Anh Hùng Lĩnh Nam (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ) Hồi 16

Anh Hùng Lĩnh Nam (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ) Hồi 16

ANH HÙNG LĨNH NAM
* Tiểu Thuyết Lịch Sử
* Tác giả: Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ
* Nguồn: Blog Trần Đại Sỹ (https://trandaisy.wordpress.com)

* Để đọc những phần đã đăng, xin vào khung Search this site (Tìm Kiếm) và gõ tên tác giả: Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ.

HỒI THỨ MƯỜI SÁU
Xưa kia nói nói thề thề
Bây giờ bẻ khóa, trao chìa cho ai?
(Ca dao)

Đã hơn mười năm, chú cháu Đào Thế Hùng mới gặp nhau. Nhớ nhung chồng chất như núi, tình thương như biển. Thời bấy giờ, tình nhân luân chú cháu, anh em rất nặng. Cho nên khi Thế Hùng dẫn các con và đệ tử ra Bắc lập nghiệp, hằng ngày, ông và các con luôn nhắc đến anh, đến các cháu ở quê nhà. Còn Đào Kỳ, khi gặp lại ba người em họ: Hiển Hiệu, Quý Minh và Phương Dung, nỗi mừng kể sao cho xiết?

Thuở bé, chàng cùng các em họ ở chung một nhà, nô đùa, tập võ với nhau. Chàng thường cùng các em dạo chơi đảo Nghi Sơn, lên núi Biện Sơn hái trái cây. Từ khi các em theo chú ra Bắc, chàng cảm thấy như thiếu thốn một cái gì trong đời. Hàng ngày, cha mẹ chàng cứ nhắc tới người chú này luôn. Còn các anh chàng cũng hay nhắc đến những kỷ niệm vui đùa với các em họ. Cho nên trong thời gian mười năm xa cách, lúc nào Đào Kỳ cũng nhớ đến chú thím, nhớ đến ba người em họ. Hôm nay, trong hoàn cảnh bèo nước gặp nhau, kể sao cho xiết nỗi vui mừng? Đào Kỳ gặp các em, chàng mới thấy con người ta có hai thứ tình: Tình nhân luân, là cha con, anh em, và tình yêu nam nữ. Trước kia xa chú, chàng nhớ nhung, nhưng sự nhớ nhung đó nhẹ nhàng, dài dằng dặc. Khi xa cha mẹ, các anh, chàng cũng thấy nhớ như vậy mà thôi. Khi xa sư tỷ Thiều Hoa, chàng vừa thấy cái nhớ nhung giống như nhớ bố mẹ, kèm theo cái nhớ nhung đối với các anh chàng. Sau này gặp Tường Quy, chàng thấy cái nhớ nhung mãnh liệt, rung động khắp người. Có khi chân tay chàng bải hoải, đầu óc mơ hồ.

Đào Thế Hùng nói:

– Lâu ngày chú cháu không gặp nhau. Cháu với Nguyễn cô nương về trang ấp của chú ở mấy ngày đã. Thím vẫn nhắc đến cháu luôn. Bây giờ võ công cháu cao như vậy, cháu nên dạy cho các em, để khi khởi binh, còn dùng để đuổi giặc. Giòng giống họ Đào mà không nghĩ đến đuổi giặc thì thà làm trâu, làm chó còn ích lợi hơn.

Nghe chú nói, Đào Kỳ mới thấm thía trong lòng:

– Người đời thường ca tụng cha, chú, cậu ta là hào kiệt có hùng tâm, tráng khí thực quả đúng. Cha và cậu ta thì ta thấy bất cứ việc làm gì cũng hướng về phản Hán, phục Việt. Còn chú ta… lưu lạc ra Bắc mười năm, thân phải làm Huyện úy cho giặc mà tấc lòng son đối với đất Lĩnh Nam vẫn không bao giờ nguôi.

Dọc đường về trang của chú, Đào Kỳ, Phương Dung ríu rít chuyện trò với ba người em họ. Trang của Đào Thế Hùng tên là Hiển Minh. Chữ Hiển Minh ghép tên của hai con ông là Hiển Hiệu và Quý Minh. Khi ông rời Cửu Chân, chỉ dẩn theo có trên trăm tráng đinh và đệ tử. Tới Cổ Loa, ông tìm đất hoang để lập ấp, thì đất hoang không còn. Ông bàn cùng vợ, lên Đăng châu đất rộng, người thưa, tai mắt của giặc không mấy chú ý. Ông tìm đến địa điểm nầy, cùng gia nhân, đệ tử phá hoang lập ấp. Với chủ tâm phục quốc trong lòng, ông đi chiêu tập dân chúng phiêu bạt sống rải rác các nơi về ấp. Ông chiêu nạp những người chống Hán, thất thế sa cơ, những người bị Hán đàn áp, những người trốn không chịu đi lính Hán sang Trung Nguyên đánh nhau. Chẳng bao lâu, dân đinh trong trang của ông đã lên tới trên hai ngàn người.

