũ đỏ không coi Vương Huy ra gì, khi hai ngựa sắp giao nhau, Vương Huy phát chưởng tấn công. Gã mũ đỏ cười một tiếng, rồi chĩa tay phóng một chỉ. Nếu Vương Huy tiếp tục phóng chưởng thì lòng bàn tay của y bị xuyên thủng. Là một võ sư phái Liêu-Đông, đã đấu hàng nghìn trận, kinh nghiệm có thừa. Vương Huy biến chiêu  thành cái gạt. Gã mũ đỏ thu chỉ về, thì vừa lúc đó Hòa Khâm đã đuổi kịp. Thế là ngựa của gã mũ đỏ bị ép hai bên bởi ngựa của Hòa Khâm, Vương Huy.

Ba ngựa phi song song. Dường như gã mũ đỏ không hề sợ hãi. Gã thè lưỡi ra trêu hai địch thủ. Hòa Khâm, Vương Huy đưa mắt nhìn nhau, rồi cùng phát chưởng tấn công đối thủ. Gã mũ đỏ cười nhạt, không phát chiêu chống lại, đã vậy gã còn méo miệng trêu kẻ thù. Kình lực của hai chưởng cực kỳ trầm trọng đã bao trùm gã. Thình lình gã lắc mình một cái, người gã đã nằm dưới bụng ngựa. Hai chân gã kẹp vào hông ngựa. Chưởng của Hòa Khâm, Vương Huy chạm vào nhau, bình một tiếng, cả hai cùng bị chấn động, chân tay tê liệt, ngựa bị kình lực rung động, cũng chạy chậm lại. Bấy giờ gã mũ đỏ bật ngồi lại trên lưng ngựa, tay gã phát hai chỉ, trúng giữa mắt ngựa của Hòa Khâm, Vương Huy. Con ngươi bị lòi ra, hai ngựa hý lênh thảm thiết, rồi khuỵu vó trước, ngã lộn đi hai ba vòng, quật chủ nhân văng ra xa. Gã mũ đỏ cười ha hả, gã nói vọng lại bằng tiếng Mông-cổ:

– Bọn bay chỉ là tụi mọi rợ vùng Thảo-nguyên, mà đòi đấu thuật kỵ mã với con cháu Phù-đổng Thiên-vương ư?

Lời nói vừa dứt, thì ngựa của y đã rẽ vào một ngõ hẻm hai bên toàn tre.

Triệt Triệt Đô than với A Tan:

– Từ trước đến giờ, chúng mình cứ tưởng Lôi-kỵ của ta có tài kỵ mã vô địch. Không ngờ, gã kỵ mã ban nãy còn tài tình hơn. Y ngồi trên mình ngựa, co tay một cái, bắt người, kẹp vào nách. Con ngựa thi khụy hai vó trước, rồi quay một vòng. Trong quân chúng ta, không ai làm được việc đó cả.

Trịnh Ngọc được dịp khoe cái hiểu biết :

– Thuật kỵ mã của chúng ta do phò mã Trần Thủ-Huy với tướng chỉ huy đội võ sĩ Long-biên huấn luyện. Mà thuật kỵ mã này xuất thân từ phái Sài-sơn. Người chỉ huy mặt trận Bình-lệ-nguyên là Vũ-kỵ thượng tướng quân Lê Tần. Y là em ruột của chưởng môn phái Sài-sơn.

Triệt Triệt Đô cũng nghe nói qua về vụ này. Y hỏi :

– Nguồn gốc thuật kỵ mã của phái Sài-sơn do ai nghĩ ra ?

– Do tổ sư của phái là Phù-Đổng Thiên-vương chế ra cách đây 3 nghìn năm. Trải ba nghìn năm dài, các đời sau bổ xung, thêm thắt vào, nên thuật kỵ mã của phái này vô địch thiên hạ.

Để tỏ ra hiểu biết, Trịnh Ngọc thuật lại hành trạng Phù-Đổng Thiên-vương cho bọn Triệt Triệt Đô nghe.

Thình lình Hòa Khâm hét lên một tiếng, rồi run bần bật. Nhìn y, Triệt Triệt Đô giật bắn người lên:

– Cái gì? Dường như người bị trúng độc Liêu-Đông của tên mũ đỏ rồi hả?

Y quay lại hỏi Trịnh Ngọc:

– Trong các phái võ An-Nam, có phái nào biết xử dụng độc chưởng Liêu-Đông không?

– Không!

Hòa Khâm đau quá, y uốn cong người lại, tay chỉ vào Vương Huy. Vương Huy tỉnh ngộ:

– Chết rồi! Hồi nãy tôi phát chưởng tấn công tên mũ đỏ. Trong khi Hòa Khâm cũng tấn công y. Hai chưởng của chúng tôi chạm nhau.

Y móc trong bọc ra một viên thuốc, nhét vào miệng Hòa Khâm. Hòa Khâm vận công cho thuốc mau tan.

Sang giờ Mùi, thì Kỵ-mã phi tiễn báo với Triệt Triệt Đô, A Tan:

– Quân của phò mã đã vượt sông xong, đang chuẩn bị đánh vào hậu quân địch. Vậy xin hai tướng quân xuất binh ngay.

