Anh Hùng Lĩnh Nam (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ) Hồi 13

Anh Hùng Lĩnh Nam (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ) Hồi 13

ANH HÙNG LĨNH NAM
* Tiểu Thuyết Lịch Sử
* Tác giả: Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ
* Nguồn: Blog Trần Đại Sỹ (https://trandaisy.wordpress.com)

* Để đọc những phần đã đăng, xin vào khung Search this site (Tìm Kiếm) và gõ tên tác giả: Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ.

HỒI THỨ MƯỜI BA
Chư Quân Khởi Thị Vô Tâm Huyết
(Phan Chu Trinh 1872-1926, Chí thành thông thánh thi)
Nghĩa là: Các người nào phải không có tấc lòng son với đất nước. (1)

Chỉ còn năm ngày nữa là phái Long-biên khai hội. Đây là cuộc đại hội thường lệ, cứ ba năm một lần, để người chưởng môn kiểm soát đệ tử. Để huynh đệ trong môn phái có dịp gặp gỡ, trao đổi kinh nghiệm với nhau.

Cuộc khai hội năm nay còn có tính chất quan trọng hơn: đó là cử người vào phái đoàn dự đại hội võ thuật Lĩnh Nam ở hồ Tây.

Từ ngày thành lập môn phái đến giờ, đây là lần đầu tiên phái Long-biên có cuộc khai hội quan trọng thế này. Bởi ngoài ý nghĩa chỉ định người đại diện tham dự đại hội về phương diện danh dự, cuộc hội còn có tầm mức bảo vệ lẽ sống của môn hộ. Theo như mọi người suy nghĩ, cuộc đại hội do Lê Đạo Sinh mời các gia các phái tham dự hầu đưa ra quyết định: Nên giữ nguyên môn hộ hay thống nhất làm một. Sau đó cử người chưởng môn đi Trung Nguyên yết kiến Hán đế để tỏ lòng quy phục, xin được tiếp tục luyện tập võ nghệ.

Cái rắc rối là môn phái Long-biên vốn có nguồn gốc từ Vạn Tín Hầu Lý Thân. Mà Lý Thân, nguyên là một người đất Âu Lạc sang yết kiến Tần Thủy Hoàng, nhận chỉ dụ của vua Tần đánh Hung-nô, tức là thần phục Trung Nguyên. Song đã hơn 200 năm nay, người Hán cai trị Lĩnh Nam, người Việt lâm cảnh mất nước, đệ tử phái Long-biên lại chủ trương phản Hán phục Việt, được dân chúng kính phục là võ học chính phái. Bên trong phái Long-biên còn ba cao thủ vai sư thúc, sư bá của Nguyễn Trát. Họ tuy ly khai môn hộ, nhưng còn muốn trở lại tranh dành chức chưởng môn. Nguyễn Trát đã mời sư đệ Phan Đông Bảng đến trợ giúp. Nhưng ông nghĩ lại mình không phải đối thủ của ba vị sư bá, sư thúc. Nếu các vị bề trên đó muốn ra tay, thực là nguy khốn. Ông được tin các vị này hiện nay đã được tân Thái thú Tô Định giúp đỡ. Họ có ý định dùng võ công tranh dành chức chưởng môn. Sau khi dành được chức chưởng môn, họ sẽ nhân danh môn phái tham dự đại hội hồ Tây. Họ cũng sẽ đi theo phái đoàn sang Trung Nguyên, yết kiến Hán đế, như vậy, sẽ trái với ý chí của đệ tử phái Long-biên từ hơn 200 năm nay.

Theo ý Nguyễn Trát, ông sẽ cùng sư đệ Phan Đông Bảng đến dự đại hội. Hai người sẽ phản đối chủ trương của Lê Đạo Sinh, với lý do khi sang Trung Nguyên cầu xin Hán đế thì coi như đã đầu hàng, còn đâu là ý chí phục quốc nữa?

