Anh Hùng Lĩnh Nam (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 4

Anh Hùng Lĩnh Nam (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 4

ANH HÙNG LĨNH NAM
* Tiểu Thuyết Lịch Sử
* Tác giả: Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ
* Nguồn: Blog Trần Đại Sỹ (https://trandaisy.wordpress.com)

* Để đọc những phần đã đăng, xin vào khung Search this site (Tìm Kiếm) và gõ tên tác giả: Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ.

HỒI THỨ TƯ
Tình trong như đã, mặt ngoài còn e (Kiều)

Sau đêm kinh hoàng ở đền thờ Cao Nỗ, đoàn người lại tiếp tục lên đường. Phạm Bách chỉ những phong cảnh, những suối, những đèo, những hang đầy hoa thơm cỏ lạ cho Thiều Hoa. Nhưng trong lòng nàng như mơ như tỉnh, đâu có biết ngoại vật là gì.

Đến địa phận núi Tam-thai, Phạm Bách nói:

– Tại đây có đền thờ vua Hùng Vương, trong đền có cái trống đồng bằng ba người ôm. Trống này là lễ vật của Sơn Tinh dâng cho vua để cầu hôn với công chúa Mỵ Nương, nay vẫn còn nguyên. Chúng ta vào đó nghỉ ngơi và lễ tổ.

* Ghi chú của thuật giả: Trống đồng này hồi trước 1950 vẫn còn tại núi Tam-thai, trong vùng núi Lam-sơn, Thanh Hoá. Đi từ thị xã Thanh Hoá về phía Tây Bắc 38 km gặp sông Mã, vượt bến Kiều sang đất Vĩnh-lộc. Gần bến Kiều có núi Xuân-đài, động Hồ-công, trong có nhiều nhũ đá, hang đá, tượng đá rất đẹp. Trong hang có khắc thơ Lê Thánh-tông và các danh sĩ đời xưa. Kế đến là Đan-nê, nằm cạnh núi Tam-thai. Trên núi có miếu Đồng-cổ. Trong miếu còn di tích cái trống đồng. Mặt trống đường kính 1,10 m, cao 0,50 m (Hồi thơ ấu, 8 tuổi, tôi được dẫn qua đây, ước lượng kích thước). Trên mặt trống có chín vòng tròn, giữa trống có rốn, lưng trống có khắc nhiều chữ, nhưng đã mờ, đọc không rõ. Tương truyền trống là di vật của thánh Tản-viên dâng vua Hùng làm sính lễ cầu hôn công chúa Mỵ Nương. Đây là những tài liệu ghi được của trường Viễn-đông Bác-cổ trước 1954. Không biết cho đến nay, biết bao tang thương đã qua, miếu và trống có còn hay không?

Đoàn người tiến vào đền. Trịnh Quang đã chập chững đi được. Phạm Bách chỉ tượng vua Hùng ngồi trên ngai nói:

– Đây là tượng Lạc Long Quân.

Thiều Hoa nhìn lên, thì thấy một người ngồi uy nghi trên ngai vàng, nhưng đầu hơi giống đầu rồng.

Nàng nghĩ thầm:

– Thì ra Lạc Long Quân là loài rồng. Hèn chi người Việt mình cứ tự hào là con Rồng, cháu Tiên?

Nàng hỏi Phạm Bách:

– Thưa sư bá, còn mấy ngày nữa thì tới Hoa Lư?

– Độ năm ngày thôi.

– Sư bá nói, gửi chúng cháu tại Cao gia trang. Cao gia đây có phải là giòng dõi của đại tướng Cao Nỗ không?

– Đúng, Cao trang chủ hiện nay tên là Cao Cảnh Sơn, cháu bảy đời Cao Cảnh Hầu Cao Nỗ. Họ Cao thế lực rất lớn, có tới bảy trang khắp vùng núi Hoa Lư, Tam Điệp, Dục Thúy, tổng số người trong trang lên đến mấy vạn. Chúng ta vào đó an trí đám sư đệ này rồi ta với Trịnh Quang và cháu đi tìm sư phụ cháu.

