Anh Hùng Lĩnh Nam (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 7 (Tiếp theo)

Anh Hùng Lĩnh Nam (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 7 (Tiếp theo)

ANH HÙNG LĨNH NAM
* Tiểu Thuyết Lịch Sử
* Tác giả: Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ
* Nguồn: Blog Trần Đại Sỹ (https://trandaisy.wordpress.com)

* Để đọc những phần đã đăng, xin vào khung Search this site (Tìm Kiếm) và gõ tên tác giả: Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ.

HỒI THỨ BẢY
Phượng Hoàng đậu chốn cheo leo
Gặp khi bão táp phải theo đàn gà
(Tiếp theo)

Đào Kỳ trở về Thái-hà trang, nó biết với một trang trại lớn như Thái-hà trang thì tổ chức phòng vệ phải cực kỳ nghiêm mật, nhất là trong trang còn giam giữ người nữa. Kinh nghiệm những ngày còn ở Đào trang cho biết, khi thu nhận người lạ vào trong trang, thì phải theo dõi một thời gian. Bây giờ nó đi ra ngoài ba ngày, trở về, thế nào cũng bị theo dõi, nên nó tuyệt không có hành động gì khác lạ.

Ba ngày sau, nó vừa thức giấc thì tiểu đồng hầu cận Đức Hiệp đến gõ cửa gọi nó:

– Quản trang cần gặp ngươi!

Nó vội vã mặc quần áo đến gặp Đức Hiệp. Đức Hiệp bảo nó:

– Này chú bé Văn Lang, hôm nay tên thư đồng hầu tiểu thư bị ốm, ngươi được thay thế nó để hầu hạ tiểu thư. Vậy ngươi theo ta đến phòng tiểu thư.

Lão dẫn nó đi sang dãy nhà thứ nhì. Đây là dãy nhà có nhiều hoa thơm, cỏ lạ nhất. Hàng ngày nó vẫn đến đây tưới cây, nhưng nó chưa thấy tiểu thư bao giờ.

Đức Hiệp đến trước một phòng gõ cửa ba tiếng, rồi nói:

– Tiểu sư muội, ta mang đến cho tiểu sư muội một tên thư đồng mới.

Tiếng nói thanh thoát từ trong vọng ra:

– Có phải thằng nhỏ trồng hoa không? Cho nó vào đi.

Đức Hiệp vẫy Đào Kỳ cho vào. Đào Kỳ vào phòng, thấy một thiếu nữ tuổi khoảng 17-18 ngồi trên ghế đọc sách. Nhan sắc xinh đẹp, dáng người thanh tú. Đôi mi cong lên trông rất khả ái:

– Tôi là tiểu đồng Văn Lang, đến hầu tiểu thư.

Thiếu nữ nhìn nó từ đầu đến chân rồi hỏi:

– Ta nghe sư huynh Đức Hiệp nói ngươi là con nhà thế tộc danh gia, phạm tội giết quân Hán, đáng lẽ bị tru lục, nhưng nhờ sư huynh ta làm Huyện úy nên tìm cách chạy tội cho ngươi. Ngươi vì đánh cuộc với cha ta, nên phải làm nô bộc cho ta. Đức Hiệp còn nói: Với khả năng của ngươi, ngươi muốn trốn khỏi Thái-hà trang lúc nào chả được, nhưng tuyệt nhiên ngươi không làm thế. Nô bộc khác thường chỉ làm việc để lĩnh tiền, ham chơi. Còn ngươi thì chả bao giờ ngươi đòi tiền, chăm chỉ cần cù. Như vậy thì người là đấng trượng phu có tư cách, chứ không phải như những kẻ khác, nói đấy rồi lại nuốt lời. Ta có một tên thư đồng, nó bị ốm, ta không muốn ngươi phải tưới hoa nữa, ngươi lên đây làm việc với ta. Lúc rảnh rỗi, ngươi nên đọc sách để mở rộng hiểu biết, còn hơn là tưới cây cắt hoa.

Đào Kỳ xá thiếu nữ:

– Cám ơn tiểu thư quan hoài.