Đạo quân của A Tan đã chỉnh bị từ lâu. Y cầm cờ phất lên:

– Tiến!

Thiên-phu Lôi-kỵ vọt ngựa theo con đường dọc bờ sông. Phía sau, ba Thiên-phu Đại-lý nối đuôi nhau, rầm rộ tiến bước.

Đạo quân của Triệt Triệt Đô gồm có ba Thiên-phu Lôi-kỵ, mười Thiên-phu Đại-lý. Để giữ sức người, sức ngựa, y ra lệnh quân tiến từ từ. Khi thấy trận Việt hiện ra xa xa, y mới phất cờ. Lập tức Thiên-phu thứ nhất chia làm hai. Năm bách phu dàn hàng ngang, người hú lên rùng rợn, ngựa hý inh ỏi, rồi cùng lao tới. Lúc còn cách trận Việt ba chục trượng, tất cả cùng dương cung, buông tên. Trận Việt vẫn giữ nguyên, quân sĩ đưa khiên-mây lên hứng tên. Tên vừa bắn vào mộc, thì Lôi-kỵ đã tới sát phía trước, chúng phóng lao vào trận, rồi quay ngựa chạy về trận mình. Bấy giờ quân Việt mới dương cung bắn theo. Họ không bắn kỵ mã, mà bắn vào ngựa. Hơn trăm ngựa ngã lăn ra, vật kỵ mã xuống đất. Đám kỵ mã bỏ ngựa chạy theo quân mình. Đến đây, năm bách phu thứ nhì đã vọt ngựa tới, cũng dương cung bắn, phóng lao, rồi chạy. Quân Việt lại bắn ngựa. Hơn trăm kỵ mã ngã ngựa. Ky mã lại bỏ ngựa, chạy theo quân.

Triệt Triệt Đô đứng xa quan sát hai cuộc tấn công. Y kêu lên:

– Lạ thực. Chúng ta đã đánh hàng trăm trận, hàng mấy chục nước. Không đội quân nào chống trả được hai đợt xung phong. Tại sao bọn Việt lại biết cái kẽ hở của ta là: Lúc quân phóng lao rồi chạy, chúng chờ đợi sẵn rồi buông tên? Ta mất hơn hai trăm chiến mã rồi! Được! Ta cho tấn công hai đợt nữa.

Y cầm cờ phất. Lôi-kỵ thúc ngựa vọt lên, nhưng ngựa vừa sải được mấy bước thì ngã lăn ra, quật kỵ mã xuống đất. Biến cố xẩy ra đột ngột. Tuy kinh ngạc, nhưng là một tướng tài, Triệt Triệt Đô cho rằng ngựa quá mệt. Y ra lệnh cho Thiên-phu khác thay thế. Ngựa hý, kỵ mã rú rùng rợn rồi lao tới.  Triệt Triệt Đô cười sung sướng:

– Xem lần này trận Việt có giữ nổi không?

Y chợt để ý, thấy quân Việt đã lùi lại đến hơn trăm trượng. Lớp sóng Lôi-kỵ lao tới như núi lở, băng tan. Nhưng khi vừa nhập vào khu đất quân Việt lui, thì ngựa hý lên những tiếng thảm thiết, rồi con thì nhảy loạn hàng ngũ, con thì ngã lăn ra dẫy tê tê. Giữa lúc ấy, trận Việt mở ra. Một đội dũng sĩ, áo chẽn, tay cầm đoản đao xuông ra chém phầm phập. Loáng một cái, hơn năm trăm kỵ mã với ngựa bị giết. Thanh toán xong đám kỵ mã, các dũng sĩ Việt lùi trở về, cửa trận đóng lại như cũ.

Đứng quan sát, Triệt Triệt Đô kinh hãi:

– Chết rồi, năm bách phu của ta trúng bãi chông! Trời ơi! Quân Mông-cổ chuyên dùng lối lùi trận, lừa cho địch vào bãi chông, rồi giết. Tại sao bọn Việt cũng biết? Hơn nữa, chúng xử dụng thuật này tinh vi hơn ta. Chúng đợi Lôi-kỵ xung phong rồi, mới lùi lại . Ta có muốn ra lệnh thu quân cũng không kịp! Hà! Nhất định trong quân Việt có một tướng tài Mông-cổ. Y biết rất rõ chiến thuật của ta, y đưa ra phương pháp phá vỡ. Làm sao bây giờ?

Triệt Triệt Đô có hai Thiên-phu Lôi-kỵ, thì Thiên-phu thứ nhất mà y dẫn theo từ biên giới về đây, đã bị ngã ban nãy. Thiên-phu thứ nhì này Ngột-lương Hợp-thai mới cấp cho y, bây giờ bị thiệt hại một nửa. Y chỉ còn có năm Bách-phu thì làm gì?

Giữ lúc y kinh hoàng, thì viên quan phụ trách chữa ngựa báo:

– Thưa tướng quân. Chúng ta bị trúng kế giặc rồi. Cái tên Đỗ Thanh hôm qua trao thuốc cho ta, bảo sáng nay cho uống để trị tuyệt nọc trúng độc… Thực ra thuốc đó là thuốc độc, làm ngựa bị tê liệt bốn chân.

(Hết Hồi 46)

Share this post