Anh Hùng Đông A (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 30 (tiếp theo)

Anh Hùng Đông A (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 30 (tiếp theo)

HỒI THỨ BA MƯƠI
Đại bàng tung cánh

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

Hôm sau.
Đoàn người ngựa theo hướng Đông mà đi. Họ vượt qua hàng chục bộ tộc khác nhau, cho tới khi tới chỗ giáp giới với bộ tộc Nữ-chân, là nơi phát tích của người Kim mới dừng lại. Đây là khu vực đồn trú quân của Mông-cổ. Thiết Mộc Chân mời bọn Thủ-Huy vào trong căn soái lều, lại trao cho Di Cốc cung cấp lều trại, người chăn ngựa, lương thực cho đội võ sĩ Long-biên.
Mấy năm trước, trong lần thăm Mông-cổ, giữa Thủ-Huy với Tốc Bất Đài rất hợp chuyện. Nay nghe y bị trúng độc chưởng. Thủ-Huy xin được thăm y. Bác Nhĩ Truật dẫn Thủ-Huy, Đoan-Nghi sang lều của y. Cả lều vừa mở, hơi nóng từ trong tạt ra, làm mọi người phải lùi lại một bước. Tiếp theo tiếng rên siết của Tốc vọng ra. Một người đàn bà nước da tươi hồng mở cửa chào khách. Bà ta nói với Bác Nhĩ Truật:
– Chồng tôi bị trúng độc gần giống như bác hồi xưa. Ông ấy cố vận công chống lạnh, nhưng cũng không chịu nổi. Tôi đã cho đốt củi xung quanh chỗ anh ấy ngồi, mà anh ấy vẫn còn lạnh.
Thủ-Huy biết đây là bà vợ Tốc Bất Đài. Bác Nhĩ Truật giới thiệu Thủ-Huy, Đoan-Nghi, Thúy-Thúy với người đàn bà, rồi nói:
– Quý khách trước đây có giao tình với anh nhà. Nên muốn thăm anh ấy.
Tốc Bất Đài ngồi trên phiến gỗ vận công, xung quanh có đến bốn cái lò sưởi, củi bốc lửa sáng rực, nhưng cái lạnh vẫn làm y run run. Dù y nhận ra Thủ-Huy, Đoan-Nghi, nhưng chỉ gật đầu chào chứ không nói lên lời. Chỉ thoáng nhìn thấy tình trạng Tốc Bất Đài, Thủ-Huy đã biết y bị trúng Huyền-âm chưởng của phái Trường-bạch. Công hỏi:
– Hỏa-liệp đại-lang vương! Huynh có biết căn cước của kẻ đánh huynh không?
– Nó… Nó xưng tên là Mã Khắc Khiêm. Công lực của nó thực phi phàm hơi giống nội công Đông-a của phò mã, lại pha lẫn một thứ nội công cực kỳ bá đạo. Thực trên đời tôi chưa hề thấy ai có công lực mạnh như vậy!
Thủ-Huy bắt mạch Tốc Bất Đài xong, công gọi vợ:
– Em thử xem mạch Đại-lang vương xem!
Đoan-Nghi nắm lấy cổ tay Tốc, rồi nàng ngơ ngẩn xuất thần nhìn chồng:
– Kẻ địch đã dùng nội công Đông-a nhà ta pha lẫn nội công phái Trường-bạch. Chỉ y… mới có hai thứ nội công này mà thôi.
– Anh cũng nghĩ vậy. Có là y…
Thiết Mộc Chân cũng đã vào trong lều:
– Nhị vị tìm ra căn cước tên Mã Khắc Khiêm rồi à?
Thủ-Huy trả lời:
– Tôi không chắc lắm. Có một đại ma đầu học được võ công của nhà tôi, rồi lại luyện Huyền-âm nội lực của phái Trường-bạch. Y đã tuyệt tích hơn mười năm ở Đại-Việt. Không lẽ y lại lên đây?
Nói rồi công thuật chi tiết gốc tích Mao Khiêm cho mọi người nghe. Gia Luật Mễ bàn:
– Có thể là y! Bởi sau khi y rời Đại-Việt về Tống. Tống đế phong chức tước, rồi sai y trợ chiến cho Khắc-liệt.
Thiết Mộc Chân kinh hãi:
– Bản lĩnh của y so với phò mã ra sao?
– Y ngang vai với ông nội tôi. Cách đây hơn mười năm thì võ công của y bỏ xa tôi. Bây giờ thì tôi không biết.
– Nếu đúng là y, thì phò mã có thể hút độc tố cứu Đại-lang vương không?
Nói dứt Thiết Mộc Chân chắp tay vái Thủ-Huy:
– Ngôi Đại-hãn tôi có thể bỏ, nhưng nghĩa đệ Tốc Bất Đài của tôi thì muôn ngàn lần tôi không thể để y chết được. Bằng mọi giá, tôi xin phò mã cứu y.
Thủ-Huy cảm động:
– Tôi không chắc. Nhưng ta cứ thử xem!
Nói rồi Thủ-Huy hít một hơi, để bàn tay lên huyệt Bách-hội của Tốc, rồi vận công hút. Không đầy năm tiếng đập tim, Tốc Bất Đài đã cảm thấy cái lạnh giảm đi quá nửa. Y lên tiếng:
– Kỳ diệu!
Thủ-Huy biết đã có kết quả, tiếp tục hút một khắc nữa, thì cảm thấy người hơi lạnh, công vội ngừng lại, ngồi nhắm mắt điều tức để đẩy độc tố ra khỏi bàn tay. Còn Tốc Bất Đài thì cảm thấy chỉ còn hơi lạnh mà thôi. Y rùng mình đứng dậy, chắp tay hướng Thủ-Huy:
– Đa tạ phò mã đã cứu mạng.