Thái Thú Tích Quang thấy thế lực của ông mạnh, uy tín lên cao, mời ông ra làm Huyện úy. Là người đọc sách, ông biết lẽ tiến, thoái, nên nhận lời ra làm quan. Ông nghĩ: với uy tín của ông, không ai có thể nghi ông làm tôi mọi cho người Hán. Là Huyện úy, nắm binh quyền trong tay, ông có nhiều cơ hội giúp đỡ dân chúng. Chứ nếu ông chống lại, Tích Quang sẽ phá trang ấp của ông ngay.

Đến trang, Đào Kỳ xuống ngựa, gặp vợ Đào Thế Hùng, chàng hành đại lễ:

– Cháu là Đào Kỳ xin kính cẩn chào thím. Chúc thím được vạn sự nguyện đắc như sở cầu.

Bà Đào Thế Hùng là một mẫu phụ nữ hiền thục, không biết võ nghệ. Bà chỉ biết có việc chăm lo nội trợ. Nghe chồng con nói tìm được đứa cháu thì mừng lắm. Bây giờ thấy Đào Kỳ thành người lớn, dùng đại lễ kính bà, bà nắm tay cháu:

– Cháu đứng dậy đi.

Bà lo dọn cơm đãi Đào Kỳ. Khi thấy Phương Dung đi theo bèn hỏi:

– À, cháu lấy vợ rồi đấy à? Vợ cháu đẹp quá nhỉ? Vợ cháu quê ở đâu? Bao nhiêu tuổi?

Phương Dung ngượng quá, cúi đầu xuống, chưa biết trả lời sao, thì Đào Kỳ đã đỡ lời:

– Thưa thím, đây là Nguyễn Phương Dung sư muội.

Đào Hiển Hiệu ngạc nhiên:

– Hồi nãy em thấy Nguyễn cô nương sử dụng kiếm pháp Long-biên đến chỗ tuyệt kỹ. Em nghĩ, dù bố em gặp kiếm pháp đó cũng đành chịu thua… Nhưng sao cô nương lại là người của phái Cửu Chân ta?

Đào Kỳ cười:

– Để anh nói cho mà nghe. Nguyễn cô nương là sư muội của anh, nhưng không phải là đệ tử phái Cửu Chân. Anh được một vị cao nhân phái Long-biên dạy cho kiếm pháp, thì Nguyễn cô nương là sư muội của anh.

Rồi chàng tỉ mỉ thuật hết tất cả những gì đã gặp từ khi xảy ra trận đánh cảng Bắc. Nhưng chàng dấu chuyện gặp Tường Quy.

Đào Phương Dung và Đào Kỳ bằng tuổi nhau, thuở nhỏ thường chơi thân với nhau, nên nàng không tỵ hiềm, nói với cha:

– Bố ơi! Luật lệ trong vũ lâm Lĩnh Nam có cấm sư huynh, sư muội lấy nhau không? Phái Cửu Chân nhà ta có cấm như vậy không?

Thế Hùng lắc đầu:

– Trong các phái võ chỉ cấm những người trên, dưới vai như sư thúc với sư điệt không được lấy nhau mà thôi. Phái Cửu Chân nhà ta còn khuyến khích sư huynh, sư muội lấy nhau là khác. Như bác trai, bác gái con chả là sư huynh, sư muội là gì đó?

Đào Phương Dung vỗ tay:

– Bố ơi! Hai bác không biết bây giờ ở đâu? Vậy bố đứng ra hỏi Nguyễn cô nương cho anh Kỳ đi, rồi làm lễ cưới. Nhà mình sẽ có thêm nàng dâu đẹp như tiên nga, kiếm pháp thần thông, mưu trí tuyệt vời.

Đào Phương Dung là cô gái học võ, được nuông chiều, tính tình tự nhiên, nghĩ sao nói vậy. Lời đề nghị của nàng làm Nguyễn Phương Dung ngượng quá, không biết trốn vào đâu cho thoát.