Bây giờ nó mới nhìn kỹ thiếu nữ, nước da trắng mịn, dáng người thanh thoát, đôi mắt sáng, to đẹp vô cùng. Nó so sánh thiếu nữ với sư tỷ Thiều Hoa thì thấy nàng thua xa. Ở sư tỷ nó thấy tỏa ra một vẻ thu hút người ngoài vào. Sư tỷ nó cũng dáng người mảnh khảnh, nhưng cử chỉ linh hoạt hơn, tính tình thì dường như cả hai cùng ôn nhu văn nhã như nhau. Nó hỏi thầm:

– Không biết tiểu thư này có biết võ như sư tỷ mình không? Dường như nàng chỉ đọc sách mà thôi. Đúng ra nàng không đẹp bằng sư tỷ mình, nhưng kể ra cũng khó kiếm được người đẹp như nàng. Không biết có phải nàng là con của Lê Đạo Sinh không?

Công việc của thư đồng chẳng có gì, ngoài việc đốt trầm trong lư hương của tiểu thư, xếp đặt sách vở lại cho gọn, lau chùi án thư đọc sách, mài mực. Nhưng có điều nó muốn chạy chơi thì không được. Nó cứ phải ở phòng đọc sách, tiểu thư gọi nó phải vào. Chỉ có giờ ăn cơm thì nó được tự do thôi.

Sáng hôm ấy, nó vừa đốt trầm hương xong, thiếu nữ bảo nó:

– Lát nữa đây thầy của ta đến, ngươi cũng phải chào kính cho lễ độ.

Lát sau, một người trang phục theo lối nho sinh, tuổi khoảng tứ tuần đến. Thiếu nữ cung kính chấp tay:

– Con là Phương Lan cung kính vấn an thầy.

Nho sinh vẫy tay:

– Không dám, tôi cũng kính cẩn vấn an tiểu thư.

Đào Kỳ liếc nhìn nho sinh: Mặt mũi tươi hồng, tiếng nói lớn mà khoan thai, dáng điệu đường bệ. Nó cũng chấp tay hành lễ. Nho sinh hỏi Phương Lan:

– Thư đồng mới đấy à?

Phương Lan nói:

– Thưa thầy, vâng. Chú bé này là con nhà danh gia, vì bị tội nên sư huynh con cứu ra. Cha con cho chú ẩn thân ở đây.

Nghe giọng nói lơ lớ không rõ, Đào Kỳ mới biết nho sinh không phải người Việt, mà là ngưởi Hán. Ông nói:

– Phạm tội à? Nếu phạm thường tội như ăn cắp, ăn trộm thì cần phải dạy dỗ lại, trẻ con đã biết gì? Chú là con nhà danh gia thì chắc không phải ăn trộm ăn cắp đâu. Hắn lại học võ, rồi đi đánh bọn quân Hán hung dữ chứ gì? Hừ… ta còn lạ gì bọn này nữa. Nếu chú phạm tội đó thì không phải là tội, mà là thiếu niên anh hùng. Ta là người Hán, nhưng ta chúa ghét bọn Hán tàn bạo. Ta là nho sinh, đi truyền đạo của Phu-tử, ta coi người Việt, người Hán cũng như nhau. Nhưng người Việt đáng thương hơn.

Đào Kỳ thấy thiện cảm với nho sinh. Nó sang phòng bên ngồi. Bên này, nho sinh đang giảng Bắc sử cho Phương Lan. Trong lịch sử giáo dục Việt Nam, từ hồi Lĩnh Nam cho đến những năm 1925-1926, học sinh thường học hai thứ sử, một là Bắc sử tức sử Trung Hoa, hai là Nam sử tức sử Việt Nam. Vào thời kỳ Lĩnh Nam, học sinh chỉ học Bắc-sử, còn một số ít con nhà danh gia yêu nước mới học Nam-sử. Đào Kỳ là con một Lạc Hầu đất Cửu Chân, chí lúc nào cũng mong phản Hán phục Việt, nên nó được học Nam sử rất kỹ. Nó ngồi yên nghe nho sinh giảng về thời đại Hán-Sở tranh hùng:

“… Xuất thân của Hán Cao Tổ là người thất học, hạnh kiểm, đạo đức cũng không có. Tài không, đức không nên Cao Tổ rất nể sợ những người dòng dõi thế gia. Lưu-hầu Trương Lương, bảy đời làm tướng, được Cao Tổ nể nhất, kế gì cũng tin, nói gì cũng nghe.

