Anh Hùng Đông A (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 39 (Tiếp theo)

Anh Hùng Đông A (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 39 (Tiếp theo)

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

HỒI THỨ BA MƯƠI CHÍN
Vạn-lý trường-thành

(Tiếp theo)

Lễ nghi tất.

Thành-cát Tư-hãn ban chỉ:

– Ta có một cuộc nghị sự quan trọng. Năm trẻ cũng nên tham dự, để biết rõ tình hình. Cuộc nghị sự này mục đích thiết kế đánh Kim, rồi cai trị như Nãi-man, Khắc-liệt.

Cuộc họp bắt đầu.

Thành-cát Tư-hãn, Thủ-Huy, Cửu đại sơn điêu, Cửu đại thiết lang im lặng nghe Khu-mật viện trình bầy tình hình Kim. Nào tình hình trong triều, nào tình hình phòng thủ, nào tình hình dân chúng.

Nghe xong Tư-hãn hỏi Thủ-Huy:

– Xin Thiên-sứ cho biết ý kiến!

– Gốc của Kim vốn thuộc tộc Nữ-chân. Sau thời gian chiếm Hoa Bắc, họ bị tộc Hán đồng hóa. Bây giờ Hán là Kim, Kim là Hán. Dân chúng cả Hoa Bắc đều là dân Hán. Ta khai chiến với triều đình Kim, có nghĩa là khai chiến với tộc Hán trên toàn Hoa-Bắc. Tộc Hán có nền văn minh cổ, dân họ lại quá đông. Nếu chúng ta đánh Kim, chiếm đất, rồi cai trị họ như cai trị Khắc-liệt, Nãi-man thì nguy hiểm vô cùng.

Mộc Hoa Lê kinh ngạc:

– Không lẽ binh lực chúng ta hùng mạnh như thế này, mà không cai trị nổi dân Hán ư?

– Tôi không nói nguy hiểm vì quân Kim mạnh. Mà nguy hiểm vì chúng ta quá ít người, không thể cai trị một nước đông gấp ba mươi mình. Ví  dù ta cai trị họ, thì một huyện, giỏi lắm ta có mười người. Hỏi với mười người ta có đủ sức bắt họ nói tiếng Mông-cổ không? Ta có đủ bắt họ phải theo phong tục ta không? Dĩ  nhiên là không. Ngược lại, người của ta sống lẫn với dân họ, sẽ nói tiếng Hán, bắt chước văn minh của Hán, lấy vợ Hán. Như vậy chỉ cần năm chục năm, chúng ta thành người Hán hết. Cái gương của tộc Khất-đan trước mắt. Tộc Khất-đan  ít người, nhờ hùng mạnh mà chiếm được nửa nước Tống, thành lập nước Liêu, rồi không đầy trăm năm, thì bị đồng hóa. Gần đây, tộc Nữ-chân cũng đi vào vết xe đổ của tộc Khất-đan. Sau khi thắng Liêu, cai trị Hoa-Bắc không đầy năm chục năm, mà gần như bị đồng hóa. Huống hồ nay, dân Thảo-nguyên của ta vốn do nhiều bộ tộc phức tạp hợp thành Mông-cổ. Thế mà ta chiếm Kim, rồi cai trị thì sẽ bị đồng hóa nhanh lắm.

Thành-cát Tư-hãn gật đầu, công nhận lý luận của Thủ-Huy là đúng. Ông quyết định:

– Chính vì lẽ đó, mà suốt bao năm qua, tôi ưu tư ngày đêm. Cũng chính vì lẽ đó, mà hôm nay tôi họp các vị là những người thân cận nhất để quyết định.

Mọi người cùng im lặng nghe.

–  Trước đây, Liêu mạnh hơn Tống nhiều, mà tại sao Liêu không chiếm hết đất Tống? Họ cứ lấn chiếm như tằm ăn dâu ? Cứ mấy năm lại đòi thêm một quận, hoặc chiếm một tỉnh? Gần đây Kim mạnh hơn Tống, rồi cũng không diệt Tống ? Lý do nào Liêu, Kim lại hành động như vậy?

Cử tọa im lặng, suy nghĩ, một khắc trôi qua. Thủ-Độ đứng dậy:

– Cháu có một vài kiến giải.

Thành-cát Tư-hãn là một danh nhân Trung-quốc đứng hàng đầu về việc biết người, biết nghe lời phải. Vì vậy, ông thấy một thiếu niên chưa có chức tước gì, mà dám đứng lên xin phát biểu, trong khi có gần trăm người dầy kinh nghiệm, còn đang ngồi suy nghĩ. Như vậy ý kiến đó không thể tầm thường được. Ông khuyến khích:

– Trong buổi họp này, không phân tuổi tác, thứ bậc, chức tước. Ai có ý kiến gì cứ thẳng thắn phát biểu. Cháu  nói đi.

– Trước đây, sau khi thắng Nãi-man, Tư-hãn thấy rằng trong tất cả các tộc vùng Thảo-nguyên, thì Nãi-man là tộc có một nền văn minh cao nhất. Nên Tư-hãn nảy ra ý định trộn lẫn sắc dân Mông-cổ với Nãi-man, để dân Mông-cổ hấp thụ được văn minh mới.  Việc này Tư-hãn đã thành công.

Mọi người cùng ngơ ngác không hiểu rõ ý Thủ-Độ. Duy Thành-cát Tư-hãn lại gật đầu, ngụ ý rằng Thủ-Độ hiểu ý ông. Ông khuyến khích:

– Cháu tiếp đi.