Sáng nay, ông họp các đệ tử bản môn để thăm dò ý kiến trước. Các đệ tử đã tụ tập đông đủ. Ông chờ sư đệ Phan Đông Bảng để cùng tới chủ tọa. Ông đã quyết định: Nếu các các vị sư bá, sư thúc thuận giữ nguyên chủ trương phản Hán, phục Việt thì ông đồng ý thoái vị chức chưởng môn. Còn nếu chủ trương phục tùng người Hán, ông sẽ quyết chiến một trận, lấy cái chết để báo ơn cho liệt tổ Âu Lạc.

Thấy vợ, các con cùng đứng chung quanh, ông hỏi:

– Có gì lạ không?

Phương Dung nói:

– Con thấy dường như bố đang lo lắng chuyện gì?

Ông gật đầu nói:

– Các con đến hội trường trước, cha sẽ cùng Phan sư thúc tới sau, chúng ta cùng giải quyết chung.

Phương Dung nói:

– Thưa bố, các sư thúc Trương Thủy Hải và Trương Đằng Giang có tới không?

Trong các sư thúc của phái Long-biên, Phương Dung gần gũi với hai vị sư thúc sinh đôi này nhất. Tính nàng hay đùa nghịch, lí lắc, nên không hợp với cha. Ngược lại, hai vị sư thúc này tính tình thâm trầm, nghiêm trang, nhưng hai ông thấy Phương Dung lanh lợi, phá phách, hai ông lại thấy mến nàng.

Nguyễn Trát cười gượng:

– Hai sư thúc đã đến từ sáng sớm hôm nay, lúc con còn ngủ.

Ông đứng dậy. Các sư đệ Phan Đông Bảng, Trương Thủy Hải, Trương Đằng Giang cũng đã tới. Ông đứng lên cùng họ tiến vào hội trường.

Một đệ tử hô:

– Chưởng môn đến!

Nguyễn Trát cùng các sư đệ tiến vào hội trường, giữa các hàng đệ tử đang cúi đầu hành lễ. Ông vẫy tay:

– Miễn lễ!

Đợi cho các đệ tử ngồi xong, ông khoan thai đứng lên nói:

– Thưa các vị sư đệ, các vị Lạc Hầu, các đệ tử của phái Long-biên. Hôm nay chúng ta tụ họp nhau đây để bàn về một vấn đề quan trọng, đó là việc suy cử người dự đại hội Tây-hồ vào ngày rằm tháng tám năm tới. Như chúng ta đều biết, tân Thái thú Tô Định ra Ngũ-lệnh, cấm chúng ta tập võ. Đứng trước sự suy tàn của võ học Lĩnh Nam, Lục-trúc tiên sinh gửi thư mời hào kiệt thuộc các gia, các phái tới đại hội Tây-hồ hầu cử người đại diện sang Trung Nguyên tỏ lòng quy phục Hán đế, xin Hán đế cho phép được tiếp tục luyện võ. Vì vậy, tôi mời các sư huynh, sư đệ đến đây để tham khảo ý kiến.

Phan Đông Bảng nói:

– Tôi nghĩ, đó là dã tâm của Tô Định. Hán đế ở nơi xa xôi, làm sao biết được tình hình tập võ của người Việt? Chẳng qua, một mặt Tô Định viết biểu tâu về triều rằng dân Giao Chỉ mượn cớ luyện tập võ nghệ để tụ tập nhau làm loạn nên y mới ra lệnh cấm, một mặt y muốn các võ phái thống nhất dưới sự kiểm soát của y, hầu để dễ sai phái. Phái Long-biên chúng ta thành lập đã gần 200 năm nay, hiệp nghĩa khắp thiên hạ, chủ trương phản Hán, phục Việt. Chúng ta không thể nào bỏ môn hộ, dù có bỏ môn hộ, chúng ta cũng không thể bỏ Âu Lạc. Các đệ tử nghĩ sao?

Cả hội trường reo lên:

– Phản Hán, phục Việt!

– Lĩnh Nam muôn năm!