Khi được nước rồi thì Cao Tổ không chịu phong tước cho tướng sĩ. Chiều chiều họ hay tụ nhau ở bãi sông đùa nghịch. Cao tổ đứng trên lầu thấy vậy hỏi Trương Lương:

– Các tướng tụ hội nhau làm gì vậy?

Trương Lương dọa:

– Để làm phản.

Cao tổ thất kinh hỏi:

– Tại sao họ phản ta?

Trương Lương đáp:

– Bệ hạ cùng họ vào sinh ra từ, trăm cay nghìn đắng mới có ngày nay. Thế mà khi được nước rồi, chỉ mất một tờ giấy, cho mỗi người một chức, tước, bệ hạ cũng không cho. Ngược lại bệ hạ rình họ có lỗi gì thì mang ra giết. Họ không phản sao được?

Cao tổ hoảng kinh hỏi:

– Thế thì ta phải làm gì?

Đáp:

– Bệ hạ ghét ai nhất?

– Bình sinh ta ghét nhất Ung Sỉ. Khi hắn còn theo Hạng Võ, đã mang quân vây bắt gia quyến ta. Nay tuy về hàng mà ta còn chưa quên.

– Vậy thì ngày mai bệ hạ gọi Ung Sỉ vào phong tước cho y. Tự nhiên những người khác tỉnh ngộ rằng bệ hạ chưa phong chức tước là còn chờ đấy thôi, chứ người bệ hạ ghét nhất còn được phong nữa là… Sau đó bệ hạ phong cho mỗi người một chức, cho họ đi các phương trấn nhậm thì lo gì.

Vì vậy con thấy đấy, phàm khi người nghèo khó thì người ta dễ thân với nhau. Khi có mùi phú quý rồi, thì người ta xa nhau. Cao tổ là người thất học, vô lại, khi được ngôi vua thì quên rằng ngôi vua đó là do những người theo mình mới thành, mất một tờ giấy, phong chức tước cho người ta cũng không. Ba người giúp Cao tổ thành đại nghiệp là: Hàn Tín về quân sự, Tiêu Hà về hành chánh, Trương Lương về chính trị. Trương Lương khôn ngoan, biết sự đã thành rồi, khó sống yên, nên bỏ đi tu mà thoát nạn. Tiêu Hà cầm quyền hành chánh không đáng lo. Cao tổ bắt bỏ tù. Hàn Tín cầm quyền quân sự, Cao tổ lo lắng, đem cả nhà giết đi. Cho nên phê bình về Hán Cao tổ, cổ nhân đã nói “Trương Lương dĩ khứ, Tiêu Hà dĩ ngục, Hàn Tín dĩ trảm, Hán đắc thiên hạ để do Tín vi công”. nghĩa là Trương Lương bỏ đi tu, Tiêu Hà bị tù, Hàn Tín bị giết. Nhà Hán được thiên hạ đều do công của Hàn Tín”.

Đào Kỳ đã đọc sử về giai đoạn này, nhưng nó không được thầy đồ phẩm bình. Nay nghe nho sinh này phê bình đanh thép, nó đâm ra khâm phục. Nó nghĩ:

– Dạy sử như thế thì hãy nên dạy. Chứ dạy sử chỉ là kể truyện xưa thì kể làm gì. Nho sinh này là người Hán, mà không hề thiên vị các vua nhà Hán.

Sau khi giảng sử, thì nho sinh cho Phương Lan nghỉ một lúc rồi lại giảng về kinh Dịch. Hồi ở Cửu Chân, Đào Kỳ chuẩn bị học kinh Dịch thì xảy ra biến cố, nên nó chưa được biết gì về khoa học tối cao này. Nho sinh giảng về học thuyết Âm Dương:

“…Âm Dương là kỷ cương của trời đất. Truyền thuyết nói rằng học thuyết Âm Dương là do vua Phục Hy tìm ra, sai lắm. Âm Dương là một học thuyết về sự tuần hoàn của vũ trụ: Trời là Dương, đất là Âm. Nắng là Dương, mưa là Âm. Khí là Dương, huyết là Âm. Học thuyết Âm, Dương bao trùm tất cả các môn học như: Ăn uống, địa lý, lịch sử, võ học.