Thiều Hoa mắc chiếc võng lên hai cây đào nằm. Nàng cố dỗ mắt mà không sao nhập được giấc ngủ. Hình ảnh Nghiêm Sơn lại hiện lên, với dáng điệu phong lưu tiêu sái. Rồi trong đầu nàng lại lởn vởn những lời giáo huấn của sư phụ sư mẫu về cái gương Mỵ Châu lấy chồng ngoại tộc, vì nhất tâm với chồng, làm mất nước. Trải 184 năm mà chưa khôi phục được.

Có tiếng người đi nhè nhẹ, nàng lắng tai nghe: Tiếng chân bước rất nhẹ nhàng, và mau, rõ ràng là tiếng chân của một cao thủ.

Nàng tự hỏi: Ai đây?

Nếu là tiếng chân của Phạm Bách thì nặng chịch, và lão không có trình độ võ công cao. Với bước chân này chỉ sư huynh đệ của nàng mới có thể đạt tới. Mà ở đây thì Trịnh Quang bị thương nặng, bước đi muốn không nổi, còn ai đâu?

Phản ứng thực nhanh, nàng lộn khỏi võng, nằm sát mặt đất, hướng mặt về phía tiếng đi, thì thấy một bóng đen chạy ra đường cái lui húi vạch mấy vạch vào bên đường rồi trở về.

Nàng tự nhủ:

– Thế thì trong đám đệ tử Đào, Phạm gia không quá mười người này có gian tế. Chúng định làm gì đây? Ta phải theo dõi mới được.

Các biến cố từ khi rời Phạm trang đều lần lượt hiện ra trước mắt nàng: Cái chết của Tường Loan đầy bí mật. Cuộc chuẩn bị của Phạm Bách chỉ người nhà mới biết, mà bị Song-quái biết. Bất cứ đoàn người đi ngả nào, Phong-châu song quái cũng theo kịp. Ta phải tìm cho ra ai là gian tế? Hắn làm gian tế cho ai?

Sáng hôm sau, nàng ra chỗ bóng đen vẽ vạch bên đường thì thấy viết chữ Hoa Lư, Tam Điệp, Dục Thúy. Bên cạnh vẽ một chữ Vạn.

Thiều Hoa tỉnh ngộ:

– Thì ra gian tế báo tin cho đồng bọn biết đường đi của bọn mình. Nhưng chúng báo cho ai đây? Cho quân Hán hay cho Phong-châu song quái?

Nàng lấy đất chà hết các dấu hiệu rồi trở vào đền cùng đoàn người tiếp tục lên đường. Trong khi đi đường, nàng chú ý quan sát cử chỉ, hành động từng người, nhưng tuyệt không có gì đáng nghi.

Chợt nhớ ra điều gì, nàng hỏi Phạm Bách:

– Sư bá, hôm trước trong lúc tiểu sư đệ giao chiến với Phong-châu song quái, y có dùng một chiêu thức rất kỳ quái, cháu chưa từng thấy qua. Với chiêu thức đó, y làm cho Vũ Hỷ trúng đòn, rồi Vũ Hỷ kêu lên “Phục ngưu thần chưởng”. Thưa sư bá, chưởng đó là chưởng gì, cháu chưa từng nghe sư phụ, sư mẫu nói qua, thì làm sao tiểu sư đệ biết mà sử dụng. Lại nữa, thế quyền đó bao hàm: Quyền, chỉ, trảo, cước biến hoá vô cùng, những biến hoá đó không nằm trong nguyên lý võ thuật Cửu Chân.