Phải hơn một khắc Thủ-Huy mới đẩy hết chất độc ra khỏi bàn tay. Công rùng mình:
– Huyền-âm độc thực khủng khiếp. Theo như di thư của tổ tiên tôi để lại, thì ai trúng phải chưởng này thì một là có thuốc giải của bọn Trường-bạch, mà phải uống trong 49 ngày liền. Còn như người luyện Huyền-âm công đến trình độ tối cao, thì có thể hút độc tố cứu người. Nhưng phải hút ba ngày liền. Vậy tôi phải hút hai lần nữa Đại-lang vương mới khỏi hẳn.
Tốc Bất Đài chửi tục:
– Tổ bà nó! Không ngờ bọn Tống khả ố lại ngầm giúp Tang Côn. Chúng ta bị bất ngờ. Cái tên Kim Du Linh kiếm thuật thực thần thông. Nhị đệ kiếm thuật là thế, mà bị bại dưới tay nó. Suốt thời gian qua chúng tung hoành, không coi chúng tôi ra gì. Tướng sĩ của chúng tôi không ai đương nổi ba tên Tống khả ố. May sao công chúa bắt được y. Ta phải thẩm vấn y để biết rõ tình hình.
Đến đó thân binh báo:
– Tổng Đạo-sư Cốc Chu cùng ba Tổng Đạo-sư Thát Minh, Miệt Hác, Ngột Thai dẫn các tiểu Đạo-sư đã tìm về.
Thiết Mộc Chân vội cùng chư tướng, Đại-hãn các bộ tộc cùng ra đón. Thủ-Huy phóng mắt nhìn về phía xa xa, dân chúng, các tộc trưởng, tướng sĩ, các Hãn, Khả-hãn đứng hai bên đường cúi rạp người xuống chào đón bốn người đang đi ngựa phía trước. Phía sau có hơn năm trăm tùy tùng cỡi ngựa cờ xí ngất trời.
Bác Nhĩ Truật nói nhỏ với Thủ-Huy:
– Gã cỡi ngựa đi đầu là Cốc Chu, ba gã đi phía sau là ba em gã. Còn đám tùy tùng toàn là tiểu Đạo-sư. Trong trận chiến kinh hoàng vừa rồi, không hiểu chúng trốn đâu, bây giờ mới chui ra.
Mặc mọi người rạp người chào, Cốc Chu cùng ba em sóng vai với Thiết Mộc Chân cùng các tướng vào căn soái lều, rồi truyền giải tù binh vào. Thiết Mộc Chân giới thiệu Thủ-Huy, Đoan-Nghi, Thúy-Thúy, Tử-Kim với Cốc Chu. Y lãnh đạm gật đầu, rồi ngồi vào ghế ngang với Thiết Mộc Chân.
Kim Du Linh cùng ba võ sĩ Tống bị điệu tới. Chúng đứng sững, tỏ vẻ quật cường. Vừa trông thấy bọn võ sĩ Tống, Thúy-Thúy bật rùng mình, mặt tái xanh. Thủ-Huy kinh ngạc, công dùng lăng không truyền ngữ hỏi nàng:
– Thúy-Thúy! Có gì bất ổn không?
Thúy-Thúy như không nghe tiếng Thủ-Huy hỏi, hai mắt nàng dán vào Kim Du Linh.
Trong ba võ sĩ Tống, thì một tên cao mà gầy, một tên béo tròn, còn một tên thì nhỏ bé. Thủ-Huy nhận ngay ra rằng Kim Du Linh với tên võ sĩ nhỏ bé là đàn bà. Công dùng Lăng-không truyền ngữ rót vào tai Bác Nhĩ Truật. Bác Nhĩ Truật mỉm cười gật đầu tỏ ý nắm vững vấn đề. Ông quát bằng tiếng Trung-quốc:
– Quỳ gối!
Kim Du Linh mỉm cười tỏ vẻ quật cường, không trả lời. Trong khi tên béo tròn cười nhạt:
– Sĩ khả dĩ sát, bất khả dĩ nhục. (Kẻ sĩ có thể giết, chứ không thể làm nhục).
Thấy Bác Nhĩ Truật định lấy hình cụ tra khảo. Thủ-Huy lại dùng Lăng-không truyền ngữ nói vào tai ông: “Dùng hình cụ đối với bọn này e vô dụng. Tứ-lang vương phải làm như thế…như thế…”
Bác Nhĩ Truật tỉnh ngộ, ông ta cười ha hả:
– Khá lắm ! Người là kẻ sĩ, ta trọng khí phách của người.
Nói rồi ông rút kiếm, tay vung lên, dây trói gã béo tròn đứt hết. Ông chỉ vào cái ghế , tay rót một bát rượu đưa cho gã:
– Người hãy ngồi đó đi, và uống bát rượu này. Rồi trả lời cho ta mấy câu hỏi.
Gã béo tròn bưng bát rượu uống một hơi hết sạch, rồi ngang nhiên ngồi xuống:
– Người hỏi gì?
– Người cho ta biết tên họ, cùng chức tước.
– Ta không phục bọn mi. Ta không nói.
– Phải thế nào người mới phục?
– Ta là thần tử Tống triều, không khuất phục bọn rợ Hung-nô các ngươi.
– Phải thế nào người mới phục?