Nhưng trong con người ta thì phía lưng là Dương, phía bụng ngực là Âm. Bên trái là Dương, bên phải là Âm. Phía trên là Dương, phía dưới là Âm. Trong người thì Tâm, Can, Tỳ, Phế, Thận là Âm. Còn Vị, Đại trường, Tiểu trường, Tam tiêu, Bàng quang, Đởm là Dương.

Phàm con người tập võ cũng phải hiểu quy luật Âm Dương. Đánh là Dương, thủ là Âm. Ngoại công như các chiêu thức là Dương, còn nội công tức luyện cho lực khoẻ là Âm. Tập võ, cũng như luyện võ, cần phải giữ cho Âm, Dương thăng bằng. Âm Dương không thăng bằng thì sẽ mất, không thành công. Có người lo luyện chiêu thức, nhưng chiêu thức tinh diệu mà đánh ra không có lực thì cũng vô ích.

Đào Kỳ nghe nho sinh giảng đến đâu, tỉnh ngộ đến đó, nó nghĩ:

– Tại sao ta không đem học thuyết Âm Dương áp dụng vào việc luyện võ? Lối luyện võ của nhà ta thiên về Dương cương, nên muốn trở thành cao thủ thường phải lớn tuổi mới đạt được. Nếu ta biết điều hòa Âm Dương thì có thể tiến mau hơn được.

Phương Lan hỏi:

– Thưa thầy, trong các võ phái Lĩnh Nam, đã có phái nào biết áp dụng học thuyết Âm Dương chưa?

Nho sinh đáp:

– Phái Long-biên thì thiên về Âm nhu. Phái Cửu-chân, Hoa-lư thì thiên về Dương cương. Phái Sài-sơn thì khi cương khi nhu, nhưng họ không nhất thiết luyện võ, mà còn học cả y học, trồng hoa, văn học và cả nghệ thuật nấu ăn nữa. Phái Tản-viên toàn Dương cương, trước đây Vạn Tín Hầu Lý Thân có nhân các chiêu số Dương cương, chế ra các chiêu Âm nhu chống lại. Nhưng chính ngài cũng chỉ sử dụng từng chiêu một hoặc Âm hoặc Dương chứ chưa thể hợp nhất Âm, Dương làm một.

Phương Lan im lặng một lúc hỏi:

– Cha con thường nói rằng, ngày trước phái Tản-viên nhà con uy danh lừng lẫy với Phục ngưu thần chưởng của phò mã Sơn Tinh. Sau phò mã Sơn Tinh bị bại về tay Vạn Tín Hầu Lý Thân, nguyên vì Vạn Tín Hầu dùng nhu thắng cương. Dù thắng được Sơn Tinh, nhưng ngài cũng khâm phục kẻ chiến bại, nghiên cứu Phục ngưu thần chưởng, rồi chế ra 36 chiêu Âm nhu chống lại, và cũng đặt tên là Phục ngưu thần chưởng. Chưởng pháp này lưu truyền trong phái Tản-viên chỉ được có một đời. Đến đời sau thì 36 chiêu Âm nhu không sử dụng được, vì không có nội công Âm nhu của Vạn Tín Hầu… Rồi dần dần cho đến nay chính 36 chiêu Dương cương cũng bị mai một. Cha con là đệ nhất cao nhân của phái Tản-viên mà cũng chỉ biết có 12 chưởng.

Nho sinh gật đầu:

– Đúng thế, nếu ai học được nội công Âm nhu của Long-biên với nội công Dương cương của Tản-viên và Cửu-chân thì sử dụng được toàn bộ Phục ngưu thần chưởng.

Chiều hôm đó, Đào Kỳ xếp sách cho Phương Lan, nó thấy bộ Lục-thao bèn cầm lên xem:

– Bố ta nói ngày trước Khương Tử Nha có tài trùm hoàn vũ, thứ nhất là thuật dùng người, thứ nhì là thuật cai trị, thứ ba là thuật dụng binh, giúp Võ vương nhà Chu được thiên hạ. Sau Khương Tử Nha chép lại thành bộ Lục-thao. Bộ này người Hán dấu diếm không cho truyền sang đất Việt. Lục Trúc tiên sinh giao thiệp với người Hán nhiều nên mới có sách này. Ta ở đây chẳng làm gì, tại sao không học, để sau này dùng phản Hán phục Việt? Lấy Lục-thao đánh Hán đúng là Giáo Chệt đâm Tầu vậy. Bố ta bảo: Người Hán có cái hay thì học lấy, cái dở thì tránh đi. Người Hán tốt thì thân, người Hán xấu thì tha. Đừng vì người Hán xấu mà ghét hết người Hán và ghét cả học thuật của họ.