– Khi chinh phục Tây-hạ, trước văn minh của họ, Tư-hãn thấy một phương trời mới mở rộng ra: Văn minh Tây-hạ bỏ xa văn minh Nãi-man. Mà văn minh Tây-hạ chính là văn minh Hoa-hạ. Tư-hãn nghĩ rằng: Binh lực Mông-cổ tuy hùng mạnh thực, nhưng liệu có hùng mạnh mãi không? Một ngày kia, uy thế ta chùn nhụt đi, hoặc các nước xung quanh tổ chức lại quân đội, ta không còn thắng họ nữa. Bấy giờ ta lại trở về với chăn nuôi, lều trại, với khí hậu lạnh cắt da. Ta vẫn bị coi là Hung-nô, là Bắc-Địch. Vậy thì nay, sức mạnh của ta đang như núi lở băng tan. Tại sao ta không chiếm lấy một vùng đất của tộc Hán được gọi là bờ xôi, giếng mật… rồi  di chuyển dân Thảo-nguyên về sống ở đấy. Việc làm này có hai điều lợi. Một là trộn lẫn sắc dân Thảo-nguyên khỏe mạnh, với sắc dân thông minh, có trình độ văn hóa cao của tộc Hán. Hai là dân Thảo-nguyên được sống trong vùng khí hậu ôn hòa, đất đai trù phú. Đó là điều mà Liêu, mà Kim đã làm. Họ đã thành công.

Thủ-Độ ngừng lại một lát rồi tiếp:

– Nay toàn thể các nước vùng Thảo-nguyên đã bị ta chiếm. Vì vậy Kim sợ ta. Họ cần phải kiềm chế ta. Hiện họ đang chuẩn bị ra quân. Như vậy trước sau gì họ cũng phải đánh ta.  Cái thế của ta với Kim bây giờ không thể cùng đứng. Ta không đánh Kim, thì Kim cũng đánh ta. Vậy sao bằng ta đánh Kim trước.

Cử tọa vỗ tay hoan hô ý kiến Thủ-Độ. Thủ-Độ tiếp:

– Cháu nghĩ, đầu tiên ta tiến đánh mấy vùng gần Vạn-lý Trường-thành, tiến về Yên-kinh. Ta cắt Kim thành nhiều vùng nhỏ. Vùng Liêu cũ, ta cho trung hưng nước Liêu, đặt làm chư hầu, dùng Liêu kiềm chế Kim. Vùng đất cũ của Kim ta vẫn để cho Kim tự tồn, ta cũng đặt một triều đại Kim. Ta dùng Kim kiềm chế Liêu. Còn lại các vùng thuộc Trung-quốc, ta chiếm lấy Sơn-tây, Hà-Bắc, Sơn-Đông, di chuyển dân ta vào lập nghiệp ở đó.

Nghe Thủ-Độ trình bầy, Thành-cát Tư-hãn đừng dậy nắm lấy tay Hầu:

– Cháu hiểu tới tận tâm can của ta. Nhưng có điều, chúng ta họp nhau ở đây, toàn là những người tâm huyết với nhau cả thì nói ra được. Còn đối với thiên hạ, ta không thể công bố ý định đó lúc này. Ta cần phải có cái cớ gì đó, đem nói với các Đại-hãn, Khã-hãn, các nhà quý tộc bây giờ?

Nói đến đây, Thành-cát Tư-hãn đưa mắt nhìn Thủ-Huy như hỏi ý kiến về quyết định của mình. Thủ-Huy đứng dậy nói:

– Thưa Tư-hãn dễ thôi! Ta công bố rằng: Ý Tư-hãn muốn ra quân phạt Kim, vì trong quá khứ, Kim ỷ là nước lớn, tự coi mình là con trời, luôn đem quân tấn công các bộ tộc vùng Thảo-nguyên, bắt phải phục tùng. Vì vậy ý của Tư-hãn trong cuộc ra quân này như muốn nói với người Hán: Bọn bay không phải là con trời. Đất nước bọn bay không phải là trung tâm thiên hạ. Như vậy được không?

Thành-cát Tư-hãn gật đầu tỏ ý hài lòng về điều Thủ-Huy nói. Thủ-Huy đưa mắt cho Thủ-Độ. Thủ-Độ tiếp:

– Ta hiệu triệu các Đại-hãn, Khả-hãn rằng: Cuộc ra quân này hết sức quan trọng. Nếu như ta thắng Kim, thì dân chúng khắp thiện hạ sẽ bừng tỉnh: Người Hán không phải là con trời. Tương lai, sẽ có nhiều nước đem quân đánh Trung-nguyên. Còn như ta bại, người Hán sẽ kiêu hơn: Bọn mọi rợ chúng bay không thể nào chiếm được đất của con trời. Dân chúng khắp nơi cũng sẽ tin như thế. Sau này, người Hán sẽ đem quân đánh chúng ta, bắt chúa ta quỳ gối trước họ. Cháu xin nói ra một điều tế nhị. Có thể Tư-hãn không vui lòng.

– Cháu cứ nói.