– Chúa người nhận sắc phong Bắc-cường chiêu-thảo sứ của bọn rợ Kim, thì sao còn ngửa mặt nhìn ai? Nếu như chúa người quy phục Tống Thiên-tử, nhận sắc phong, thì ta mới coi người là đồng liêu. Bấy giờ người không cần hỏi ta cũng nói.
Thủ-Huy dùng lăng không truyền ngữ nói vào tai Bác Nhĩ Truật mấy câu. Bác Nhĩ Truật cười:
– Thôi được. Ta tha các người về với Khắc-liệt. Nhưng có điều khi người ra khỏi đây, thì quân sĩ của ta sẽ nhận lầm người là tế tác, họ sẽ giết chết người. Vậy thì như thế này… Ta sẽ khắc lên mặt mi hình hai con heo mập, như vậy quân sĩ ta mới cho người đi.
Ông phóng tay điểm vào huyệt Đại-trùy của y, lập tức người y cứng đơ. Nhanh như chớp, Gia Luật Mễ rút kiếm khỏi vỏ, ánh thép lóe lên, mặt tên võ sĩ Tống đã bị khắc hình hai con heo mập hai bên má. Máu chảy ròng ròng nhưng y vẫn quật cường, nhìn mọi người với con mắt khinh bỉ.
Đoan-Thanh lấy thuốc rịt vết thương rồi giải huyệt cho y, dẫn y ra ngoài.
Bác Nhĩ Truật hỏi tên võ sĩ cao mà gầy:
– Còn người?
– Mi cứ khắc hình vào mặt ta đi. Ta mà có nhăn mặt một cái thì không phải là Hán tử đại trượng phu.
– Được!
Gia Luật Mễ lại vung kiếm lên, lần này mặt tên võ sĩ Tống bị khắc vào hình con chó chổng mông đang ỉa! Đoan-Thanh lại rịt thuốc, dẫn y ra ngoài.
Bác Nhĩ Truật hỏi tên võ sĩ bé nhỏ:
– Còn người! Dù người đã cải trang, nhưng ta cũng biết người là gái. Ta không khắc hình lên má người, mà lột quần áo người, để lộ cái mả tổ tên vua Tống ra xem nó to, hay nhỏ?
Thủ-Huy rút kiếm, công ra một chiêu trong Hoa-sơn kiếm pháp. Ánh thép lóe lên như muôn nghìn tia sáng bao phủ quanh người tên võ sĩ nhỏ bé. Lập tức quần áo trên người y bị khoét hằng trăm lỗ tròn trịa. Trong căn lều bật lên nhiều tiếng kêu. Kim Du Linh thì bật ra tiếng “ủa” kinh ngạc. Đám võ sĩ Mông-cổ thì vỗ tay hoan hô.
Nhìn thân thể tên võ sĩ nhỏ bé, bất giác Đoan-Nghi đưa mắt nhìn Thúy-Thúy. Trong khi Thúy-Thúy thẹn thùng cúi mặt xuống. Bởi đây chính là chiêu kiếm Thủ-Huy đã dùng để khống chế Thúy-Thúy mấy năm trước tại Đông-cung.
Kim Du Linh hỏi Thủ-Huy bằng tiếng Hàng-châu:
– Coi phong thái các hạ, thì dường như các hạ là người Hán thì phải. Các hạ lại biết xử dụng Hoa-sơn kiếm pháp đến chỗ tinh diệu. Vậy các hạ là đệ tử của cao nhân nào trong bản phái? Là đệ tử danh môn chính phái, tại sao các hạ lại khuất thân làm tôi tớ cho bọn Hung-nô?
Thủ-Huy cũng đáp lại bằng tiếng Hàng-châu:
– Tại hạ không phải là người Hán, cũng chẳng phải đệ tử của Hoa-sơn. Tại hạ lại cũng không phải là bộ hạ của Đại-hãn Mông-cổ. Tại hạ là khách của Đại-hãn mà thôi.
Thủ-Huy lại vung kiếm lên, như định cắt hết y phục của tên võ sĩ nhỏ bé. Tên võ sĩ nhỏ bé thét lên đầy kinh hoàng:
– Bọn Hung-nô khả ố kia! Mi giết ta đi chứ đừng làm nhục ta thế này!
Bác Nhĩ Truật cười ha hả:
– Ta không giết người! Nếu người chưa khuất phục, thì người bạn ta sẽ ra một chiêu nữa, bấy giờ quần áo cả người không còn mảnh nào trên thân thể. Rồi…
Ông ta chỉ vào một tên cận vệ Mông-cổ to lớn, râu tóc, lông lá rậm rạp:
– Ta sẽ giao người cho gã này, y đem người dẫn đi khắp nơi cho quân sĩ coi.
Tên võ sĩ nhỏ bé cúi đầu xuống:
– Tôi khuất phục. Tôi xin khai!
Bác Nhĩ Truật phất tay, lập tức Di Cốc đem y sang lều bên cạnh lấy cung. Ông ta hỏi Kim Du Linh:
– Còn người! Dù người cải trang, dù người cố giả giọng đàn ông, ta cũng biết người là đàn bà. Nếu người không khuất phục, thì ta sẽ gọt hết tóc người, rồi lột quần áo, đem đi khắp các trại cho binh sĩ giải trí.
Kim Du Linh kinh hoàng, mụ nghĩ thầm: Bọn rợ này nói được thì chúng làm được. Ta phải làm sao đây. Mụ quát:
– Quân mọi rợ mặt dầy. Người giết ta đi cho rồi.
– Ta không giết người mà chỉ lột trần truồng người ra mà thôi. Người có chịu khuất phục không?