Từ đấy hàng ngày ngồi cho Phương Lan sai, nó ôm cuốn Lục-thao nghiền ngẫm. Chỗ nào khó hiểu, nó chịu khó đọc đi đọc lại, thì sáng nghĩa ra. Có ai ngờ một bộ sách triết lý về quân chính cao như vậy, mà đến tay một đứa nhỏ, lòng đầy tự hào gia thế, dân tộc, nên hiểu thấu. Tuổi nó tuy mới 13, nhưng nó đọc sách đó, nó có những suy nghĩ như người lớn. Nó nhận thấy nho sinh dường như giảng tất cả những loại sách Bách-gia, Chư-tử cho Phương Lan, dù những thư đó nàng không thích, không cần thiết cho nàng.

Một hôm sau giờ dạy, Phương Lan bưng ra một thùng hoa quả, gồm mít, chuối, ổi, cam và bưởi dâng cho nho sinh. Nho sinh nói lời cám ơn, bảo Đào Kỳ:

– Cháu bé, phiền cháu mang ra xe cho ta.

Đào Kỳ mang thùng hoa quả ra chỗ xe ngựa của nho sinh. Khi rời xa phòng Phương Lan, nho sinh hỏi nó:

– Tất cả những bài ta giảng, cháu hiểu hết không?

Đào Kỳ giật mình. Không ngờ nho sinh tinh tế đến như thế, dù nó ngồi ở phòng bên kia, ông cũng biết nó lắng tai nghe. Bây giờ nó mới hiểu rằng sở dĩ ông giảng lớn tiếng và giảng toàn những loại sách chính trị, quân sự cho Phương Lan là cốt cho nó nghe. Nó cảm thấy trong lòng dâng lên một niềm ghi ơn sông rộng:

– Tiên sinh! Cháu hiểu hết tất cả những gì tiên sinh giảng. Cháu biết thâm ý tiên sinh giảng sách cho cháu nghe hơn là cho Phương Lan, ân nghĩa này không bao giờ cháu quên. Xin tiên sinh cho cháu biết danh tánh.

Nho sinh nói:

– Ta họ Lục, tên Mạnh Tân, người đất Kinh-châu. Ta thi đỗ Hiếu-liêm, làm quan Thái-sử của Hán triều. Nhân ta buồn thế sự, nảy ra ý sang Giao Chỉ truyền đạo thánh hiền. Ta sang mở trường dạy học ở Long-biên, học trò ta có cả Hán lẫn Việt. Ta… ta… rất khâm phục những người hào kiệt như cha cháu. Ta chống Thái Thú Nhâm Diên, Tích Quang lợi dụng đạo thánh để đồng hóa người Việt, hơn là thực tâm truyền bá học thuật. Tại sao Việt phải nhập vào Hán? Việt là Việt, Hán là Hán, hai nước hàng xóm thân thiết với nhau có hay hơn không? Kể từ ngày mai, nếu cháu có gì thắc mắc cứ hỏi ta. Lục-trúc tiên sinh nể ta lắm, không dám làm khó dễ cháu đâu.

Khi Lục Mạnh Tân lên xe, Đào Kỳ quỳ gối xuống lạy bốn lạy:

– Xin thầy nhận cho con bốn lạy này.

Mạnh Tân để Đào Kỳ lạy rồi nói:

– Từ nay con là học trò ta, cũng như Phương Lan.

Đào Kỳ gặp Mạnh Tân, nghe lời ông nói, như người ở dưới sình lầy được lên bờ tắm gội. Nó tự nhủ từ nay tối thì nó luyện võ, ngày thì nó đọc sách. Sau này gặp lại cha mẹ, thấy nó học được nhiều, chắc mừng lắm.