– Mông-cổ ta, mới lập quốc, các Đại-hãn tuy phục tùng, nhưng trong lòng họ cũng vẫn còn mong muốn anh hùng một cõi. Ta mà bại, thì các Đại-hãn sẽ nổi lên dành lại chủ quyền. Mông-cổ e không còn nữa. Bọn Kim nhân đó dụ dỗ, phong chức tước cho các Đại-hãn… Thảo-nguyên sẽ bị chia thành  hằng trăm bộ tộc nhỏ bé. Chúng muốn đánh thì đánh, chúng muốn giết thì giết. Cho nên bất cứ giá nào, ta cũng phải thắng. Bại thì chết hết. Đất nước không còn, bản thân chết thảm, vợ con làm tôi tớ cho người. Vậy thì thế này…

Thủ-Độ ngừng lại, nhìn chư tướng một lượt:

– Khi chúng ta ra quân, phải dốc hết lực lượng. Ta dốc hết lực lượng đi viễn chinh, lỡ ở nhà các Đại-hãn làm phản thì sao? Cháu nghĩ: Ta bắt tất cả các Đại-hãn theo chỉ huy quân của họ, bắt họ phải mang cả vợ con đi.

Các tướng gật đầu tỏ ý khâm phục.

Thành-cát Tư-hãn hướng vào chư tướng:

– Vậy chúng ta tiến quân ra sao? Đánh như thế nào?

Tốc Bất Đài phát biểu:

– Thưa Tư-hãn, ta hiện có 20 vạn Lôi-kị, mỗi Lôi-kị có hai ngựa. Cộng với ngựa, lừa, trâu, bò kéo xe chuyên chở, như vậy ta có tới hơn trăm vạn thú vật phải nuôi. Ngoài ra còn có vợ, con, gia đình đi theo, cũng tới trên 60 vạn nữa. Có phải thế không?

– Đúng vậy. Với 20 vạn Lôi-kị quyết chiến, thì ta chiếm Kim thực dễ dàng.

– Thưa Tư-hãn, vấn đề quyết chiến, thì quân, tướng của ta đều can trường, dù chết không từ nan. Vấn đề quyết thắng, thì với đội Lôi-kị của ta, quân Kim không thể đương nổi. Nhưng có ba vấn đề rất khó khăn.

Thành-cát Tư-hãn hỏi:

– Hiền đệ! Ba vấn đề đó là ba vấn đề gì vậy?

– Vấn đề thứ nhất là giữa Thảo-nguyên với Kim cách nhau bởi dẫy Vạn-lý Trường-thành. Vạn-lý Trường-thành quá cao, quân phòng thủ lại nghiêm mật. Vậy làm thế nào để chúng ta có thể vượt qua?

Thành-cát Tư-hãn cau mặt lại, tỏ vẻ đăm chiêu:

– Còn vấn đề thứ nhì?

– Vấn đề thứ nhì là phía trong Vạn-lý Trường-thành dân cư đông đúc, không có những cánh đồng cỏ mênh mông. Trong khi quân của ta toàn là quân  kị, nay với một lực lượng ngựa đông như vậy, làm sao có thể cung ứng đủ cỏ cho chúng ăn? Không lẽ ta phải vận tải cỏ khô từ Thảo-nguyên, vượt 1400 dặm để nuôi ngựa?

Các tướng đều mặt nhìn mặt, tỏ vẻ ngao ngán.

Thành-cát Tư-hãn hỏi:

– Vấn đề thứ ba là?

– Chúng ta vượt qua 1400 dặm mới tơí Vạn-lý Trường-thành, rồi từ Vạn-lý Trường-thành, còn phải qua biết bao nhiêu đường đất nữa, thì làm sao có thể vận chuyển lương thực cho đội quân 20 vạn, với hơn 60 vạn thành phần gia đình, nô bộc? Ấy là không kể giặc có thể chặn đường tiếp tế lương thảo của ta.

Thành-cát Tư-Hãn đưa mắt hỏi chư tướng. Các tướng Mông-cổ hầu hết là những chiến tướng. Họ chỉ giỏi điều quân, xung phong hãm trận. Còn những vấn đề phức tạp như vậy thì họ không nghĩ ra.

Dưới này, Thảo-nguyên ngũ điêu cũng đưa mắt nhìn nhau. Hốt Tất Liệt hỏi A-lý Hải-ha:

– Ngũ đệ! Người vốn nhiều mưu, lắm mẹo, người thử nghĩ xem, có cách nào vượt qua ba vấn đề đó không?

A-lý Hải-nha lắc đầu. Trong khi đó Thủ Độ ung dung mỉm cười. Hầu dùng Lăng-không truyền ngữ hỏi cha:

– Bố! Tại sao bố im lặng như vậy? Không lẽ bố chịu khuất phục ba trở ngại đó ư?

– Dĩ nhiên là bố tìm ra sách lược rồi. Nhưng con ơi, Tư-hãn chỉ muốn đánh phá, tàn sát người Hán mà thôi. Vì bố không muốn dùng người Mông-cổ giết người Hoa, nên bố im lặng. Con nghĩ sao?

– Con nghĩ, ta nên xui Mông-cổ kết thân với Tống. Tống đánh từ dưới lên, Mông-cổ đánh từ trên xuống, thì Kim phải bại. Mông-cổ diệt Kim rồi, tất tiến xuống đánh Tống. Khi chiến tranh Tống-Mông xẩy ra, ta đem quân Bắc tiến, chiếm lại cố thổ bị mất từ thời vua Trưng.

– Nhưng con ơi! Cái triều đình thối tha Tiêu-sơn kia, giữ nhà, bắt cướp còn không xong, thì hy vọng gì Bắc-tiến.