Bà Đào Thế Hùng cũng nói:

– Ừ, cháu cũng đã lớn rồi, bố mẹ cháu hiện không biết ở đâu. Thôi, chú thím đứng hỏi Nguyễn cô nương cho cháu, để trên đường xuôi ngược, vợ chồng bên nhau. Chứ cháu tuy là sư huynh của Nguyễn cô nương, mà hai người cứ đi với nhau như vậy, thì còn ra… thể thống gì nữa? À, thế song thân Nguyễn cô nương là ai?

Đào Kỳ tường thuật tỉ mỉ tất cả những điều chàng đã trải qua cho chú thím với các em nghe. Đào Thế Hùng bảo cháu:

– À, thì ra Nguyễn cô nương là con nhà danh gia, Nguyễn Trát với chú là chỗ giao tình rất hậu. Năm xưa, chú đã đấu với ông trên trăm chưởng.

Từ lúc đến trang, Phương Dung bị hết cô em họ của Đào Kỳ đến bà Thế Hùng tấn công không đường thoát, bây giờ thấy có chỗ tránh né, nàng đánh trống lảng:

– Thưa chú, thế cuộc đấu đó ai thắng, ai bại?

Đào Phương Dung reo:

– Đấy nhé, chị đã gọi bố em bằng chú, tức là xong rồi nghe.

Suốt đời Nguyễn Phương Dung chuyên tìm chỗ sơ hở của lời nói người ta mà tấn công. Nay nàng bị Đào Phương Dung dồn vào chân tường, đành ngồi chết trân. Nàng nghĩ thầm:

– Cái cô em này dồn mình vào chỗ dẫy không nổi rồi. Không biết cô này đã thôi chưa đây?

Đào Thế Hùng nói:

– Chúng ta ước hẹn đấu đến 120 chiêu thì thôi, vì vậy, không ai thắng, không ai bại. Thời gian qua mau thực, mới hôm nào đây, mà nay tóc chúng ta đã bạc hết rồi. Việc phục quốc thì chưa đi đến đâu cả.

Ngừng một lát, ông tiếp:

– Sau khi đi Mê-linh về, cháu phải đào kho tàng tại đền thờ Hùng Vương ngay. Biết đâu, một ngày kia, chẳng bị người ta vô tình đào lên lấy mất. Cháu đem kho tàng về Cối-giang cất để dùng vào việc khởi nghĩa. Còn vụ cháu với Phương Dung, chú khuyên cháu nên tiến hành sớm thì tốt hơn.

Tối hôm đó, Đào Kỳ dẫn các em đến giảng võ đường thao luyện. Chàng bắt các em biểu diễn cho xem để biết trình độ đến đâu. Chàng thấy bản lĩnh Đào Phương Dung ngang với sư tỷ Thiều Hoa của chàng. Còn Hiển Hiệu và Qúy Minh thì không kém gì nhị sư huynh. Đầu tiên, chàng đem nội công dương cương của gậy đồng ra giảng rất kỹ cho ba người luyện tập. Chàng giảng giải tới khuya mới ngừng.

Chợt nhớ ra điều gì, chàng hỏi Hiển Hiệu:

– Anh có một điều thắc mắc. Hôm qua trên tửu lầu, Trương Minh Đức sử dụng mấy chiêu của họ Đào nhà ta. Vậy hắn có phải là đệ tử của trang mình hay không?

Hiển Hiện lắc đầu:

– Huyện lệnh xin bố em dạy võ cho hắn. Nhưng hắn chỉ mải trác táng nên tuy có tập mà chẳng thu được kết quả nào. Hắn lại mới cưới vợ.

Tim Đào Kỳ nhói lên. Chàng nghĩ đến Tường Quy:

– Hắn cưới vợ lâu chưa?

Đào Phương Dung là gái, hay tò mò chuyện yêu thương, vợ chồng, nên nàng biết rất tận tường, trả lời:

– Vợ hắn là con của Huyện úy Bắc-đái Chu Bá. Tức cháu ngoại của nhân vật lừng danh võ lâm Lê Đạo Sinh. Nàng tên là Tường Quy. Võ công cũng không thua gì em. Nhan sắc thì thực là tiên nga giáng trần. Dù cho Mỵ Nương, Mỵ Châu tái sinh cũng không bằng. Nàng đàn ngọt, hát hay. Nhưng từ khi làm vợ Minh Đức, thì không được vui vẻ, suốt ngày ủ rũ. Em thường vào dinh Huyện lệnh chơi với nàng. Em có hỏi tại sao, nàng không trả lời.