Trương Thủy Hải và Trương Đằng Giang là hai anh em sinh đôi, sư đệ của Đông Bảng. Xưa nay hai ông nổi tiếng cương trực, coi những người theo Hán hãm hại người Việt như cừu thù. Nhưng các ông lại chủ trương rằng người Hán cũng có kẻ tốt, người xấu. Không nên coi tất cả người Hán là cừu thù. Người Hán trên đất Lĩnh Nam chưa quá 50 vạn người mà họ cai trị được mấy triệu người Việt vì có người Việt theo họ, chỉ đường cho họ.

Trương Thủy Hải nói:

– Chúng ta có thể hòa hoãn với người Hán, miễn là họ không tàn bạo. Tôi có nhiều người bạn là người Hán. Họ rất tốt. Mới đây họ cũng tỏ ý chống lại Ngũ-lệnh của Tô Định. Nếu chúng ta quang phục, họ có thể giúp chúng ta một tay. Quan trọng là phải giết bọn Việt theo chân bọn Hán tham ô. Sau là giết những tên Hán ác độc. Chúng ta không thể bỏ qua những người bạn Hán tốt, giúp chúng ta phục quốc.

Nguyễn Trát tường thuật việc Tô Định tới Cổ-đại. Vụ Huyện-úy Long-biên cho người bắt cóc Thánh Thiên, rồi ông kết luận:

– Không hiểu giờ này thân phụ Thánh Thiên ra sao?

Đông Bảng nói:

– Tô Định bắt ông chỉ với mục đích áp lực đòi ông nộp Thánh Thiên cho hắn mà thôi. Còn nếu Huyện-uý Long-biên bắt thì lại có vấn đề khác, vì Huyện-úy Long-biên muốn tìm cho ra người chủ trương đứng sau chú bé Âu Lạc, khiến Tô Định phải bỏ Ngũ-lệnh ở Cổ-đại. Chúng ta cần tìm cho ra nguyên ủy. Thủy Hải sư đệ, ngươi có thể điều tra vụ này giúp cháu Thánh Thiên được không?

Trương Thủy Hải gật đầu.

Nguyễn Trát nói:

– Chúng ta chuẩn bị sáp huyết thề.

Tục lệ sáp huyết thề đặt ra từ khi Vạn Tín Hầu Lý Thân dẫn đệ tử sang Tần. Trước khi đi, An Dương Vương cùng các quần thần như Cao Cảnh Hầu Cao Nỗ, Phương Chính Hầu Trần Tự Minh (2), Trung Tín Hầu Vũ Bảo Trung tiễn ngài lên đường. An Dương Vương sai dắt một con trâu ra, lấy dao cắt tai trâu, hứng huyết vào một cái chậu sành nhỏ. Ngài cùng quần thần lấy máu bôi vào kiếm của thầy trò Lý Thân, rồi khấn trước liệt tổ Lĩnh Nam: Mọi người cương quyết bảo vệ đất tổ, ai phản bội sẽ bị gươm đao giết chết.

Sau khi Vạn Tín Hầu Lý Thân tự tận, tục lệ đó vẫn được giữ trong phái Long-biên. Hôm nay là ngày đại hội, tục lệ sáp huyết được làm lại.

Một con trâu mộng do đệ tử dẫn vào hội trường. Nguyễn Trát dùng kiếm đưa nhẹ một nhát, tai trâu đứt lìa. Người đệ tử phụ trách bưng châu sành hứng lấy huyết, rồi để lên bàn thờ Tổ-sư.

Nguyễn Trát, Phan Đông Bảng, Trương Thủy Hải và Trương Đằng Giang là những người vai vế cao nhất, đứng lên sáp huyết trước. Bốn người rút kiếm ra, đưa tay vào chậu máu, đang định bôi vào lưỡi kiếm, bỗng có tiếng quát lớn:

– Khoan!

Bốn mũi tiễn bay đến cùng một lúc. Bốn tiếng choang vang lên. Bốn thanh kiếm rớt xuống đất.