– Bố ơi! Mông-cổ có diệt được Kim ít ra cũng hàng chục năm nữa. Bấy giờ thì bố con ta đã quét sạch bọn hôi tanh triều Lý, lập lên một triều đình khác rồi…

– Vậy thì con phát biểu ý kiến đi, cho Thành-cát Tư-hãn nể thiếu niên Việt.

Nghe bố nói, Thủ-Độ đưa mắt nhìn Thành-cát Tư-hãn, hầu mỉm cười. Thành-cát Tư-hãn vốn có tài xét đoán người vào bậc nhất trong lịch sử Trung-quốc. Qua những ý kiến thiếu niên này vừa trình bầy, thực không một thân vương, đại tướng nào của ông có thể theo kịp. Bây giờ chỉ liếc qua nụ cười của Thủ-Độ, ông đã đoán rằng thiếu niên này có kế sách giúp ông thoát ra ngoài ba khó khăn trên. Ông hỏi Thủ-Độ:

– Cháu Thủ-Độ! Cháu có kỳ mưu diệu kế gì, thì cứ mạnh dạn trình bầy.

Thủ-Độ đứng dậy, cung tay:

– Thưa Tư-hãn! Cháu nghĩ rằng ba cái khó khăn mà chú Tốc Bất Đài vừa nêu ra, ta có thể vượt qua, không khó khăn cho lắm.

Từ Thành-cát Tư-hãn cho tới chư tướng đều kinh ngạc về lời phát biểu của Thủ-Độ. Ông khuyến khích:

– Cháu nói thử…

– Thưa Tư-hãn, quân Kim hiện đồn trú làm hai khu vực. Một là phía Bắc để phòng ta. Các đạo quân này đóng trong khoảng 100 dặm ở phía Đông và Nam Yên-kinh, và từ Yên-kinh lên Trường-thành. Hai là ở phía Bắc sông Trường-giang để phòng Tống, uy hiếp Tống. Khi ta ra quân, đầu tiên ta gặp sức kháng cự của các đạo quân phía Bắc. Dĩ nhiên ta đánh bại các đạo quân này. Bấy giờ Kim sẽ điều các đạo quanh Yên-kinh và phía Nam lên cứu viện. Ta phải đánh với toàn bộ quân Kim. Vậy ta nên liên kết với Tống, để Tống cầm chân các đạo quân phía Nam của Kim.

Mộc Hoa Lê xua tay:

– Nhưng Tống hèn quá! Liệu họ có dám ra quân không?

– Cháu cũng nghĩ đến điều đó rồi. Ta sai sứ sang Tống, nói rõ chủ ý của ta là trừng phạt bọn rợ Nữ-chân hỗn láo, trả thù cho các tiên đế bị chúng chém giết, làm nhục. Vậy Tống cũng nên nhân đó ra quân, thu hồi đất cũ, rửa cái nhục bị tiến cống hàng năm. Dĩ nhiên Tống hứa, rồi ngồi chờ. Nếu ta bại, thì họ ngồi im. Còn như khi họ thấy ta thắng, tiến về vây Yên-kinh, nhất định họ sẽ ra quân.

Cử tọa đều gật đầu tỏ ý khen ngợi Thủ-Độ nhìn xa.

Thành-cát Tư-hãn hỏi:

– Thế còn ba cái khó khăn vừa bàn? Làm sao vượt qua được ?

– Trước hết là làm sao có thể vượt Vạn-lý Trường-thành. Điều này không khó. Ta cho Tế-tác thám thính dọc Vạn-lý Trường-thành xem nơi nào địch ít quân phòng vệ, phía ngoài không có hào, dễ leo lên. Rồi thình lình trong đêm, ta cho một Vạn-phu xuất hiện. Mỗi kị binh của ta đều  mang một túi đựng đất, ném dưới chân thành. Rồi cho quân leo lên. Khi quân Tống thấy quân ta, ít ra cũng phải hơn giờ mới tập họp được binh sĩ, chúng ì ạch leo lên mặt thành.  Chỉ cần thời gian một giờ, ta có cả vạn người lên mặt thành, rồi đánh tỏa ra hai bên. Bấy giờ quân Kim sẽ kinh hoàng, ta tiến tới chiếm các cổng thành, mở ra cho đại quân tiến vào.

Nghe Thủ-Độ  nói, cử tọa hoan hô không ngừng.

Mặt Thành-cát Tư-hãn tươi hồng hẳn lên:

– Giỏi! Thế còn cái khó khăn thứ hai, thứ ba?

– Khó khăn thứ nhì là cỏ cho ngựa ăn. Khó khăn thứ ba là lương thực cho quân, cho gia đình. Xưa nay, các đội quân chinh chiến ngoài đất nước mình thường gặp cái khó khăn này. Cuộc chiến thành hay bại đều do lương thảo. Như tại Đại-Việt; Quách Quỳ, Triệu Tiết , Yên Đạt, Tu Kỷ tài ba là thế, trăm triệu quân thiện chiến là vậy, mà chỉ vì vận tại lương thực xa xôi, khiến quân bị đói, rồi thất bại.

Mộc Hoa Lê ngắt lời:

– Cháu Thủ-Độ! Trong những lúc chúng ta đàm luận với nhau, ai cũng nghi hoặc cái vụ này. Ta nghe nói, Tống dùng tới 60 vạn Bảo-binh vận lương, thế mà không đủ nuôi 40 vạn chiến binh là tại sao?