Khi Đào Kỳ nói chuyện với Đào Phương Dung, thì Nguyễn Phương Dung ngồi cạnh. Nàng đã biết mối tình của Đào Kỳ với Tường Quy. Biết chàng chưa quên được Tường Quy, nàng nghĩ thầm:

– Ta không trách Đào lang được. Chàng đã gặp Tường Quy trước khi gặp ta là điều thứ nhất. Điều thứ nhì, Tường Quy là người ôn nhu, văn nhã, thuần hậu hơn ta, tuy võ công nàng thua ta. Mẹ ta chả từng nói rằng trai gái mới lớn, thì mối tình chớm nở lần đầu bao giờ cũng làm người ta say đắm nhưng rồi mau quên.

Đào Phương Dung là cô gái rất thông minh, lại gần Đào Kỳ từ nhỏ, nên cô biết rõ người anh họ mình hơn hết. Nàng thấy Đào Kỳ chú ý đặc biệt đến Tường Quy, nét mặt, hơi thở thay đổi theo lời tường thuật của mình thì nghĩ:

– Anh ta kể rằng đã ở Thái-hà trang của Lê Đạo Sinh. Tường Quy là cháu ngoại Lê Đạo Sinh, biết đâu hai người đã chả từng gặp nhau? Ta phải dò cho ra manh mối vụ này mới được.

Nghĩ thế, nàng tiếp:

– Tường Quy thường ưa ra cửa sổ nhìn trăng đánh đàn. Dường như nàng có mối ẩn tình câm nín thì phải.

Câu nói này làm Đào Kỳ như mê như tỉnh. Bất giác, chàng buông tiếng thở dài não nuột. Tiếng thở dài đó cả hai nàng Phương Dung cùng nghe, nhưng tâm tư họ khác nhau.

Đối với Nguyễn Phương Dung, từ khi mới gặp Đào Kỳ, nàng đã cảm thấy xao xuyến trong lòng. Rồi Đào Kỳ luyện võ cho nàng trong suốt một năm. Hai người ở bên sông, vừa luyện võ, vừa ngắm trời nước mênh mông. Dần dần nàng yêu Đào Kỳ lúc nào không biết. Trai cũng như gái, ở bất cứ thời đại nào, nơi nào, mối tình đầu bao giờ cũng dễ đến. Cái thuở ban đầu đó mãnh liệt vô cùng. Còn Đào Kỳ thì chỉ coi nàng như một cô em gái. Chàng đem tất cả những đau khổ của mối tình tuyệt vọng ra than thở với Phương Dung. Phương Dung tuy yêu thương chàng, nhưng đành câm nín, không dám thổ lộ ra ngoài. Nàng là người thông minh, tự nghĩ:

– Dần dần chàng sẽ quên Tường Quy và nghĩ đến ta.

Giờ đây, nghe cô em họ nói đến Tường Quy, chàng thở dài não nuột, thì Phương Dung biết rằng hình bóng Tường Quy đã ăn sâu vào tâm tư Đào Kỳ, thật khó phai mờ đi được. Mấy hôm trước, ông bà Đào Thế Hùng ngỏ ý sẽ về Long-biên hỏi nàng cho Đào Kỳ, nàng cảm động, mừng vô hạn. Nhưng bây giờ nàng mới thấy: Muốn xóa bỏ hình bóng Tường Quy thật không phải dễ.

Trời về khuya, Đào Thế Hùng dục các con, các cháu đi ngủ. Đào Kỳ về phòng, để nguyên quần áo, nằm vật xuống giường, ôm đầu mà khóc. Chàng tự biết mình khóc là thiếu vẻ anh hùng, nhưng chàng không thể nào cầm được nước mắt. Nước mắt tuôn ra không ngừng. Mãi về khuya, mối ẩn ức mới nhẹ đi đôi chút. Chàng nghĩ:

– Ta phải đi thăm nàng. Ta chỉ cần được nhìn nàng một lúc cũng đủ thỏa mãn rồi. Huyện Đăng-châu này có chú ta là cao thủ, lại ở riêng. Ta lọt vào dinh Huyện lệnh thăm nàng, dù ta bị muôn ngàn mũi tên của giặc bắn vào người mà được nhìn nàng một cái cũng thỏa lòng.