– Ta không khuất phục.
– Vậy thì được!
Bác Nhĩ Truật vẫy tay ra lệnh cho Đoan-Thanh.
Đoan-Thanh đứng lên. Nàng dùng khăn lau mặt Du Linh, lại bóc ba miếng da trên má, trán của y, lập tức khuôn mặt sần sùi tròn trịa, hiện ra một khuôn trái soan cực kỳ xinh đẹp. Thủ-Huy, Đoan-Nghi, Thúy-Thúy cùng bật lên tiếng “ái chà” đầy kinh ngạc, đầy thương cảm. Bởi Kim Du Linh chính là Giai-phi Chế-bì La-bút, khuê danh Hàn Dũ Linh, quản lĩnh ngọn núi Mao-nữ của phái Hoa-sơn.
Thủ-Huy nghĩ rất nhanh: Dù Hàn Dũ Linh đã phản Đại-Việt, làm hại Đại-Việt trong quá khứ. Nhưng việc của bà làm chẳng qua cũng vì Tống. Ai vì nước ấy. Trước đây không thiếu gì anh hùng Đại-Việt, làm quan với Trung-quốc, nhưng luôn luôn ám trợ Đại-Việt. Thời vua Trưng có Mã Vũ, Chu Tường-Quy, Lương Tùng. Gần đây nhất là tổ Trần Tự-Mai của Thủ-Huy, tuy chức tới Thái-sư, được làm phò mã, tước tới Kinh-Nam vương của Tống triều, mà luôn luôn làm lợi cho Đại-Việt. Đồng thời với Kinh-Nam vương còn có Trần Phụ-Quốc làm lĩnh Đô-đốc Tương-giang Động-đình, sau lên tới Phụ-quốc đại tướng quân, tổng lĩnh Ngự-lâm quân; Trần Trung-Đạo, lĩnh Kinh-châu Tư-mã, sau lên tới Phiêu-kị đai tướng quân, tổng lĩnh Thị-vệ. Bà này là người Tống, thì việc bà làm hại Đại-Việt, làm lợi cho Tống, ta không nên trách bà. Ta phải cứu bà. Huống hồ, Hàn Dũ Linh lại là người mà phụ hoàng Anh-tông cực kỳ sủng ái.
Thủ-Huy tiến lên, xoa tay vào mặt, nào râu, nào đất hóa trang rơi xuống lả tả. Công bấu tay một cái, dây trói của bà đứt hết. Công cùng Đoan-Nghi hành đại lễ:
– Thần nhi Đoan-Nghi, Thủ-Huy xin kính cẩn bái kiến Thái-phi.
Thúy-Thúy cũng hành đại lễ:
– Đệ tử Vương Thúy-Thúy xin ra mắt sư thúc.
Tuy hơi ngạc nhiên trước biến cố, song là đại anh hùng, Thiết Mộc Chân vốn có cái đại lượng. Ông truyền lấy ghế mời Hàn Dũ Linh ngồi. Thủ-Huy tóm lược những biến cố của Đại-Việt, cùng tiểu sử Hàn Dũ-Linh cho Thiết Mộc Chân nghe.
Hàn Dũ Linh tuyệt không ngờ lại gặp Thủ-Huy, Đoan-Nghi trên vùng thảo nguyên xa xôi này. Nước mắt dàn dụa, bà cầm tay Đoan-Nghi:
– Công-chúa! Phò-mã! Ta không còn là Giai-phi từ lâu rồi. Ta là tội nhân của Đại-Việt. Bây giờ lại là tội nhân của Mông-cổ. Xin phò mã, công chúa đừng gọi ta là phi nữa. Gọi như vậy chỉ thêm cho ta đau lòng vì ân hận.
Đoan-Nghi vẫn lễ phép:
– Thái-phi dạy vậy, nhưng Thái-phi là người mà phụ hoàng sủng ái. Muôn ngàn lần thần nhi cũng không dám…
– Thôi thì thế này! Công chúa, phò mã cứ gọi ta là cô, là dì… ta yêu lối xưng hô đó của ngôn ngữ Việt lắm.
Bà lắc đầu:
– Khi đối chiêu với Đoan-Nghi, ta thấy kiếm pháp đối thủ quá tinh diệu, quá kỳ ảo, thì cứ nghĩ rằng đó là Thiên-sơn kiếm pháp, không bao giờ nghĩ là Mê-linh kiếm. Ta ở Đại-Việt có gần hai chục năm, từng thấy Đoan-Nghi xử dụng một lần tại cung Long-hoa, nhưng trong lúc hoảng hốt ta quên mất. Ta bị Đoan-Nghi đánh rơi kiếm, mà cứ tự hỏi tại sao lại có người Mông-cổ võ công cao như thế này? Bây giờ mới vỡ lẽ.
Bà thở dài:
– Ta là tội nhân của Đại-Việt, bây giờ là tội nhân của Mông-cổ! Từ ngày rời Đại-Việt về Tống, ta như người mù được mở mắt. Tống triều không hề biết đến công lao của ta. Họ thí cho ta một tờ giấy, phong làm Mao-Nữ tiên tử, ăn lộc của một công chúa. Tống triều truyền gả ta cho một viên hàng tướng người Kim. Ta không thuận, thì họ kết tội ta vi chỉ, thu hồi tước công chúa của ta, bắt ta phải lên núi Mao-nữ làm đạo cô. Môn phái không hề biết đến những cay đắng của ta. Họ không cho ta luyện Vô-trung kinh. Hỡi ơi! Trong khi đó mỗi khi nghĩ đến Đại-Việt đãi ngộ ta quá hậu. Tiên đế sủng ái ta cùng cực. Thế mà ta không báo đáp Đại-Việt, lại phụ lòng tiên đế. Ta thực không bằng thú vật.