Kể từ hôm đi Long-biên về tới nay là 15 ngày, nó ước chừng người của Thái-hà trang không theo dõi nó nữa. Đợi trời tối, nó dùng giấy dầu gói giấy bổi, đá lửa, nến, rồi dắt dao trủy thủ ra bờ ao. Nhìn kỹ xung quanh không có ai. Nó cởi quần áo dấu kín, rồi xuống ao, lần vào đường hầm đến nhà tù. Nó vừa thò đầu lên nhìn qua song gỗ, thì thấy trong sân nhà tù có ánh sáng từ một căn phòng rọi ra. Từ căn phòng đến chỗ nó ẩn không xa cho lắm. Nó nghe rõ hơi thở của bọn người cùng vọng ra.

Có tiếng nói của đàn bà:

– Sư phụ, hôm nay chúng tôi tới thăm sư phụ để hỏi về vấn đề đó. Đã bảy năm rồi còn gì nữa. Mỗi năm vào cuối mùa thu, chúng tôi lại tới thăm người, hỏi lại một lần. Sáu lần trước sư phụ không chịu nói, đến nỗi bị Lục-trúc tiên sinh tra khảo, chân bị tật đi không nổi nữa. Đời người được mấy chốc? Sư phụ nói đi, Lục-trúc tiên sinh sẽ thả người ra.

Đào Kỳ nhận ra tiếng của người phụ nữ mà nó gặp ở quán nước cách đây không lâu. Nó nhớ phụ nữ này còn đi với hai sư huynh nữa.

Có tiếng người già trả lời:

– Mai Huyền Sương, ngươi còn dám mở miệng gọi ta là sư phụ ư? Người cùng Lê Nghĩa Nam, Hoàng Đức Tiết đánh thuốc cho ta mê, bắt nộp cho Lê Đạo Sinh, để tra khảo ta phải khai ra cách luyện nội công tâm pháp của Vạn Tín Hầu, cùng bài quyết biến hóa của phái Long-biên. Đời nào ta khai. Ta biết Lê Đạo Sinh muốn có nội công Âm nhu hợp với nội công Dương cương của phái Tản-viên. Y luyện rồi hợp lại để sử dụng Phục Ngưu thần chưởng. Ta đã không khai bảy năm rồi, thì vĩnh viễn ta không khai. Người đừng hỏi vô ích.

Một giọng khác nói:

– Nguyễn Phan! Ngươi không khai, thì rồi ngươi cũng chết rục xương trong nhà tù này mà thôi. Ngươi giữ bí quyết võ cơng mà làm gì?

Tiếng người già nỏi:

– Lê Nghĩa Nam, khi xưa ngươi đến cửa ta bái sơn, được ta thu nhận làm đệ tử, dạy cho ngươi võ công đến trình độ ấy kể cũng hiếm có. Không ngờ ngươi lại đi theo bọn Lê Đạo Sinh, bị ta bắt được, ngươi phản sư môn. Bây giờ người còn dám kêu tên ta nữa sao?

Lê Nghĩa Nam nói:

– Ta kêu ngươi là tên gian tặc. Được, chúng ta rời khỏi đây. Trong ba ngày ngươi sẽ không được cho ăn, cho uống, xem ngươi có gan được nữa không? Ngươi sẽ bị con tỳ, con vị của ngươi nó hành hạ. Sau ba ngày ta sẽ đến hỏi ngươi. Ngươi nói thì ta cho ăn, ngươi không nói thì ta để ngươi chết.

Đào Kỳ thấy cánh cửa mở, rồi ba người đi ra. Đức Hiệp đứng ở ngoài khóa cửa lại. Cả bốn người đi về phía cổng. Đức Hiệp khóa cổng rồi cùng đi.

Đào Kỳ chui ra ngoài hầm, lên khỏi cái ao nhỏ. Nó đến phòng giam Nguyễn Phan, dùng chìa khóa làm ở Cổ Loa cho vào ống mở. Cách một tiếng, ống khóa mở ra, nó kéo xích, đẩy cửa bước vào. Trong phòng có tiếng hỏi sẽ:

– Ai?

Đào Kỳ nhận ra tiếng Nguyễn Phan, nó nói:

– Suỵt! Chớ lên tiếng, tôi tới cứu tiền bối đây.

Nó móc bọc giấy dầu, mở ra lấy đá lửa đánh lên, châm vào ngọn nến. Ánh sáng tỏa ra, nó thấy một lão già, râu tóc dài xuống tới lưng, bạc trắng như cước, song mặt thì lại trẻ như người năm mươi. Nó biết là Nguyễn Phan, chưởng môn phái Long-biên, bị mất tích đã bảy năm, không ngờ ông bị xiềng hai chân trong hai cái vòng sắt. Nguyễn Phan bị xích vào một cái cột sắt lớn, chôn ở giữa phòng. Trong phòng mùi hôi hám xông lên nồng nặc cực kỳ khó chịu.