Một đoàn người tiến vào đại sảnh. Dẫn đầu, một lão già gầy khẳng kheo, một lão béo mập và một phụ nữ tuổi khoảng năm mươi. Phía sau, lố nhố hơn mười người đều đeo kiếm.

Phan Đông Bảng nhận ra lão già thứ nhất là Lê Nghĩa Nam, sư bá của ông. Lão thứ nhì là Hoàng Đức Tiết và phụ nữ là Mai Huyền Sương; họ đều là sư thúc của ông. Ông chưa biết phản ứng thế nào, Nguyễn Trát đã bước ra, chắp tay xá và nói:

– Chúng tôi đã đạt thư mời các vị đến dự đại hội sau đây năm ngày. Nay các vị tiền bối giáng lâm sớm quá, chúng tôi không kịp nghinh tiếp, thực vô lễ. Bây đâu! Đưa quý vị tiền bối về nhà khách nghỉ!

Tuy ngoài miệng nói thế, nhưng trong lòng ông không khỏi lo ngại: Trang Cối-giang của ông canh phòng rất nghiêm mật. Từ ngoài trang đã có người giả làm nông dân canh chừng, rồi cổng trang có đệ tử gác và chung quanh hội trường đều có người tuần phòng, sao đám người này vào đây dễ dàng như thế này? Ông mời những người này vào nhà khách là có ý không cho họ dự buổi họp nội bộ của ông.

Lê Nghĩa Nam cười ha hả nói:

– Nguyễn Trát, Phan Đông Bảng, Trương Thủy Hải, Trương Đằng Giang, các người thấy sư bá, sư thúc mà không hành lễ, thực vô phép. Hành vi như thế cũng đòi lên mặt đại tôn sư của phái Long-biên được ư?

Nguyễn Trát nói:

– Các vị tiền bối đã ly khai, từ bỏ môn phái rồi, chúng tôi kính là kính các vị cao niên, chứ không còn tình sư thúc, sư bá gì nữa. Hôm nay quý vị tới đây, việc đầu tiên là dùng ám khí đánh văng kiếm của bọn tôi đi, không cho sáp huyết thề theo tục lệ môn quy, như thế là đoạn tuyệt với tổ tông rồi đó.

Một người đứng sau Hoàng Đức Tiết chỉ mặt Nguyễn Trát nói:

– Mày là tên phản bội sư môn, ngụy tiếm ngôi chưởng môn, mày còn vô lễ với sư bá, sư thúc, ta phải chém đầu mày để thanh lý môn hộ.

Nói rồi y rút kiếm tiến đến trước mặt Nguyễn Trát.

Cả hội trường nhất loạt đứng dậy, kiếm rút ra khỏi vỏ, tiếng binh khí và những giọng hằn học vang lên:

– Giết chết tụi phản nghịch!

– Giết bọn phản quốc!

Mọi người như muốn ăn sống nướt tươi bọn Nghĩa Nam, Đức Tiết và Huyền Sương.

Nghĩa Nam cười gằn một tiếng:

– Bọn đồ tử đồ tôn, mới học được vài cái múa mà đã dám lên mặt với người trưởng thượng ư? Ta sợ các người sẽ chết không có đất mà chôn. Hãy coi đây!

Y phất tay làm hiệu.

Lập tức các cửa hội trường đều bị đánh văng trở vào, mỗi cửa có mấy chục người tuốt kiếm chờ đợi.

Mai Huyền Sương nói:

– Nguyễn Trát, ngươi muốn cậy đông chăng? Ngươi hãy mở mắt ra mà coi.

Nguyễn Trát suy nghĩ thật kỹ:

– Đối phương đã tập kích, loại hết ba vòng đai canh gác của ta rồi, bây giờ lại bao vây hội trường nữa. Chúng đã chuẩn bị mà ta thì chưa. Nhất thiết ra tay, giỏi lắm là hòa. Nhưng dù hòa thì môn phái cũng hao tổn lực lượng ít nhất hơn nửa, còn đâu để mong phục quốc nữa?