– Thưa chú, lương thảo của Tống phải vận từ Kinh-hồ, Lưỡng Quảng sang Đại-Việt. Họ phải vượt qua quãng đường từ 1500 dặm đến 3000 dặm. Với quãng đường đó, họ phải đi trong 30 đến 40 ngày. Thành ra số lương họ vác trên vai, chính họ ăn hết một nửa rồi.

Gia Luật Mễ thở dài:

– Nay ta cũng lâm vào trường hợp đó. Vậy cháu có diệu kế gì thoát ra khỏi không?

Thủ-Độ khẳng định:

– Thưa chú có. Như trên cháu đã trình bầy, ta đóng quân trên một vùng rộng. Ta áp dụng ba sách lược khác nhau. Một là, đi đến đâu ta cũng tuyên cáo với dân chúng rằng, ta đến đây để diệt tụi rợ Nữ-chân, tức tụi Kim. Vậy người Hán hãy nổi lên giúp ta diệt bọn chúng. Thành nào, đồn nào mở cửa đầu hàng, thì sẽ được bảo vệ. Còn thành nào, làng nào chống cự, khi quân ta vào thì sẽ san bằng thành quách, nhà cửa đốt sạch, còn người thì giết tuyệt; dù già, dù trẻ, dù chó, dù mèo. Hai là, ta tuyên bố tha hết các loại thuế mà Kim bắt đóng. Ngược lại ta cho gia đình, quân sĩ đóng lẫn với dân, bắt dân phải cung ứng lương thảo, phải chăn ngựa, phải cắt cỏ cho ngựa ăn, phải tắm ngựa. Bây giờ đang tiết Xuân, lúa con gái xanh tươi, nếu dân không cắt đủ cỏ cho ngựa ăn, ta cứ thả ngựa ra cánh đồng lúa. Họ sợ lúa bị ăn thì phải cung ứng đủ cỏ. Ba là, khi chiếm được thành nào, ta bắt trai tráng xung vào đội thân binh, rồi dùng chính thân binh canh gác những nơi ta chiếm được.

Hoàng-tử Sát Hợp Đài lắc đầu:

– Dùng bọn này giữ nơi chiếm được, có nguy hiểm không? Lỡ chúng phản thì sao?

Thủ-Độ khẳng định:

– Chúng không thể phản, cũng không dám phản. Ta áp dụng biện pháp con tin. Tỷ như đội thân binh gốc người huyện này, thì ta dùng chúng canh gác huyện khác. Ta nói cho chúng biết rằng, bố mẹ, vợ con họ trong tay ta. Họ mà phản thì ta giết tuyệt, không tha. Như vậy đời nào chúng dám trở giáo?

Cử tọa vỗ tay hoan hô.

* Ghi chú của thuật giả: Suốt 800 năm qua, các sử gia Trung-quốc, Trung-Đông, Nhật-bản, Tây-phương cứ thắc mắc không biết ai đã đưa ra chính sách vừa cứng, vừa mềm, khiến quân Mông-cổ đi đến đâu, dân chúng chống lại quân giữ thành, mở cửa cho họ vào. Họ được dân chúng cung ứng lương, thảo, mà không cần vận tải từ trong nước ra. Khiến dân Mông-cổ không phải chịu chiến phí.

Sau này nhiều đội quân viễn chinh Âu-châu cũng học theo sách lược này, khiến họ chiếm các thuộc địa dễ dàng. Chỉ độc giả Anh-hùng Đông-a mới biết sách lược này ra đời lúc nào, trường hợp nào, do ai là tác giả.

Ngược lại, tại sao cũng sách lược này mà quân Mông-cổ, quân Minh, quân Thanh, và quân Pháp từng áp dụng tại Việt-Nam lại thất bại? Độc giả đọc các hồi sau, sẽ thấy Hưng-Đạo vương là người đã tìm ra kế phá sách lược này.

Thành-cát Tư-hãn quyết định:

– Bây giờ chúng ta chuẩn bị để có thể ra quân. Vậy phải tiến như thế nào? Các tường hãy suy nghĩ một lát rồi cho ta ý kiến.

Phòng họp yên lặng, không một tiếng động. Thủ-Huy dùng Lăng-không truyền ngữ nói với Thủ-Độ:

– Con có ý kiến thì cứ phát biểu. Vụ này bố không mấy thích thú, bố ngậm miệng, mũ ni che tai.

– Thưa bố, con có nên nói hết những suy tư của con ra không?

– Nếu con không nói thì thôi. Còn như con muốn nói, thì nói ra hết. Nói ra cho họ sợ thiếu niên Việt.

Sau một khắc im lặng, Thành-cát Tư-hãn ra lệnh:

– Bây giờ trước hết Bác Nhĩ Hốt hãy trình bầy tình hình quân Kim đồn trú từ Yên-kinh tơí Trường-thành.

Thủ-Huy là người trực tiếp coi Khu-mật viện. Bác Nhĩ Hốt là Khu-mật viện phó sứ, là  tướng phụ trách về Tế-tác (Ghi chú : Ngày nay miền Bắc là Cục quân báo, miền Nam là Phòng nhì). Ông đứng lên trình bầy:

– Trước hết nói về Trường-thành. Trường-thành được khởi xây vào thời vua Thủy-Hoàng nhà Tần. Mục đích để chống lại các cuộc tấn công của những bộ tộc vùng Thảo-nguyên chúng ta, mà chúng gọi là Hung-nô. Người chỉ huy xây là Vạn-tín hầu Lý Thân, một đại tôn sư võ học Đại-Việt.