Nguyễn Phan thấy Đào Kỳ cởi trần, chỉ mặc một cái quần lót, thì hỏi:

– Chú em, làm sao chú có chìa khóa, làm sao vào được đây?

Đào Kỳ phất tay:

– Khoan rồi hãy kể chuyện. Cháu phải cứu tiền bối ra đã.

Nó rút con dao truỷ thủ cắt xích sắt. Nhưng Nguyễn Phan lắc đầu:

– Vô ích cháu ơi. Xích sắt này bằng thép. Lê Đạo Sinh luyện chế đặc biệt để giam tù nhân. Với con dao bằng sắt non thì làm sao cháu cắt nổi. Những xích sắt này, do xưởng luyện kim của quân Hán luyện ra, không đao kiếm nào chặt được.

Đào Kỳ thở dài tỏ ý thất vọng:

– Vậy cháu phải làm sao bây giờ? Cháu đi gọi đệ tử của phái Long-biên kéo đến cứu tiền bối được không?

Nguyễn Phan nói:

– Vô ích, ta có bốn đệ tử, thì ba đứa phản ta rồi. Nay một đứa kéo đến thì ăn thua gì? Vả lại dù cả bốn đứa cũng không phải đối thủ của Lê Đạo Sinh.

Đào Kỳ không chịu:

– Cháu sẽ đi Long-biên, mua cái búa thật tốt về đây, chặt xích cứu tiền bối. Khi chân tay tiền bối cử động được rồi thì còn sợ gì Lê Đạo Sinh nữa?

Nguyễn Phan nói:

– Chân ta bị liệt rồi. ngươi có chặt xích thì cũng không đưa ta khỏi nơi này được đâu.

Nguyễn Phan nghĩ một lúc rồi nói:

– Ừ, lúc cháu vận sức cắt xích sắt, ta thấy cháu sử dụng nội công của phái Cửu-chân. Vậy cháu với hai thằng bé con có hiệu là Cửu Chân song hiệp là chỗ thế nào?

Đào Kỳ thấy Nguyễn Phan gọi bố với cậu mình là hai thằng bé con, nó có vẻ bất mãn. Nhưng nó nghĩ lại ngay:

– Ông này là thái sư phụ của chưởng môn Long-biên là Nguyễn Trát. Mà võ công, tuổi tác Nguyễn Trát đều hơn bố nó, thì ông có gọi bố nó là bé con cũng chẳng có gì là lạ.

Nguyễn Phan dường như hiểu ý nó, nói:

– Ngươi bất mãn à? Ngày xưa Đào Thế Kiệt, Đinh Đại theo thái sư phụ từ Cửu Chân ra Cối-giang, có ở lại trang ta chơi mấy ngày. Bấy giờ chúng nó khoảng 20 hay 21 tuổi gì đó. Ta với thái sư phụ của nó đàm đạo võ công, chúng nó đứng hầu một bên, thỉnh thoảng cũng đối đáp được vài câu.

Đào Kỳ nghe ông kể, bớt bất mãn phần nào:

– Cháu là con út của Đào Lạc Hầu.

Nguyễn Phan reo lên:

– Hay thực, ngươi là con Đào Thế Kiệt, hèn chi nghĩa hiệp. Làm sao ngươi biết ta ở đây vào cứu?

Đào Kỳ kể vắn tắt câu chuyện từ khi rời Cửu Chân đến giờ cho lão nghe.

Lão thở dài nói:

– Như vậy là sau khi ta bị giam, đệ tử của ta tranh giành chưởng môn đánh nhau. Nguyễn Thuật được chức chưởng môn, nhưng chỉ được có năm năm thì nó chết. Hiện con nó là Nguyễn Trát thay quyền. Chà… nguy quá. Nếu bọn Lê Nghĩa Nam, Hoàng Đức Tiết, Mai Huyền Sương trở lại tranh giành chức chưởng môn thì Nguyễn Trát làm sao địch lại?

(Hết Hồi 7)

Share this post