Đoan-Nghi để cho bà khóc một lát, nàng mới hỏi:
– Thế còn số phận của đạo sư Lạc-nhạn Vương Cương-Trung, đạo cô Vân-đài Trịnh Nam-Phương?
Hàn Dũ Linh biết Đoan-Nghi là người ôn nhu, văn nhã, nên dù Vương Cương Trung làm gian tế hại Đại-Việt, dù Trịnh Nam-Phương đã được phong nhất phẩm phu nhân, làm vợ tể tướng, mà vẫn đâm sau lưng triều Lý, nàng vẫn dùng lời lẽ ôn tồn. Bà cúi mặt xuống, buồn rầu:
– Vương sư huynh bị triều đình kết đủ thứ tội, bị lột hết chức tước, đuổi về dân dã. Nhờ các võ quan can gián mãi, mới được ân xá, bắt phải lên vùng Thảo-nguyên giúp Mao Khiêm, thống nhất Thảo-nguyên thành một nước, do y làm vua.
Thiết Mộc Chân cắt ngang:
– Thưa Thái-phi, như Thái-phi nói, thì Vương được toàn quyền muốn giúp ai thì giúp. Tống triều không bắt buộc y phải giúp Khắc-liệt đánh Mông-cổ?
– Không hẳn thế. Hơn mười năm trước, Tống triều phong cho Mao Khiêm làm Bắc-cương Khâm-minh đại vương, truyền y mang một số đệ tử lên bình định vùng Thảo- nguyên. Nhưng mười năm qua, y vẫn chưa thành công. Vì vậy triều đình sai Vương sư huynh dẫn chúng tôi lên đây giúp y, thì y đang sống với Khả-hãn Trác Mộc Hợp. Rồi cái thế nó xẩy ra, Trác Mộc Hợp giúp Tang Côn, thì chúng tôi giúp Tang Côn. Tang Côn hứa rằng, khi diệt xong Mông-cổ, y sẽ lấy đất Thát-đát phong cho Trác Mộc Hợp, lấy đất Mông-cổ phong cho Mao Khiêm. Tất cả các nước Khắc-liệt Mông-cổ, Thát-đát đều thần phục Tống, đánh sau lưng Kim. Nhưng khi chúng tôi giúp y một thời gian mới biết rằng y xảo quyệt, vì y sai sứ sang Kim, xin Kim phong cho y kế tục cha làm Vương-hãn!
– À thì ra thế.
Thủ-Huy hỏi:
– Thưa Thái-phi, thế còn Trịnh Nam-Phương?
– Còn sư tỷ thì cũng được phong tước công chúa, truyền gả cho một động chủ gốc Nùng ở Bắc-cương, với mục đích khuyến dụ y phản Việt theo Tống. Sư tỷ cương quyết từ chối. Người cũng chịu chung số phận của ta, bị mất tước công chúa, truyền phải làm đạo cô ở núi Vân-đài. Môn phái cũng không cho luyện Vô-trung kinh.
Bác Nhĩ Truật hỏi:
– Thưa Thái-phi thế đoàn võ sĩ Tống sang giúp Mao Khiêm gồm có những ai?
– Người cầm đầu chính Vương sư huynh với ta, và hơn ba trăm đệ tử.
Thủ-Huy kinh hãi bật lên tiếng “ái chà”.
– Có phải Mao Khiêm là Mã Khắc Khiêm. Còn Mạc Hiển Trung là Vương Cương-Trung không?
– Đúng vậy.
Thúy-Thúy hỏi:
– Sư thúc! Thế sư phụ cháu hiện có mặt ở thảo nguyên không?
– Không! Sư tỷ được phái trở về Đại-Việt cùng với Từ Thụy-Hương cách đây không lâu.
Thủ-Huy kinh hãi:
– Tâu Thái-phi, Tuyên-phi đã tự tử tại Long-hoa đường rồi mà!
Hàn Dũ-Linh cười khổ sở:
– Phò mã bị Thụy-Hương đánh lừa đã đành, mà đến Côi-sơn song ưng tinh minh đến thế mà cũng bị nó đánh lừa. Khi biết sự khó thành, nó đã độn dưới ngực một túi máu gà, với một củ chuối cắt vuông vức…
Đoan-Nghi rùng mình:
– Hôm ấy Tuyên-phi cầm dao đâm vào ngực máu ra lênh láng, thần nhi thấy sắc mặt phi vẫn tươi, thì có hơi nghi nghi. Bây giờ mới vỡ lẽ. Thủa nhỏ, phi được mẫu thân thần trọng đãi. Khi lớn lên, anh Long-Xưởng, rồi thần nhi dành cho những ưu ái không ai có thể sánh. Khi nhập Hoàng-thành, phụ hoàng cực kỳ sủng ái… Thế mà phi đáp lại bằng tất cả mánh lới xảo quyệt. Sự đã như thế này, Thái-phi chẳng cần dấu diếm làm gì nữa! Thái-phi cho thần nhi biết Tuyên-phi với Trịnh Nam-Phương trở lại Đại-Việt với mục đích gì?