Từ Thành-cát Tư-hãn cho tơí bọn Thảo-nguyên ngũ điêu đều đưa mắt nhìn cha con Thủ-Huy. Hốt Tất Liệt Hỏi:

– Sư phụ! Chắc hồi đó Tần Thủy-Hoàng cũng mời Vạn-tín hầu lên Thảo-nguyên săn bắn như ông nội mời sư phụ, rồi nhờ ngài xây thành chăng?

Cử tọa cùng bật cười vì câu hỏi ngộ nghĩnh. Thủ-Huy chỉ Thủ-Độ:

– Con hãy nói về uẩn khúc lịch sử này cho sư huynh nghe đi.

Thủ-Độ đưa mắt nhìn cử tọa một lượt rồi khoan thai kể:

– Trường-thành còn có tên là Vạn-lý Trường-thành. Nguyên vào thời Chiến-quốc, ba nước Tần, Triệu, Yên đều có biên giới phía Bắc tiếp giáp với vùng Thảo-nguyên của chúng ta. Bị các bộ tộc Thảo-nguyên luôn đem quân vào cướp phá, mà ba nước không có cách gì chống trả. Họ mới xây những bức thành dọc theo biên giới cho quân thủ ở trong mà phòng ngự. Đến thời Tần Thủy-Hoàng, các bộ tộc Thảo-nguyên càng trở nên hùng mạnh. Hàng ngày kéo vào đánh phá Trung-nguyên khủng khiếp lắm. Triều Tần mới nghị xây những đoạn thành mới, nối ba đoạn của Yên, Triệu, Tần lại, làm kế phòng thủ. Phía Tây bắt  đầu từ Lâm-thao. Phía Đông tới Liêu-Đông. Người đứng ra đốc thúc xây cất là Thái-tử Phò-Tô với tướng Mông-Điềm. Nhưng người thiết kế xây cất lại là Vạn-tín hầu Lý Thân, tổ sư của phái Long-biên, sau là phái Mê-linh của Đại-Việt.

Triều đình Mông-cổ hầu hết là những tướng lãnh, xuất thân từ thảo dã, rất ít người biết chữ, thì sao có thể đọc sách? Sao có thể biết về một giai đoạn lịch sử rất xa xưa, rất bí ẩn như vậy? Trước đây họ chỉ biết rằng phò-mã Trần Thủ-Huy, công chúa Đoan-Nghi là người Đại-Việt, võ công cao siêu, kiến thức uyên bác, là khách của Mông-cổ. Nhân hai người có ơn với Mông-cổ, rồi Thành-cát Tư-hãn mời lên săn bắn. Hai vị giúp Mông-cổ đánh Khắc-liệt, lập quốc. Họ không bao giờ ngờ hơn nghìn năm trước đã có một người Việt giúp Tần Thủy-Hoàng xây Vạn-lý Trường-thành. Họ lắng tai nghe Thủ-Độ thuật.

Trong những người ngồi nghe, thì Thảo-nguyên ngũ điêu là những thiếu niên được Thúy-Thúy dạy chữ Hán, đọc sách Hán, hiểu về văn học, lịch sử, triết học Trung-hoa rất sâu sa. Hốt Tất Liệt hỏi:

– Nhị đệ! Trước đây, các bộ tộc vùng Thảo-nguyên thường lưu truyền một huyền thoại rằng, ngài Lý Thân mình bằng sắt, thân cao hơn trăm trượng, tay cầm thanh kiếm nặng vạn cân. Người giúp Tần Thủy-Hoàng chống lại các bộ tộc vùng Thảo-nguyên. Sự thật thế nào? Huynh nghe nói Vạn-tín hầu là người thiết trí, cũng như xây cất Loa-thành ở Đại-Việt. Nhị đệ hãy thuật chi tiết về việc ngài sang sứ Tần cho mọi người biết rõ hơn.

– Chuyện như thế này!

Thủ-Độ nhắc lại việc Vạn-tín hầu cùng đệ tử sang sứ Tần một lượt. Rồi kết luận:

– Sau khi Vạn-tín hầu qua đời, các bộ tộc Thảo-nguyên lại vào cướp phá. Tần Thủy-Hoàng sai làm một tượng bằng sắt khổng lồ, trong bụng có cơ quan, để trên thành. Mỗi khi các kỵ mã Thảo-nguyên đến cướp phá, thì cho quân chui vào bụng tượng, vận chuyển cơ quan. Tượng múa tay, vung chân như người thực. Các kỵ mã Thảo-nguyên tưởng ngài còn sống, họ bỏ chạy… Về việc xây thành, thì chính ngài là người thiết kế, rồi chỉ huy xây Loa-thành ở Đại-Việt. Cũng chính ngài thiết trí xây Vạn-lý Trường-thành.

– Thôi! Thủ-Độ trình bầy tiếp về Vạn-lý Trường-thành đi.

– Tuân chỉ Tư-hãn.

Thủ-Độ ứng lời:

– Thành xây bằng đá. Trung bình cao từ 4 trượng tới 6 trượng (6-12 mét). Rộng trung bình 2 tới 5 trượng (4-10 mét). Trên mặt thành có bức tường đá cho quân sĩ nấp ở trong chống lại cuộc công thành. Cứ trung bình một quãng lại có một cái tháp, hay một Phong-hỏa đài, để quân trú phòng quan sát tình hình bên ngoài. Khi có quân tới tấn công thì đánh trống báo động hoặc đốt Phong-hỏa đài lên, gọi viện quân tới. Thành có nhiều cửa thông ra vùng Thảo-nguyên. Cửa rất rộng, thường mở ra cho dân chúng hai vùng thông thương.