Nghĩ rồi, ông vội xua tay ra lệnh cho đệ tử:

– Không được vọng động!

Ông quay lại hỏi Lê Nghĩa Nam:

– Xin tiền bối cho biết chủ ý?

Mai Huyền Sương nói:

– Cách đây hơn mười năm, sư phụ tự nhiên mất tích, không biết vì lẽ gì. Cho nên sư huynh đệ chúng ta họp nhau bầu người chưởng môn thừa kế. Nhưng Nguyễn Thuật dùng xảo kế đoạt chức chưởng môn. Đó là điều bạo nghịch bất đạo. Hôm nay chúng ta tới đây để chỉnh đốn lại môn phái. Nếu các người thuận theo chúng ta thì chúng ta để cho được sống rời khỏi đây. Còn các người chống đối, đừng trách chúng ta tàn nhẫn.

Hoàng Đức Tiết tiếp lời:

– Sư phụ mất tích có lẽ do Nguyễn Thuật ám hại. Hôm nay chúng ta phải trả thù cho sư phụ.

Trương Thủy Hải nói:

– Các người ngậm máu phun người, sư phụ ta hãm hại Thái sư phụ có gì làm chứng?

Lê Nghĩa Nam nói:

– Thôi, việc sư phụ mất tích hiện chưa biết ra sao, nhưng vấn đề trước mắt là: Chưởng môn phái Long-biên phải biết bài quyết biến hóa kiếm thuật và 72 thức trấn môn. Vậy người có biết không?

Nguyễn Trát nói:

– Thái sư phụ mất tích, không truyền lại cho ai, thành ra đến nay những bí quyết đó của bản môn bị thất lạc. Ngươi cũng đã biết, còn hỏi làm gì?

Hoàng Đức Tiết nói:

– Khi võ công trấn môn không còn, đương nhiên người có vai vế cao nhất hoặc võ công cao nhất sẽ làm chưởng môn. Nếu nói về võ công, về vai vế thì ngươi không đủ tư cách. Người tự cho mình xứng đáng chăng?

Nguyễn Trát chưa biết nói sao thì con thứ ba là Nguyễn Hào đứng dậy nói:

– Tuy thân phụ ta không phải là người có vai vế cao nhất, cũng chẳng phải là người có võ công cao nhất, nhưng người đã tiếp nhận chức chưởng môn từ Thái sư phụ. Khi các người cùng Thái sư phụ luận kiếm tranh chức chưởng môn, các người đã bị bại rồi, nay còn dám vác mặt về đây sao?

Mai Huyền Sương vung tay một cái, chỉ thấy thấp thoáng bóng trắng, hai tiếng bốp, bốp nổi lên. Nguyễn Hào bị tát hai cái, kiếm bị đoạt mất:

– Chúng ta là bậc cao nhân tiền bối của cha ngươi, chúng ta đang thảo luận, ngươi có tư cách gì mà xen mồm vào?

Lê Nghĩa Nam nói:

– Lê Đạo Sinh tiên sinh có thơ mời, ngày rằm tháng tám sang năm, các môn phái phải cử cao nhân dự đại hội Tây-hồ, cử người làm chưởng môn chung cho đất Lĩnh Nam. Sau đó đến Trung Nguyên yết kiến Kiến Vũ hoàng đế để tỏ lòng quy phục, xin được tiếp tục luyện tập võ nghệ. Bởi vậy chúng ta tới đây, trước để chỉnh đốn lại môn phái, sau sẽ cử người đi dự đại hội Tây-hồ.

Trương Thủy Hải hỏi:

– Bây giờ hãy bỏ vấn đề ai là chưởng môn ra, các ngươi tự nhận là cao nhân của môn phái, vậy xin cho biết chủ trương?