Phạm Bách gật đầu:

– Ta nghĩ cũng không ra. Chúng ta học võ Cửu Chân, gốc ở Vạn Tín Hầu Lý Thân, sau truyền đến Trung Tín Hầu Vũ Bảo Trung… Dù quyền, cước, chỉ, trảo chăng nữa cũng nằm trên một nguyên lý. Nhưng tiểu sư đệ của cháu sử dụng chiêu thức đó nằm ngoài nguyên tắc Thục gia. Mà chỉ với một chiêu, tiểu sư đệ cháu làm cho Vũ Hỷ kinh hồn, đến nổi bắt mang đi tra hỏi, chắc phải có nguồn gốc ghê gớm lắm. Đợi sau này gặp sư phụ cháu, cháu nên hỏi, may ra biết được.

Ông quay sang Trịnh Quang:

– Cháu có nghe sư phụ, sư mẫu đề cập đến quyền pháp này không?

Trịnh Quang gật đầu:

– Một lần đứng hầu Đinh sư thúc với sư phụ cháu, cháu có nghe lõm về quyền pháp ấy. Đinh sư thúc nói rằng nguồn gốc võ học Lĩnh Nam có hai: Một là Văn Lang, hai là Âu Lạc. Võ công Văn Lang cổ nhất do Phù Đổng Thiên Vương chế ra. Sau khi đánh giặc xong, ngài lên núi Sài-sơn (Sóc-sơn) hưởng nhàn, dạy đệ tử, lập ra phái Sài-sơn còn truyền đến ngày nay. Cuối đời Hồng Bàng, một thiên tài võ học nữa xuất hiện là phò mã Sơn Tinh. Ông sáng chế ra Phục ngưu thần chưởng, gồm 36 chiêu rất cương mãnh. Với chưởng pháp này, ông thắng Thủy Tinh, cưới được Mỵ Nương, rồi lên hưởng hạnh phúc ở núi Tản-viên, lập ra phái Tản-viên còn lưu truyền đến nay. Sư phụ của Phong-châu song quái là người phái Tản-viên.

Chàng ngừng lại, nhăn nhó, tỏ ra còn đau đớn:

– Còn nguồn gốc thứ nhì, phát xuất từ đất Tây Vu, tức quê hương của Thục An Dương vương. Khi An Dương vương dựng nghiệp thì có các võ tướng theo phò tá là Vạn Tín Hầu Lý Thân, Cao Cảnh Hầu Cao Nỗ, Trung Tín Hầu Vũ Bảo Trung tức ông Nồi. Một văn quan làm quân sư là Phương Chính Hầu Trần Tự Minh. Khi đại nghiệp thành, An Dương vương cùng các tướng trao đổi võ công với nhau thành ra võ Âu Lạc. Võ Âu Lạc chia ra Cửu Chân là giòng dõi Trung Tín Hầu Vũ Bảo Trung. Phái Long Biên giòng dõi của Vạn Tín Hầu Lý Thân. Phái Hoa Lư giòng dõi Cao Cảnh Hầu Cao Nỗ.

Thiều Hoa hỏi:

– Sư huynh, thế Phục ngưu thần chưởng là võ công của Văn Lang sao?

Trịnh Quang gật đầu:

– Đúng! Phong-châu song quái là người của phái Tản-viên, mà phái Tản-viên là đời sau của Sơn Tinh.

Phạm Bách hiểu ra, giải thích:

– Vậy thì ta hiểu rồi. Phục ngưu thần chưởng là võ học trấn sơn của Văn Lang, nhưng nay đã thất lạc. Song-quái chỉ học được có vài chiêu, nên khi Kỳ sử dụng là chúng biết ngay. Có lẽ chúng bắt Kỳ để tìm hiểu xem có liên hệ gì với phái Tản-viên không, hoặc để tra hỏi tìm lại võ học phái họ đã mất. Cháu yên tâm, Đào Kỳ không gặp nguy hiểm đâu. Có điều lạ lùng là tại sao Kỳ lại biết võ công phái Tản-viên. Này Thiều Hoa!

– Dạ, cháu nghe.