Nghĩ rồi, chàng lấy khăn bị mặt lại, đeo kiếm vào lưng, rồi theo cửa ngách của trang, hướng về huyện đường. Từ trang Hiển Minh đến huyện đường không xa. Đứng ngoài nhìn vào dinh huyện lệnh, nhờ bóng trăng dọi xuống, chàng thấy hai chòi canh của quân Hán. Nhún người một cái, chàng nhảy vào trong hàng rào. Tên quân Hán thấy thấp thoáng có bóng đen trước mặt, hắn cho rằng hoa mắt, đưa tay lên dụi, thì Đào Kỳ đã chạy qua. Chàng nhảy lên nóc huyện đường, rồi móc hai chân vào mái ngói, đu người xuống cửa sổ, nhìn vào trong: Đó là một căn phòng trang trí cực kỳ hoa mỹ, nhưng không có ai trong đó. Chàng buông chân, vọt vào phòng. Chợt có tiếng chân người đi vào. Chàng vội núp sau một cái tủ. Người đi vào là một thiếu nữ người Việt, mặc quần áo theo lối nô tỳ, cô bưng một dĩa trái cây để lên bàn, châm lửa đốt trầm cho vào lư hương. Có tiếng nói từ phòng bên vọng qua:

– Ninh ơi, công tử đã về chưa?

Tim Đào Kỳ đập loạn lên. Chàng đã nhận ra tiếng nói đó là của Tường Quy.

Người nữ tỳ đáp:

– Thưa mợ, công tử đang bận việc với quan, không biết giờ nào mới xong.

Tiếng Tường Quy nói:

– Thôi, ngươi đi ngủ đi.

Người nữ tỳ lau cái án thư rồi ra khỏi phòng. Cánh cửa phòng bên cạnh mở ra, Tường Quy thẫn thờ bước vào. Nàng mặc bộ quần áo lụa màu thiên thanh, trên ngực có thêu nhánh đào rực rỡ.

Đào Kỳ bủn rủn cả chân tay, ngẫm nghĩ:

– Không lẽ vì nàng nhớ đến ta mà thêu cành đào trên áo?

Tường Quy đến bên cửa sổ, nhìn lơ đãng về phương trời xa, cất tiếng hát khe khẽ:

Thanh thanh tử khâm,
Du du ngã tâm,
Túng ngã bất vãng,
Tử ninh bất tự âm.
Thanh thanh tử bội,
Du du nga tư,
Túng ngã bất vãng,
Tử ninh bất lai.
Yểu hề, đạt hề,
Tại thành khuyết hề,
Nhất nhật bất kiến như tam thu hề!

(Tà áo xanh xanh, em nhớ anh không nguôi. Em không đến thăm anh được, tại sao anh không gửi thư thăm em? Chiếc khăn xanh xanh, làm em nhớ anh buồn dằng dặc. Em không tới thăm anh được. Tại sao anh không đến thăm em? Một mình em ngồi, lòng bồi hồi nhớ anh. Em chỉ thấy bóng mình theo mình mà thôi. Em ngồi trong cửa thành đã mòn mỏi. Một ngày không gặp anh, dài bằng ba thu).

Đào Kỳ biết bài ca trên là bài Tử khâm trong Kinh Thi, nghĩa là Tà áo của anh.

Tường Quy mơ màng nhìn trăng, cất tiếng ngâm sa mạc:

Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ,
Nhớ ai, ai nhớ, bây giờ nhớ ai?
Anh ơi, chua ngọt đã từng,
Non xanh, đất đỏ, xin đừng quên nhau.

Tiếng ngâm của nàng dài lê thê, bay vào không gian. Dưới ánh trăng, Đào Kỳ thấy những giọt lệ tuôn rơi xuống hai gò má. Nàng lấy ống tiêu đưa lên miệng thổi. Tiếng tiêu lên cao tít tận mây mờ, bay vào trong đêm trăng, tạo thêm vẻ thảm não. Đào Kỳ nhận ra đó là bài Cổ Loa di hận. Bản này chàng đã nghe Chu Thổ Quan thổi hôm chàng cùng Tường Quy, Minh Châu đi thăm cố đô Cổ Loa. Có điều tiếng sáo của Tường Quy thổi trong đêm trăng, giọng thảm não hơn nhiều. Đào Kỳ không tự chủ được nữa, chàng lột khăn bịt mặt ra, thẫn thờ tới trước mặt nàng ngồi xuống.