Nghĩa Nam cười khan:

– Còn chủ trương gì nữa? Chúng ta sẽ dẫn đệ tử phái Long-biên đến Tây-hồ, đoạt chức Lĩnh Nam võ công đệ nhất rồi đi Trung Nguyên.

Nguyễn Trát nói:

– Thưa ba vị tiền bối, bốn anh em huynh đệ chúng tôi cai quản bốn trang ấp lớn, nhân đinh mỗi trang bốn ngàn người, đệ tử trên hai trăm, nhất quyết noi theo tiền nhân phản Hán phục Việt, Vì vậy, nếu các vị đưa ra lời thề, hứa tiếp tục chí hướng đó, tôi sẵn sàng quy phục. Bằng không, chúng tôi thà chết chứ không khuất phục.

Mai Huyền Sương hỏi:

– Ta hỏi ngươi, môn phái ta, ai là sáng tổ?

Nguyễn Trát nói:

– Là Vạn Tín Hầu họ Lý, húy Thân.

Mai Huyền Sương cười nhạt:

– Ngày xưa sáng tổ rời đất Âu Lạc sang Tần, đấu võ với các võ sĩ của Tần đoạt chức vô địch, được Thủy Hoàng cử làm đại tướng đánh Hung-nô, sau được phong Vạn Tín Hầu. Ngày nay chúng ta muốn noi gương ngài. Noi gương tổ tiên là điều nên làm. Ai cãi lại thì chém. Kẻ nào không phục, hãy rút kiếm ra nói chuyện.

Phan Đông Bảng nói:

– Đã vậy, hôm nay không tránh khỏi một cuộc giao đấu. Các vị là cao nhân tiền bối, chúng tôi không dám. Vậy chúng tôi cử ra ba người, các vị sư đồ của quý vị cũng cử ra ba người. Nếu chúng tôi bại sẽ xin rút lui để quyền điều khiển môn phái cho quý vị.

Khi Đông Bảng nói câu này, ông đã biết trong các đệ tử của ba vị sư thúc, bá không ai địch nổi Nguyễn Trát và ông. Hai sư đệ Thủy Hải, Đằng Giang tuy có sút kém hai ông đôi chút, nhưng cũng không đến nỗi nào. Chỉ cần thắng hai cuộc đã coi như thành công.

Mai Huyền Sương cười:

– Không được, trong ba cuộc đấu thì hai vị sư huynh và ta phải chủ trì.

Đông Bảng nói:

– Các vị là tiền bối cao nhân không lẽ lại ra tay với bọn hậu bối chúng tôi, như vậy e nhẹ thể diện chăng?

Một đệ tử của Hoàng Đức Tiết là Lê Nguyên Phong nói:

– Bọn phản đồ! Nếu các người sợ hãi, mau quỳ gối xuống van xin, sư phụ chúng ta sẽ tha cho khỏi chết, rời khỏi nơi đây. Còn muốn ra mặt anh hùng hảo hán thì sẽ mất mạng.

Nguyễn Anh nói:

– Các ngươi là phản đồ mà dám xưng mình là chính phái để chửi người ư?

Nói rồi chàng rút kiếm, phóng liền ba chiêu vào người Nguyên Phong ba chiêu vừa mau vừa mạnh gọi là Hồng-hà tam điệp, đó là ba chiêu đắc ý nhất của Nguyễn Trát mới chế ra.

Nguyên Phong hoảng hốt lùi lại ba bước, nhưng đã chậm, một lưỡi kiếm đã xẹt ngang vai y. Y ối lên một tiếng, ôm vai lùi lại.

Mai Huyền Sương vọt lên, người bà chỉ thấp thoáng một cái, thanh kiếm của Nguyễn Anh đã bay vọt lên không, còn người chàng bị bắn ra khỏi hậu trường té huỵch xuống đất. Miệng phun ra một búng máu.

Phương Dung la lớn:

– Anh cả!