– Ngoài sư phụ, sư mẫu ra, Kỳ có học võ với ai nữa không?

Thiều Hoa nhíu mày ngẫm nghĩ một lúc rồi nói:

– Có! Tiểu sư đệ học văn với Nguyễn Thành Công tiên sinh. Nhưng tiên sinh không biết võ, thì làm sao mà dạy tiểu sư đệ được? Có điều trong tất cả các đệ tử học văn của tiên sinh thì tiểu sư đệ được cưng nhất. Tiên sinh thường dẫn tiểu sư đệ dạo chơi núi Nghi Sơn, Biện Sơn, và nhất là đền thờ An Dương vương với Mỵ Châu. Có lần tiên sinh thấy chiếc áo quàng trên tượng Mỵ Châu cũ quá, tiên sinh về mướn người may một cái áo lông ngỗng mới thay vào, và cất cái áo cũ đi.

Phạm Bách đập tay đánh chát một cái la lớn:

– Có thể là ông ấy!

Thiều Hoa hỏi:

– Bác muốn nói là ai?

– Ta muốn nói chính ông thầy đồ đó đã dạy chiêu Phục ngưu thần chưởng cho tiểu sư đệ cháu.

Trịnh Quang lắc đầu không phục:

– Sư bá dạy sai rồi, nếu Nguyễn Thành Công tiên sinh là cao nhân phái Tản-viên thì sư phụ cháu đã biết mặt, làm sao ông có thể giả làm thầy đồ được?

Thiều Hoa nói:

– Vừa rồi Song-quái bắt tiểu sư đệ đi, chúng mang cả cây trượng của Cao Cảnh Hầu đi rồi.

Phạm Bách gật đầu:

– Cây trượng ấy là của vua Hùng, lúc Cao Nỗ đánh chiếm nước Văn Lang thì lấy được. Sau ngày Cao tướng quân tuẫn quốc, gậy vẫn được để thờ ở đền cho đến nay.

Chiều hôm ấy đoàn người đi đến địa phận Hoa Lư. Đang đi thì gặp bảy kỵ mã, họ trang phục theo lối quan binh người Hán. Nghiêm Sơn dẫn đầu đoàn kỵ đó. Từ đằng xa, thấy Thiều Hoa, chàng đã xuống ngựa đứng bên đường chào:

– Quế Lâm Nghiêm Sơn kính chào Phạm tiên sinh và Hoàng cô nương.

Phạm Bách thấy chàng không có ác ý, còn sáu đồng bọn dừng ngựa đứng xa xa. Ông yên tâm. Nhưng ông kinh ngạc tự nghĩ:

– Tên Hán này là bạn thân của vua Quang Vũ nhà Hán, tước phong tới Lĩnh Nam công Bình Nam đại tướng quân. Uy quyền bao trùm sáu quận Lĩnh Nam. Bình thường ta muốn gặp một viên huyện uý, huyện lệnh cũng còn khó hơn bắc thang lên trời. Mà huyện uý, huyện lệnh đối với Lĩnh Nam công thì như hạt vừng, hạt đậu so với trái núi. Bây giờ y lại khách sáo với ta thế này thì thực là kỳ lạ.

Ông chắp tay hành lễ:

– Tên nhà quê Phạm Bách xin kính cẩn ra mắt Bình Nam đại tướng quân.

Nghiêm Sơn liếc nhìn Hoàng Thiều Hoa, thấy nàng nháy mắt hai lần. Chàng đoán ra Thiều Hoa có điều gì muốn nói riêng với chàng. Chàng hướng vào Phạm Bách:

– Phạm tiên sinh! Tiên sinh cho vãn bối đi cùng đường cho vui được chăng?

Phạm Bách nói:

– Chúng tôi là người làm ăn buôn bán, được Quốc-công đi chung, thì còn gì hân hạnh hơn nữa!

Đoàn người của Nghiêm Sơn xuống ngựa, cùng đi bộ theo Phạm Bách. tới một mỏm núi, thì ngồi lại nghỉ mệt.