– Hai người đó trở về Tống, đã không được trọng dụng, mà còn bị nghi ngờ. Trịnh sư tỷ vẫn không quên được mối thâm tình của Đỗ An-Di. Thụy-Hương vẫn ngày đêm tưởng nhớ đến Thủ-Huy, tưởng nhớ đến Long-Trát. Một người thì sang Đại-Việt từ nhỏ, một người thì sinh trưởng ở Đại-Việt. Bây giờ trở về Tống. Thân thích, họ hàng đều nhìn chúng ta với con mắt tò mò, nghi nghờ. Một điều nữa Đoan-Nghi không thể nào hiểu được chúng ta. Điều đó là, chúng ta sống ở Đại-Việt từ nhỏ, gắn bó yêu thương vơí khí hậu, phong tục, cỏ cây, nước uống, thức ăn. Nay trở về Trung-nguyên, cái gì cũng lạ, khiến chúng ta bỡ ngỡ, chán nản, lại thêm cái cô đơn nữa… chúng ta nhớ Đại-Việt, giống như một người tha hương.
Thủ-Huy không giữ được bình tĩnh, công hỏi:
– Thưa Thái-phi, khi về Tống, Thụy-Hương có bị bạc đãi như Thái-phi với Vương Cương-Trung, Trịnh-Nam phương không?
– Không! Bởi công lao Thụy-Hương quá lớn. Vả lại họ biết Thụy-Hương được Hoàng-thượng, Long-Xưởng với phò mã sủng ái, hơn nữa con Thụy-Hương là Long-Trát được phong Thái-tử; cho nên họ hậu đãi Thụy-Hương, để khi có dịp còn dùng đến. Thụy-Hương được phong công chúa, được hưởng lộc một nghìn mẫu ruộng. Khi nghe tin Hoàng thượng băng hà, Thụy-Hương công khai cư tang, đòi trở về Đại-Việt buông màn thính chính, phò tá Long-Trát. Tuy Tống triều không cho, nhưng Thụy-Hương cứ cư tang mà bọn mặt dơi tai chuột tại Tống triều cũng không dám nói gì. Hồi Khu-mật viện Tống nghe tin Tô Hiến-Thành hoăng, Đỗ An-Di nắm trọng quyền, bấy giờ họ mới đồng ý cho Thụy-Hương cùng Trịnh sư tỷ âm thầm về Đại-Việt. Từ ngày đó đến giờ, ta bị gửi lên giúp Mao Khiêm, nên không tin tức gì về họ, cũng như Đại-Việt.
Nghe Dũ-Linh thuật, Thủ-Huy kinh hãi đến phát lạnh, công rùng mình nghĩ thầm:
– Hỡi ơi! Bấy giờ mình nắm trọng quyền, trực tiếp điều động Khu-mật viện, mà sao bọn gian tế Tống vào trong nước mình không biết gì? Không biết khi Hàn Dũ-Linh, Thụy-Hương trở lại, thì Đỗ An-Di, Mạc Hiện-Tích đã bị Côi-sơn song ưng giết rồi hay chưa bị giết? Nếu họ trở lại khi Đỗ, Mạc bị giết, thì không biết họ sẽ làm những gì? Nếu như họ trở lại lâu rồi, ẩn trong Hoàng-thành. Không biết việc nội loạn của Long-Xưởng, việc cả nhà Long-Xưởng bị giết, việc ta bị đẩy sang Tống, việc cả nhà Đỗ An-Di với Mạc Hiển-Tích có do bàn tay hai người này nhúng vào không?
Thấy Thủ-Huy thừ mặt ra, Hàn Dũ-Linh hỏi:
– Phò mã có thể cho ta biết rõ tình hình Đại-Việt từ hồi đó đến giờ ra sao không?
Thủ-Huy tóm lược mọi biến cố, thuật lại một lượt, rồi kết luận:
– Từ khi cáo quan về điền dã, thần nhi không lý gì tới việc triều đình. Long-Trát, Long-Ích, Long-Tường hay thằn lằn, rắn mối, lươn trạch làm vua thì cũng thế thôi.
Đoan-Nghi “hừ” một tiếng, tỏ vẻ bất mãn. Thủ-Huy biết thế, nhưng uất khí chưa tan, công nhìn vợ định nói nữa. Biết thế, Dũ-Linh đưa hai người ra khỏi lò lửa:
– Bây giờ phò mã, công chúa định xử ta như thế nào đây?
Thủ-Huy phân giải:
– Thần nhi không có quyền gì cả! Nhà có chủ, nước có vua. Xin thái phi cứ hỏi Đại-hãn.
Thiết Mộc Chân hỏi ngược lại Dũ-Linh:
– Bỏ ra ngoài việc Thái-phi là thần tử Tống triều. Thái-phi bình tâm mà xét xem, giữa tôi với Tang Côn, ai phải, ai trái?
– Dĩ nhiên Đại-hãn phải, mà Tang Côn trái.
– Còn giữa tôi với Vương-hãn?
– Nếu nói theo Nho-gia, ai quy tụ được nhân tâm, làm cho dân hạnh phúc thì Đại-hãn xứng đáng làm vua vùng Thảo-nguyên.
Thiết Mộc Chân đứng lên chắp tay:
– Như Thái phi thấy, muốn được làm tộc trưởng thì phải là người sinh trưởng ở gia đình quý tộc. Muốn làm Hãn một bộ tộc thì phải từ các tộc trưởng mà lên. Muốn làm Khả-hãn, thì phải từ các Hãn mà lên. Muốn làm Đại-hãn thì phải từ Khả-hãn mà lên. Mao Khiêm là người nửa Hán, nửa Việt mà muốn làm Đại-hãn thì e còn khó hơn bắc thang lên trời. Vương Cương-Trung muốn giúp Mao Khiêm làm Khã-hãn thì như người Việt nói, giống dã tràng xe cát biển đông! Còn như Vương muốn giúp Vương-hãn tiêu diệt tôi, để tỉa vây cánh của Kim. Khi tôi bị diệt rồi, thì Tang Côn sẽ cúi đầu quy phục Kim, để được kế vị cha làm Vương-hãn. Còn tôi, tôi nhận cái tước Bắc-cường chiêu thảo sứ đã lâu, mà giữa tôi với Kim không hề qua lại. Hơn nữa, còn có mối thâm thù nữa là khác. Chắc Thái-phi biết mối thâm thù đó do đâu mà ra rồi.