Rồi chạy ra đỡ chàng. Nguyễn Anh nhăn mặt, gượng đứng dậy. Phương Dung hầm hầm chỉ vào mặt Mai Huyền Sương:

– Mi tự hào là cao nhân sao lại ra tay đánh hạng tiểu bối thua mình đến hai bậc? Thực không biết nhục.

Mai Huyền Sương nói:

– Ta sắp kết liễu cuộc đời con nha đầu này đây.

Nói rồi, mụ vung tay phóng chưởng đánh vào đầu Phương Dung. Nguyễn Trát hoảng hốt vung chưởng đỡ. Bộp một tiếng, ông lui lại ba bước, miệng ri rỉ ra máu.

Mai Huyền Sương nói:

– Ta mới vận có năm thành công lực.

Nguyễn Trát biết thị nói thật, chứ không phải đùa. Ông đứng im suy nghĩ một lúc rồi nói:

– Các vị tiền bối, ta thuận nhường chức chưởng môn cho quý vị, nhưng quý vị phải thề nhất tâm không được thù hận những việc từ trước đến giờ.

Khi nói câu này, ông đã suy nghĩ kỹ:

– Tạm thời lùi bước để cho chúng chiếm chức chưởng môn, hầu bảo tồn nguyên khí của môn phái. Sau đó ta sẽ lên Mê-linh ở với Thi Sách, mưu đồ quang phục, còn hơn giữ chức chưởng môn để làm chết hết tinh hoa của môn hộ, đến ngày khởi nghĩa lực lượng không còn.

Các đệ tử tại hội trường đồng cúi mặt xuống, nước mắt dàn dụa. Hai anh em Thủy Hải, Đằng Giang đứng lên hướng về bàn thờ tổ lạy bốn lạy rồi khấn:

– Liệt tổ chứng giám cho. Đệ tử không thể chịu nhục quỳ gối trước những kẻ làm tôi mọi cho người Hán.

Hai ông là anh em sinh đôi nên ý chí hợp nhất. Cả hai rút kiếm đưa lên cổ tự tận.

Đông Bảng kêu lớn:

– Sư đệ! Không nên.

Từ đầu đến giờ Phương Dung thấy cha và các sư thúc đấu lý với bọn phản đồ. Về lý tuy thắng, nhưng đối phương luôn tỏ ra là kẻ mạnh, muốn uy hiếp đối thủ. Nàng không dám xen vào.

Bây giờ thấy hai vị sư thúc vung kiếm tự tử. Không nhịn được nữa, nàng rút kiếm phóng ra hai chiêu thần tốc. Hai tiếng choảng vang lên, kiếm của anh em họ Trương đều rơi xuống đất. Nàng nói lớn:

– Sư thúc, không nên tự tử.

Động tác rút kiếm, phát chiêu của nàng thần tốc và quái dị vô cùng. Đến Nguyễn Trát cũng không kịp nhìn rõ.

Phan Đông Bảng thì ngẩn người ra vì ông thấy kiếm chiêu của Phương Dung rất quen thuộc, nhưng ông không biết chiêu đó tên là gì và sử dụng như thế nào.

Lê Nghĩa Nam kêu lên:

Nguyệt hạ ma kiếm! Con nhỏ kia, mi học chiêu này ở đâu?

Phương Dung được Đào Kỳ truyền nội công âm nhu vì bí quyết 72 chiêu biến hóa của phái Long-biên, nhưng chàng không cho biết đó là kiếm pháp nội công gì. Phương Dung là người rất thông minh, nàng thấy những chiêu kiếm Đào Kỳ dạy cho nàng dường như hơi giống những chiêu kiếm mà cha nàng đã dạy anh em nàng. Có điều những chiêu đó thần tốc và quái dị lạ lùng. Đào Kỳ bảo rằng: Kiếm pháp Long-biên mà nàng đã học được tuy tinh diệu, nhưng những chiêu đó rời rạc, khi sử dụng xong một chiêu lại phải chuyển sang chiêu khác. Giữa khoảng trống là chỗ sơ hở, khiến đối thủ có thể trả đòn được. Bây giờ chàng dạy Phương Dung một số chiêu thức để nối liền các chiêu kiếm kia lại, khi sử dụng sẽ thành một giây liên miên bất tuyệt, khiến đối thủ không có thì giờ trở tay.