Thiều Hoa nói với Nghiêm Sơn:

– Lâu ngày quá tôi không cỡi ngựa. Tướng quân có thể cho tôi mượn ngựa cỡi trong chốc lát được không?

Nghiêm Sơn cảm thấy người lâng lâng như bay lên mây:

– Nếu cô nương muốn, thì tôi xin tặng cô nương con ngựa này.

Chàng dắt con ngựa của mình lại bên Thiều Hoa.

Thiều Hoa e dè:

– Ngựa của tướng quân là tuấn mã, nó chỉ nghe lời chủ thôi, xin tướng quân chỉ cho tôi cách điều khiển, thì tôi mới dám cỡi.

Nghiêm Sơn nói:

– Được, cô nương cứ cỡi nó. Tôi sẽ cỡi con ngựa khác chạy theo cô nương, nếu nó dở chứng, tôi bắt nó phải ngoan ngoãn.

Thiều Hoa nháy mắt hai cái. Nghiêm cho rằng nàng có tình ý với mình, muốn hẹn nhau chỗ vắng tình tự. Người chàng như muốn bay lên mây. Thiều Hoa thét lên một tiếng thảnh thoát, uốn mình phi thân lên ngựa, lưng nàng uốn cong coi rất ngoạn mục. Nàng ra roi cho ngựa chạy vào ven rừng. Nghiêm Sơn phi ngựa theo. Đến một khúc quanh, Thiều Hoa đi chậm lại, Nghiêm Sơn cho ngựa đi song song với nàng.

Thiều Hoa hỏi:

– Nghiêm đại ca, tôi hỏi thực đại ca một điều, trong bọn mười người chúng tôi có ai là người của đại ca gài vào làm gian tế không?

Nghiêm Sơn đáp:

– Không, không có một người nào cả. Nếu có thì là của phủ Tế Tác Cửu Chân hoặc Giao Chỉ.

Thiều Hoa nói:

– Nếu vậy thì tốt quá. Tôi muốn nhờ đại ca một việc, không biết đại ca có dám làm không?

Nghiêm Sơn bị khích, máu nóng nổi dậy, nói:

– Trên đời này chỉ có hoàng đế Đại Hán là tôi nhường bước thôi. Còn tôi há sợ gì ai? Cô nương sai bảo gì tôi xin làm hết sức mình.

Thiều Hoa nói:

– Đại ca biết tiểu sư đệ Đào Kỳ của tôi chứ?

– Có, y thực là dễ thương, tôi muốn hỏi cô nương, y đâu rồi?

– Y bị Phong-châu song quái bắt mấy hôm rồi. Song-quái theo bén gót bọn tôi, không hiểu để làm gì?

Nghiêm Sơn nói:

– Muốn có tin tức tiểu sư đệ của cô nương cũng không khó. Tôi sẽ phát lệnh bài đi tất cả các huyện lệnh, huyện uý, Lạc Hầu, Lạc Tướng trong vùng nhờ họ cho biết hành tung của Song-quái thì tìm ra ngay. Theo như tôi nghĩ, thì Song-quái hiện ở Đào, Đinh trang để chiêu tập dân chúng. Họ mới được phong làm Lạc Hầu thay thế sư phụ và sư thúc cô nương. Song-quái bắt tiểu sư đệ của cô nương mục đích dẫn dụ cho sư phụ, sư mẫu cô nương xuất hiện, để chúng bắt đấy thôi.

Vừa nói, chàng vừa mân mê cành hoa đào Đào Kỳ lấy trên mái tóc Thiều Hoa tặng cho. Thiều Hoa đỏ mặt, cúi đầu, ra roi cho ngựa chạy trở về.

Nàng xuống ngựa nói với Nghiêm Sơn:

– Đa tạ Đại tướng quân tặng ngựa. Sẽ có ngày báo đáp.