Thành-cát Tư-hãn nhắc:

– Lịch sử cái thành này từ hồi Thủy-Hoàng cho đến nay ra sao?

– Về sau, hai triều Tây, Đông Hán, Tấn luôn tu bổ, nhưng quy mô vẫn giữ nguyên. Đến đời Bắc Ngụy, Bắc Tề, Bắc Chu cho tới Tùy, Đường lại một lần nữa tu bổ, nhưng không giữ nguyên quy mô cũ. Chiều dài của thành trên dưới 5 nghìn dặm ( Ngày nay, kể từ  Gia-cốc quan tới Sơn-hải quan dài 2379 cây số).

* Ghi chú của thuật giả: Về tiểu sử Vạn-tín hầu Lý Thân, người xây thành Cổ-loa, Vạn-lý Trường-thang, xin độc giả xem lại hồi thứ 5, Anh Hùng Đông A, Dựng cờ bình Mông.

Thành-cát Tư-hãn nhắc Bác Nhĩ Hốt:

– Hiền đệ tiếp tục nói về tình hình Kim.

– Tuân chỉ.

Bác Nhĩ Hốt tiếp:

– Biên giới phía Tây, giữa hai lớp thành, Kim chỉ có hai đạo quân phòng thủ. Vì sau lớp thứ hai của Trường-thành là những vùng núi non của Sơn-Tây. Từ xưa đến giờ, quân của các bộ tộc Thảo-nguyên chỉ vượt qua lớp thứ nhất cướp phá rồi về, chứ chưa một lần nào vượt qua lớp thứ nhì. Vì, sau lớp thứ nhì là vùng núi non trùng điệp, dân cư thưa thớt, nghèo khổ. Còn biên giới về phía Đông, Vạn-lý Trường-thành chỉ có một lớp. Sau lớp Vạn-lý Trường-thành 400 dặm bình nguyên là tới Yên-kinh. Nên Kim đặt một lực lượng trú phòng khá đông.

Mộc Hoa Lê hỏi :

– Lực lượng từ Yên-kinh tới vùng phía Đông Vạn-lý Trường-thành có bao nhiêu người?

– Dọc Vạn-lý Trường-thành, Kim có mười đạo binh, khoảng 10 vạn người, trực tiếp trấn thủ. Phía Đông Yên-kinh có 10 đạo, phía Nam có 10 đạo. Tổng cộng 30 vạn. Đây là những đạo binh thiện chiến, trang bị đầy đủ nhất. Đa số là bộ binh, rất ít kị binh. Về khả năng lưu động thì khi có sự, sau một ngày các đạo binh có thể di động ứng chiến. Nếu ta tấn công Vạn-lý Trường-thành thì sau ba ngày, các đạo phía Bắc có thể tới cứu. Còn các đạo phía Đông, Nam của Yên-kinh dù huy động nhanh nhất, thì cũng phải mười ngày mới tới nơi.

Triết Biệt đứng lên phát biểu:

– Ta phải âm thầm ra binh, mới có ưu điểm bất ngờ. Đúng như Thủ-Độ luận, nếu ta tiến đánh biên giới phía Đông-Bắc thì khi ta khởi chiến, chỉ ba giờ sau, ta đã làm chủ Vạn-lý Trường-thành, rồi tiến về phía Nam. Với sức ngựa của ta, sáu giờ sau ta đã tới Yên-kinh. Bấy giờ, có khi quân Tống chưa kịp đánh thức chúa tướng. Ta để một số quân vây đánh Yên-kinh. Còn lại, tỏa ra khắp nơi… Theo như tin tức Bác Nhĩ Hốt trình bầy thì có ba cửa Trương-gia khẩu, Xích-thành khẩu, Hậu-thành khẩu là dễ đánh. Phía sau các cửa này là những con lộ lớn tiến về Yên-kinh. Vậy ta nghiên cứu đánh ba cửa khẩu này là hơn hết.

Hoàng-tử Truật-Xích hỏi:

– Tôi muốn biết biên giới phía Tây của Kim, như Bác Nhĩ Hốt nói sau lớp thành thứ nhì là vùng núi non. Thế vùng núi non đó dài bao nhiêu dặm? Trên núi non đó có đường cho ngựa đi không?

– Vùng núi non đó chỉ có 140 đến 260 dặm. Tuy là núi non, nhưng cũng có hàng trăm con đường mà ngựa có thể đi được. Sau vùng núi non là bình nguyên thông với Yên-kinh.

Tốc Bất Đài đề nghị:

– Vậy ta tiến quân làm hai đường. Một đường đánh vào phía Tây, và một đường đánh ào phía Đông. Cần nhất là cả hai cánh đều khởi tấn công một lúc thì hơn.

Thành-cát Tư-hãn phân vân:

– Đề nghị của Triết Biệt, Tốc Bất Đài đều không vẹn toàn. Kim có tới 30 vạn quân. Khi cần, họ có thể đem thêm năm mươi vạn từ miền Nam lên. Vì vậy ý ta muốn là làm thế nào để cho vua tôi Kim kinh hoàng. Binh tướng không đánh mà cũng hoảng sợ tan rã. Như vậy ta bớt bị tổn hại, mà chỉ đánh một trận, khiến 30 vạn quân Kim phải tan. Bấy giờ Kim có đem quân miền Nam lên cũng không cứu kịp Yên-kinh.