– Tôi biết! Bởi hồi ấy Trần phò mã đi sứ Kim về có tâu lại với Tiên-đế vụ Tang Côn muốn dùng võ sĩ Kim giết Tứ-liệp lang ương mà không thành. Sau đó Kim-cương Tứ-liệp vương có sang kết hiếu với Đại-Việt. Cũng vì nghi ngờ Tang Côn mà trước khi diễn ra trận đánh cách đây mấy hôm, sư huynh Vương Cương-Trung cũng đã nhận ra bộ mặt giả trá của Tang Côn. Theo ý Vương sư huynh, nếu diệt được Đại-hãn rồi, thì Tang Côn sẽ trở mặt. Vì vậy người đặt vấn đề với y là y phải thực hiện hai điều. Một là gửi sứ sang cự tuyệt với Kim. Hai là gửi sứ sang thần phục Tống triều. Y lấy lý rằng đường sang Kim phải qua lãnh thổ Mông-cổ, vậy chỉ có thể gửi sứ sang thần phục Tống. Còn việc tuyệt giao với Kim hãy đợi khi diệt xong Mông-cổ thì thực hiện được. Vì vậy Vương sư huynh bàn riêng với chúng tôi, khi lâm chiến không nên sát hại Đại-hãn cùng các tướng Mông-cổ. Khi mà Đại-hãn với các tướng còn thì Khắc-liệt không yên. Chúng tôi mới ép Tang Côn được.
Thiết Mộc Chân đứng lên vái Dũ-Linh ba vái:
– Bây giờ các vị giúp Khắc-liệt diệt Mông-cổ. Khi Mông-cổ bị diệt rồi, thì Tang Côn sẽ không ngần ngại gì mà trở mặt vơí Tống. Còn như bây giờ Mông-cổ đang gặp cái nguy diệt quốc, mà các vị giúp Mông-cổ, thì trên từ tôi, cho tới người cùng dân đều thâm cảm, mà hướng về Tống. Vậy tôi xin Thái-phi trở về thuyết phục sư huynh Vương Cương-Trung bỏ Mao Khiêm quay kiếm giúp chúng tôi, thì Tống có một chư hầu trung thành ở ngay cạnh Kim. Không biết Thái-phi nghĩ sao?
Dũ-Linh mỉm cười, bà liếc nhìn Thủ-Huy, Đoan-Nghi:
– Chả cần chúng tôi trở kiếm giúp Đại-hãn, nếu như Đại-hãn được phò mã với công chúa trợ giúp thì nếu không thắng Khắc-liệt, cũng có thể giữ vững Mông-cổ. Tuy nhiên thịnh ý của Đại-hãn muốn quy phục Tống triều, tôi sẽ bàn với sư huynh Vương Cương-Trung, rồi trả lời Đại-hãn sau.
– Vậy tôi xin tiễn Thái-phi trở về bên Khắc-liệt. Bây giờ trời đã tối. Chúng tôi xin mời Thái-phi lưu lại đây, sáng mai sẽ lên đường.
Thiết Mộc Chân nhờ vợ chồng Đoan-Thanh tiếp đãi Dũ-Linh cùng ba đệ tử phái Hoa-sơn. Còn riêng ông với chư tướng tiếp đãi Thủ-Huy, Đoan-Nghi.
Bác Nhĩ Truật hỏi Thiết Mộc Chân:
– Cứ như Đại-hãn nghĩ, liệu khi bà Hàn Dũ-Linh ngỏ ý của ta, thì Vương Cương-Trung có nghe theo không?
– Bọn họ nghe cũng được, mà không nghe cũng chẳng sao! Vụ việc Tống triều phong cho Mao Khiêm làm Bắc-cương Khâm-minh đại vương là muốn tống y rời khỏi Tống mà thôi. Ta không cần xét tới y. Vương Cương-Trung mới quan trọng. Nay trời đã đem phò mã, công chúa đến giúp Mông-cổ! Chúng ta không sợ bọn Tống nữa.
Tốc Bất Đài kinh ngạc:
– Ý huynh trưởng muốn nói?
– Tin tế tác cho biết, khi Tống triều sai Vương Cương-Trung lên vùng Thảo-nguyên với chỉ dụ rõ ràng: “Muốn giúp bộ tộc nào cũng được. Miễn sao bộ tộc đó là một mối lo cho Kim”. Tin này hợp với lời khai của Hàn Dũ-Linh: Khi Vương lên đây, thì y quen với Trác Mộc Hợp, rồi đưa tới việc y giúp Khắc-liệt. Vì vậy giữa Tang Côn với Vương Cương-Trung không có những ràng buộc chắc chắn. Tôi nghĩ, bây giờ chúng ta để Hàn trở về Khắc-liệt, bà ngỏ thiện ý của ta thì không chừng Vương Cương-Trung đổi ý, quay kiếm lại giúp ta, chống Tang Côn thì là điều thống khoái kim cổ. Còn như Vương không đổi ý, thì trong nội bộ đám võ sĩ Tống cũng có sự rạn nứt, nghi ngờ lẫn nhau. Ví dù hai trường hợp trên không xẩy ra, thì Tang Côn thấy Hàn bị bắt, rồi lại biết rằng Hàn là Thái-phi, là vai trên của phò mã, công chúa, là sư thúc của Vân-đài tiên tử Thúy-Thúy… đang ở bên Mông-cổ, tất y nghi ngờ bọn Tống. Ta cần có một vài hành động khiến cho mối nghi ngờ sâu thêm nữa là giữa võ sĩ Tống với Tang Côn chém giết nhau ngay. Qua lời tiết lộ của Dũ-Linh, thì đám võ sĩ Tống không muốn ta bị diệt. Như vậy ta an tâm ẩn vào các bộ tộc miền Đông, chiêu binh chờ ngày phục hận.