Hai đoàn người chia tay nhau. Phạm Bách dẫn đệ tử đến Cao gia trang.

Cao gia trang nằm dài từ bờ sông đến triền núi, dài gần 20 dặm. Bên ngoài cổng có gia đinh đứng gác.

Phạm Bách đến trước gia đinh nói:

– Phiền đại huynh báo với trang chủ, có Phạm Bách cầu kiến.

Gia đinh dùng ngựa phi vào trang. Lát sau, có tiếng vó ngựa chạy trở ra. Trên lưng ngựa, một trung niên nam tử, thân thể cực kỳ hùng vĩ, đi tới.

Người đó xuống ngựa, chắp tay thành quyền chào Phạm Bách:

– Vị nào là Phạm Lạc Tướng? Tại hạ là Cao Cảnh Sơn đây.

Phạm Bách chắp tay vái:

– Phạm Bách ở Dương-xá và đệ tử Đào trang ở Cửu Chân xin bái kiến Cao Cảnh hầu.

– Cách đây hơn tháng, chúng tôi nghe Đào, Đinh hai trang bị nạn, đang buồn không biết tình hình ra sao, may gặp Lạc Tướng đây, thì chắc biết được tin tức Cửu Chân song kiệt. Nào, mời quý vị vào tệ trang.

Đoàn người đi một lát tới đại sảnh đường. Đại sảnh đường là một gian nhà lớn, có thể chứa được vài ngàn người. Bên trong trần thiết cực kỳ nghiêm trang: Giữa sảnh một bàn thờ, trên có tượng Cao Nỗ, Cao Tứ cầm cung uy nghiêm. Hai bên có hai tấm da hổ đã lột ra, nhồi vải trong như hổ còn sống. Trang chủ sai lấy nước, hoa quả mời khách. Những chén nhà họ Cao rất lớn toàn bằng sành màu gan gà.

Trang chủ mời khách:

– Trang chúng tôi uống nước muồng, chứ không uống trà. Hạt muồng phơi khô, rang cháy đi, nấu lẫn với vối tươi, vừa thơm, vừa dễ ngủ.

Phạm Bách giới thiệu đệ tử Thiều Hoa, Trịnh Quang với trang chủ, rồi kể hết mọi sự việc Đào, Đinh trang. Ông tỏ ý muốn nhờ Cao trang chủ cho đệ tử Đào gia ở nhờ, trong khi ông cùng Thiều Hoa, Trịnh Quang đi tìm Đào Thế Kiệt và Đinh Đại.

Cao Cảnh Sơn buồn rầu nói:

– Việc của Đào, Đinh hai nhà cũng là việc của chúng tôi, xin quý vị cứ coi đây như Đào gia trang. Có điều, sau Đào, Đinh, không biết bao giờ Thái Thú tính đến Cao trang đây?

Phạm Bách nói:

– Đây thuộc Giao Chỉ chứ không thuộc Cửu Chân. Thái Thú Giao Chỉ là Tích Quang. Tôi thấy Tích Quang bị Hán đế nghi ngờ, y hiện lo giữ thân còn chưa xong, nên chắc không rảnh thì giờ để hại các trang, các động. Lợi dụng cơ hội này, võ lâm đồng đạo Giao Chỉ nên tích cực thống nhất hành động, nhất tề nổi lên. Trước đánh chiếm Giao Chỉ làm căn bản. Giao Chỉ đã thất thủ, thì Cửu Chân, Nhật Nam bị cô lập, chỉ hô một tiếng, dân chúng nổi dậy là thành công. Được Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, chúng ta tiến lên miền Bắc đánh Quế Lâm, Tượng Quận và Nam Hải, lập lại truyền thống Lĩnh Nam nhà ta cũng không khó.

Cao Cảnh Sơn nói:

– Khó một điều là hai tên thái thú Tích Quang, Nhâm Diên giả nhân, giả nghĩa, nêu cao ngọn cờ Hán-Việt bình đẳng, đem lễ nghĩa Khổng, Mạnh dạy dân. Dân mình gần như bị lôi cuốn vào hào quang đó, quên mất mình là giống giòng Tiên Rồng mất rồi.