Các tướng cùng im lặng suy nghĩ.

Thủ-Huy dùng Lăng-không truyền ngữ hỏi Thủ-Độ:

– Con có kế gì không?

– Có! Không khó.

– Vậy con trình bầy đi.

Thủ-Độ lại đứng dậy :

– Thưa Tư-hãn…

– Cháu cứ nói.

– Ta dùng vài vạn binh tiến đánh ba cửa khẩu Trương-gia,  Xích-thành, Hậu-thành, rồi tỏa về phía Đông. Kim ắt đem toàn bộ 10 đạo binh phía Đông và 10 đạo phía Nam Yên-kinh lên cứu viện. Bấy giờ ta mới dùng đại lực lượng vượt qua hai lớp thành phía Tây, tiến xuống đồng bằng. Vua tôi Kim kinh sợ, tất đem binh về phía Tây chặn quân ta. Nhưng bộ binh nặng nề, phải vượt qua núi non, tiến rất chậm. Trong khi ta từ phía Tây tiến về Đông uy hiếp Yên-kinh. Bấy giờ đạo binh phía Đông của ta mới từ phía Bắc tốc thẳng xuống đồng bằng, bắt tay với đạo phía Tây đánh Yên-kinh.

Thành-cát Tư-hãn đứng dậy nắm lấy tay Thủ-Độ:

– Giỏi! Cháu giỏi thực. Từ khi tướng chỉ huy binh đoàn Phương Đông tử trận, ta không biết cử ai thay thế. Hôm nay, ta quyết định phong cho cháu làm tướng chỉ huy binh đoàn này. Vì cháu còn trẻ, ta cử Hốt Tất Liệt làm giám quân cho cháu.

* Ghi chú của thuật giả: Binh chế của Mông-cổ  do Thành-cát Tư-hãn đặt ra là: Khi một tướng không phải là Hoàng-thân quốc thích, được cử chỉ huy từ một Vạn-phu trở lên, thì sẽ có một người là đại diện Hoàng-tộc để cố vấn, giám sát đường lối cai trị cho đúng với luật lệ, phong tục Mông-cổ.

Thủ-Độ đã nghe cha nói về binh đoàn Phương Đông. Binh đoàn này gồm một Vạn-phu Lôi-kỵ, một Vạn-phu Lôi-tiễn, một Vạn-phu Tế-tác (Ghi chú: Vạn-phu Tế-tác, tương đương với ngày nay là lực lượng Trinh-sát. Như hồi VNCH là Liên-đoàn 77, Lực-lượng 101). Vạn-phu Lôi-kỵ, kỵ binh đa số là những thiếu niên ưu tú, con của các Hãn, các Đại-hãn, các thân vương. Vạn-phu này do Ngột-lương Hợp-thai làm chánh tướng, Bạt Đô làm phó tướng. Vạn-phu Tế-tác do A-lý Hải-nha làm chánh tướng Ngột Lạt Su làm phó tướng. Vạn-phu Lôi-tiễn do Cút Đa Sen, con của Bác Nhĩ Hốt chỉ huy.

Mọi người đều mừng cho Thủ-Độ. Vì chính ngay vương tôn như Hốt Tất Liệt, A-lý Hải-nha, Bạt Đô, Ngột-lương Hợp-thai, sau mấy năm chinh chiến, mà mới chỉ được phong chức Vạn-phu trưởng, hoặc phó. Bây giờ một bước, Hầu được chỉ huy một binh đoàn, tức ngang hàng với Cửu đại sơn điêu như bọn Tốc Bất Đài, Triết Biệt, Gia Luật Mễ, Mộc Hoa Lê. Thế nhưng, nghe Thành-cát Tư-hãn phong chức trọng quyền cao, mà lòng Thủ-Độ rửng rưng như không, vì Hầu đang nghĩ đến việc Long-Sảm lúc này có thể đang về Thiên-trường đem Kim-Dung đi.

Hầu than thầm:

– Mình tuyệt không muốn làm quan ở Mông-cổ. Chẳng qua vì tuân lệnh cha mà ở lại đây, rồi hoàn cảnh đưa đẩy mà phải làm tướng cho Thành-cát Tư-hãn. Hỡi ơi! Triều Lý suy đồi quá rồi. Đất nước mình ly loạn, dân chúng đói khổ. Mình lập chí cùng đám trẻ cùng khổ muốn lật đổ triều Lý, lập một triều đình mới, tạo hạnh phúc cho dân. Mình đã nguyền ở hồ Tây với Kim-Dung, ở đền Hùng với Thập-bát Anh-hào! Mình đã cùng anh Trần Thừa, Trần Tự-Khánh, thầy Phạm Kính-Ân… lập ra bang Lĩnh-Nam để cùng nhau thực hiện cái chí của mình. Thế mà mình lại làm đại tướng cho Mông-cổ đem quân đánh Kim… thì thực là bán bò tậu ễnh ương mất rồi.

Thành-cát Tư-hãn không biết tâm tư Thủ-Độ, ông ban lệnh:

– Đại cương kế sách là như vậy. Bây giờ chúng ta lui về chuẩn bị, để bất cứ lúc nào, khi lệnh ban ra, thì trong vòng một tháng là có thể lên đường.

Buổi họp chấm dứt.

(Hết Hồi 39)

Share this post