Phương Dung tưởng thực, nàng thấy vui vui thì luyện, chứ nàng không thể ngờ rằng đó là những yếu quyết võ công của nhà mình, khiến cho anh hùng thiên hạ nghe đến đều nhiễu nước miếng. Thái-sơn bắc đẩu võ học Lĩnh Nam là Lê Đạo Sinh phải dùng trăm mưu nghìn kế, bắt giam Thái sư tổ nàng là Nguyễn Phan để tra hỏi, mong học được những bí quyết đó. Các thái sư bá, sư thúc của nàng là bọn Lê Nghĩa Nam cũng chỉ vì thèm những yếu quyết đó, đã đánh độc, bắt sư phụ Nguyễn Phan giao cho Lê Đạo Sinh cùng tra hỏi.

Song song với việc dạy 72 chiêu kiếm, Đào Kỳ còn dạy nàng nội công âm nhu. Vì nếu không luyện tập nội công đó, không thể sử dụng 72 chiêu kiếm trấn môn được. Từ ngày luyện tập đến giờ, nàng chưa có dịp sử dụng. Bây giờ thấy sư thúc sắp tự tử, nàng đem ra sử dụng, đánh rơi được kiếm của hai ông xuống. Chính nàng cũng ngạc nhiên đến ngẩn người ra.

Khi Lê Nghĩa Nam quát hỏi, nàng cũng không biết phải trả lời sao, chỉ đưa mắt nhìn Đào Kỳ. Đào Kỳ nhìn nàng lắc đầu. Phương Dung hội ý đáp:

– Chiêu đó là kiếm pháp của bổn môn.

Nguyên từ bọn Lê Nghĩa Nam cho đến Nguyễn Trát, Phan Đông Bảng đều đã thấy Nguyễn Phan sử dụng chiêu này một vài lần. Ông còn giảng rằng đó là chiêu Mài gươm dưới ánh trăng khi ra chiêu cần phải tính toán để kiếm của mình đụng vào kiếm đối thủ sắp đổi chiêu. Trong khoảnh khắc đó, lực đạo đối phương rất yếu, kiếm mình có thể đánh bay kiếm đối thủ đi.

Ban nãy, Mai Huyền Sương phải dùng đủ mười thành công lực mới phóng mấy mũi tụ tiễn đánh rơi kiếm của bọn Nguyễn Trát. Thế mà bây giờ, chỉ với một chiêu kiếm quái dị, Phương Dung đã đánh rơi kiếm của anh em họ Trương, hỏi họ không kinh hoàng sao được?

Mai Huyền Sương quát lên:

– Dĩ nhiên chiêu đó là kiếm pháp bản môn, nhưng tại sao ngươi lại biết?

Câu hỏi này chính Nguyễn Trát, Phan Đông Bảng cũng định hỏi nàng. Phương Dung đáp lững lờ:

– Ta học chiêu kiếm này của người lớn.

Nguyên vì Đào Kỳ lớn hơn nàng một tuổi nên nàng đáp lơ lửng như vây để làm rối trí đối thủ.

Mai Huyền Sương thấy nàng trả lời lờ mờ, y thị là người nóng tính nên quát lớn:

– Dĩ nhiên chiêu kiếm đó ngươi học được của bề trên. Nhưng ngươi có biết chiêu đó chỉ có người chưởng môn mới được học không?

Thị quay lại hỏi Nguyễn Trát:

– Mi còn chối được nữa không? Rõ ràng sư phụ ngươi đã hãm hại Thái sư phụ để học kiếm pháp trấn môn, nếu không làm sao ngươi biết mà truyền cho con nhỏ này?

(Còn tiếp – Hồi 13)

Share this post