Ngừng một lát, ông nói tiếp:

– Trước mắt chúng ta là làm sao tìm được cuốn phả vẽ cách chế nỏ thần của tổ tiên tôi ngày xưa. Chế được nỏ thần, chúng ta cho người đi các nơi thuyết phục hào kiệt, chỉ một trận nổi lên thì 65 thành trì sẽ trở về Âu Lạc ta.

Phạm Bách nói:

– Giữa Cao trang chủ với chúng tôi thì cùng một đường đi, dựng lại Âu Lạc. Nhưng sợ cái nạn chưa có da cọp, đã tranh dành bán da rồi mới khó. Phái Cửu-chân, Long-biên, Hoa-lư muốn lập lại Âu Lạc. Nhưng phái Tản-viên, Sài-sơn lại muốn lập lại Văn Lang. Ngoài ra còn phái Quế-lâm muốn lập lại giòng dõi Triệu Đà.

Cao Cảnh Sơn dành riêng cho đám đệ tử Đào gia một khu trang trại riêng biệt rất rộng với đầy đủ nhà cửa, giường chiếu, đồ dùng, lương thực, lừa ngựa, xe cộ. Trịnh Quang hiện là người lớn nhất, thay quyền sư phụ cai quản các sư huynh, sư đệ. Mấy ngày sau, tất cả đám sư huynh đệ ở nhờ nhà Phạm Bách đã lục tục đến. Đệ tử Đào gia vốn sống thân mật với nhau đã quen, nên dù thay đổi chỗ ở, họ cũng không cảm thấy cô đơn. Hàng ngày Trịnh Quang luyện võ cho họ. Thiều Hoa thì chán nản trong lòng, không thiết ra ngoài, nàng nằm ì ở trong phòng.

Một đêm tối trời, nàng chập chờn ngủ, thì có tiếng gõ nhè nhẹ ba tiếng. Nàng sẽ ngồi dậy, mở cửa, thấy có bóng đen chạy lên sườn đồi. Là người học võ, nàng biết người này muốn nói gì với nàng đây, nên nàng rảo bước đuổi theo. Tới đỉnh đồi, bóng đen ngừng lại:

– Hoàng cô nương, tôi tới trễ, cô nương có mong lắm không?

Thì ra Nghiêm Sơn. Nàng hồi hộp hỏi:

– Có tin của tiểu sư đệ không?

Đáp:

– Có thì có rồi đây. Đêm nay chúng ta đi cứu y.

Thiều Hoa mừng quýnh lên:

– Đi, chúng ta đi ngay bây giờ. Tiểu sư đệ bị giam ở đâu?

Nghiêm Sơn nói:

– Song-quái giam nó ở hang Địch-lộng, cách đây không xa.

* Ghi chú của thuật giả: Từ Phủ-lý đi về phía Nam 80 km tới Kẽm-trống, băng ngang cầu là hang Địch-lộng. Hang ở trên cao, phải trèo 80 bậc mới tới. Ngoài hang là một ngôi chùa. Đường hang đi thông qua quả núi dài 611 m. Trong hang có nhiều thơ, phú, sấm ký của danh nhân các thời. Hồi 1945, thuật giả được sư phụ dắt lên chùa lễ Phật. Trị sự trưởng là một sư bà. Thuật giả được sư bà thương mến, dắt đi viếng chùa, viếng hang, giảng cho không biết bao nhiêu là những bài thơ, phú, kệ, sấm ký ở trong hang. Lâu ngày qua, thuật giả không còn nhớ được pháp danh của vị sư bà khả kính ấy nữa. Chả biết trải qua bao đổi thay, những thơ, phú, kệ, sấm ký có còn không?

(Còn tiếp – Hồi 4)

Share this post