Ông hỏi Thủ-Huy:
– Trần huynh đệ! Nếu huynh đệ ở vào trường hợp ta, thì huynh đệ sẽ làm thế nào để phục hồi cố thổ?
Thủ-Huy biết Thiết Mộc Chân vấn kế mình thực, chứ không khách sáo. Công ngồi ngay ngắn lại, rồi chỉ lên tấm lụa vẽ bản đồ vùng Thảo-nguyên:
– Từ trước đến giờ, các bộ tộc quy phục Đại-hãn ở vào ba trường hợp. Một là họ theo ông-cha Đại-hãn đã lâu. Họ là Đại-hãn. Đại-hãn là họ. Đại-hãn là biểu tượng của sinh mệnh họ, gia đình họ, danh dự họ, uy tín của họ. Họ sống chết với Đại-hãn. Bây giờ tuy Đại-hãn bị bại, họ bị Khắc-liệt thống trị, họ không biết Đại-hãn còn sống hay chết. Nếu như họ biết Đại-hãn còn sống, thì họ chờ Đại-hãn đem quân tới là vùng lên đuổi Khắc-liệt. Đối với các bộ tộc này, Đại-hãn nên sai mật sứ báo cho họ biết để họ không tuyệt vọng. Họ chuẩn bị sẵn.
Thiết Mộc Chân như người mù được mở mắt. Ông kính cẩn rót một chung rượu mời Thủ-Huy:
– Đa tạ huynh đệ.
Thủ-Huy uống hết chung rượu rồi tiếp:
– Thứ nhì là các bộ tộc thực sự quy phục Đại-hãn. Nhưng họ vẫn chân trong, chân ngoài. Họ nghĩ, Đại-hãn cũng thế, Khắc-liệt cũng vậy. Ai mạnh thì theo người ấy. Phần đông các bộ tộc này, trước đây theo Đại-hãn, vì thấy Mông-cổ thịnh. Nay Mông-cổ bại, họ theo Khắc-liệt. Họ tưởng rằng Khắc-liệt hay Mông-cổ cũng thế thôi. Nhưng, sự thực bây giờ bị Khắc-liệt cai trị, họ bị khinh khi, họ bị hà khắc, họ bị tước tài sản. Đối với loại bộ tộc này, Đại-hãn cứ để họ dưới quyền cai trị của Khắc-liệt mấy tháng nữa, cho mầm móng bất mãn sâu rộng. Bấy giờ Đại-hãn mới sai người tới chiêu dụ họ. Bảo họ chuẩn bị sẵn, khi Đại-hãn đem quân đến, thì nổi dậy đánh quân xâm lăng.
Thiết Mộc Chân lại rót rượu mời Thủ-Huy. Thủ-Huy tiếp:
– Loại thứ ba là các bộ tộc thuộc Thát-đát, Miệt-nhi, Diệt-xích-ngột, Ong-gút…bị Đại-hãn chinh phục. Họ theo Đại-hãn chỉ vì cái thế không theo không được. Nay họ theo Khắc-liệt. Họ tưởng theo Khắc-liệt sẽ khá hơn. Vậy Đại-hãn cứ nằm im chờ đợi. Chỉ mấy tháng nữa thôi, dươi quyền cai trị hà khắc của Khắc-liệt, họ sẽ bất mãn, nổi lên chống đối. Bấy giờ Đại-hãn sai nguời đến chiêu mộ họ họ sẽ theo Đại-hãn.
Thủ-Huy ngừng lại, rồi tiếp:
– Bây giờ Đại-hãn cần ẩn thân, phân tán lực lượng để nuôi cái lòng kiêu căng của Tang Côn. Tang Côn cho rằng Đại-hãn không còn đáng cho y quan tâm nữa, tất y rút quân, chia của cướp được. Với tính kiêu ngạo của y, tất y chỉ chia cho các tộc trưởng chút ít lấy lệ. Thế là các tộc trưởng với Tang Côn trở thành thù nghịch. Bấy giờ Đại-hãn chỉ đánh một trận thì diệt được Khắc-liệt.
Thiết Mộc Chân đưa mắt cho Tốc Bất Đài, Gia Luật Mễ, Triết Biệt, Bác Nhĩ Truật. Rồi tất cả cùng đứng dậy hành lễ với Thủ-Huy. Thiết Mộc Chân nói bằng giọng tha thiết:
– Trần huynh đệ. Năm anh em chúng tôi xin huynh đệ giúp cho một việc. Nếu như huynh đệ thuận thì Mông-cổ chắc chắn sẽ phục hồi được lãnh thổ!
Thủ-Huy kinh ngạc:
– Không biết việc mà Đại-hãn sai khiến là việc gì? Liệu sức tôi có giúp được Đại-hãn không?

(Hết Hồi 30)

Share this post