Tường Quy xuất thần theo tiếng tiêu, đắm chìm vào mối tình xa xưa, đến nỗi Đào Kỳ tiến ra ngồi đó, nàng cũng không hay.

Điệu sáo ngưng, nước mắt nàng rơi từng giọt trên gò má. Nàng ngửng đầu lên, thấy Đào Kỳ ngồi trước mặt, thì cho rằng mình đang sống trong mơ. Nàng không dám chớp mắt, vì sợ nếu chớp mắt, hình ảnh Đào Kỳ sẽ biến đi mất. Nàng than:

– Anh ơi! Từ khi gặp gỡ ở trang Thái-hà, chúng mình du ngoạn cố đô Âu Lạc, em đã mơ màng được cùng anh trăm năm chữ đồng. Tại sao em lại sinh vào gia đình người Việt. Cha mẹ dạy em hận thù người Hán, khinh ghét Mỵ Châu, rồi lại bắt em làm một Mỵ Châu? Tại sao ông ngoại lại cho em mượn du thuyền của người, để chúng mình chơi trăng trên sông? Đêm trăng trên sông Hồng-hà ấy, chúng mình đã yêu nhau. Em đánh đàn cho anh nghe. Để rồi mấy ngày sau anh bỏ đi, chỉ để lại cho em mấy chữ. Từ hôm lấy chồng, em vẫn dành tình yêu cho anh. Em ước mơ một ngày nào đó, em được gặp lại anh một lần, dù chỉ trong giấc mơ. Hôm nay, trong giấc mơ, em đã toại nguyện. Nhưng tình trong giấc mộng, muôn ngàn vẫn là không.

Nàng đến ngồi bên Đào Kỳ, ngả đầu vào vai chàng mà khóc. Đào Kỳ như bay bổng lên cao, chập chờn, mơ mơ, tỉnh tỉnh. Nước mắt Tường Quy nhỏ xuống cánh tay. Chàng đưa cánh tay lên miệng hớp lấy giọt nước mắt đó.

Bỗng những tư tưởng, ý thức trong sách Đại Học, Trung Dung, Luận Ngữ, Mạnh Tử trở về với chàng. Chàng nghĩ:

– Tường Quy đã có chồng. Ta có thể để cho nàng ô danh, thất tiết được không? Ta là con trai của một Lạc Hầu, chưởng môn phái Cửu Chân, ta có thể nào đi tình tự với vợ một tên Hán dốt nát, yếu hèn không?

Chàng định đẩy Tường Quy ra, nhưng giọt nước mắt thứ nhì lại nhỏ xuống tay chàng. Chàng đưa hai tay bế nàng lên, ôm chặt trong lòng, tự bào chữa cho hành động của mình:

– Nàng với ta yêu thương nhau, thì ta là chồng nàng. Tên Trương Minh Đức là Hán tặc, đến cướp đất nước ta, cướp cả người yêu của ta. Chỉ ta mới xứng đáng được hưởng mối nhu tình của nàng.

Trong đầu óc chàng lóe lên ý tưởng:

– Bây giờ ta bồng nàng trở về Long-biên, đào kho vàng cất dấu ở đền Hùng, rồi tìm một nơi xa xôi ẩn thân, hưởng diễm phúc bên nàng, thì thực là thần tiên.

Nhưng hình ảnh cô bé Tía và mẹ bị quân Hán bắt giết giữa chợ Long-biên lại hiện lên. Hình ảnh những đoàn người Việt bị bắt làm lao binh sang Trung-nguyên, vợ con, cha mẹ tiễn lên đường khóc lóc thảm thiết, nhảy múa trước mắt chàng. Chàng nghe văng vẳng tiếng cha nói:

– Là con dân Âu Lạc, nếu một ngày quên phục quốc, thì thà làm chó, lợn còn ích lợi hơn.

Hai giòng tư tưởng đối nghịch nhau làm đầu óc chàng mê đi, mà hai tay chàng vẫn ôm chặt tấm thân mềm mại của Tường Quy.

Cứ như vậy, hai người, hai cơ thể, mà hồn hòa lẫn với nhau trong giấc mộng dài. Không biết thời gian đã trôi qua được bao lâu. Bỗng có nhiều tiếng nhạc ngựa vọng từ sân lên, rồi có tiếng người nói:

– Huyện lệnh đại nhân và công tử đã về.

(Còn tiếp – Hồi 16)

Share this post