Bãi Gió Cồn Trăng (Tiểu Thuyết – Hồ Trường An) Chương 7 (Tiếp theo)

Bãi Gió Cồn Trăng (Tiểu Thuyết – Hồ Trường An) Chương 7 (Tiếp theo)

BÃI GIÓ CỒN TRĂNG
* Tiểu Thuyết – Hồ Trường An
* Làng Văn xuất bản (Canada, 1995)

CHƯƠNG 7
(Tiếp theo)

Bà Bang biện Hưỡn được con gái báo tin sẩy thai, song bà không khiếp sợ lậu. Bà nghĩ rằng Thạch Eng tuy già tay ấn nhưng chưa phải thứ xuất chúng. Bà phải đem hai cô con gái cưng xuống Tịnh Biên thêm lần nữa vì bà nghe tiếng phù thủy Kim Ba ở gần bến chợ có tài làm đá hóa ra vàng, biết điều khiển âm binh giết kẻ thù ở xa, cách cả ngàn cây số. Cho nên bà vẫn tạo ác nghiệp đều đều, vẫn hành hạ tôi tớ và thằng con riêng của chồng, vẫn đánh chửi con nợ, vẫn xéo xắt với tá điền tá thổ.

Một hôm bà Bang biện Hưỡn gọi Cai tuần Xướng tới truyền lịnh:

– Nè Tuần, con vợ thằng Hai Hoạch ở gần đền Văn Thánh nợ tao bốn chục đồng từ hồi đầu năm tới giờ chưa trả. Mày rình coi nhà nó có món chi được giá thì cho tao hay, để tao tới xiết mang về, chừng nào nó trả cả vốn lẫn lời, tao mới cho chuộc.

Cai tuần Xướng ra công rình rập nhà Hai Hoạch nhưng suốt tuần bà Bang biện vẫn chưa thấy hắn báo cáo. Sáng hôm đó cô Ba Cẩm Tú từ Cầu Lầu qua Cầu Đào thăm tía má mình. Bà Bang biện bày bánh khoai lang chiên ăn cặp với rau sống chấm nước mắm giấm ớt. Cô Ba bảo mẹ:

– Con qua đây hỏi má định coi chừng nào má con mình đi Tịnh Biên?

– Con nên viết thư cho con Tư, rủ nó cùng đi. Cái bùa của thằng Thạch Eng coi bộ hơi yếu, phải đổi bùa khác cho chắc ăn.

Giữa lúc đó Cai tuần Xướng mặt mày hí hửng từ ngoài cửa ngõ bước vào, chấp tay xá xá má con bà Bang biện Hưỡn, Bà quở:

– Hổm rày mầy chui ngõ ngách nào mà biệt tăm biệt dạng vậy? Nhờ mầy có chút việc mà mầy đánh lừa đánh đảo lánh mặt tao thì còn nước non gì?

Cai tuần Xướng gãi đầu:

– Xin bà chớ phán như vậy mà tội nghiệp tui. Tui ra sức rình rập nhà Hai Hoạch, biết được nó có giàn máy hát và một chồng dĩa. Tối nào vợ chồng nó cũng mở máy hát cho người trong nhà và lối xóm cùng nghe.

Ba Bang biện Hưỡn mừng rỡ, gọi thằng Xiêm, thằng Đực sắp đặt kế hoạch để tối nay cùng ào vô nhà Hai Hoạch xiết nợ, Bà không quên thưởng Cai tuấn Xướng hai nải chuối sữa, một trái mảng cầu xiêm và dặn y ta ngày mai rình nhà thím Bảy Ớt ở Cầu Dài vì thím còn thiếu bà ba chục đồng mà cả bốn tháng nay chưa trả tiền lời chớ nói gì tiền vốn.

– Thưa bà, thưa cô Ba, hổng phải đêm nào anh Hai Hoạch cũng cho chạy dĩa hát máy đâu! Nghe nói mốt đây ảnh làm đám giỗ cho ông nhạc, ảnh sẽ chạy dĩa hát trong hai bữa giỗ tiên lẫn giỗ chánh cho xôm tụ, chừng đó bà tới xiết mới chắc ăn.

Vậy là hôm giỗ chánh tại nhà Hai Hoạch, thừa lúc gia chủ cho chạy dĩa hát thì bà Bang biện Hưỡn cùng thằng Xiêm, thằng Đực xông vào. Trong khi bọn đờn ông kẻ ôm chồng dĩa, người ôm giàn hát máy thì bà cất tiếng rổn rảng, chửi:

– Mồ tổ cha tụi bay, thiếu nợ tao cả năm không trả còn bày đặt làm đám giỗ rình rang! Tao nói cho bây biết, mốt bây không đem 40 đồng bạc vốn, bốn đồng bạc lời tới nhà tao thì giàn hát máy nầy và chồng dĩa kia thuộc về tao luôn!

Bà bước tới mâm cúng trên bàn thờ, cầm bát nhang còn cháy đỏ liệng ra ngoài sân rồi hét bọn tùy tùng ra về.

Riêng cô Tư Cẩm Lệ, vừa được thơ chị mình, liền sắm sửa quà cáp chờ chồng lái xe đưa mình ra bến tàu Nguyễn Văn Kiệu [sau gọi là bến Bạch Đằng] để cô đáp tàu thủy đi Vĩnh Long. Cái thai cô được năm tháng nên bụng cô đã đội áo, ngó lum lúp như cái gò mả đã lạn. Cô đem về nhà cha mẹ mình toàn những món ngon đương mùa, nào là cá chái kho sẵn đựng trong thố sành, nào sầu riêng, măng cụt, chôm chôm, bòn bon…

Tối hôm đó, thừa lúc ông Bang biện Hưỡn và bác sĩ Lê Thạnh Mậu đi nhậu, bà Bang biện dặn con Lài nấu cho mẹ con bà nồi cháo thập cẩm và pha thêm một bình trà thiệt ngon. Ba mẹ con trải chiếu bông trên bộ divan cẩm lai rồi bày gói thêu ra vừa nằm vừa trò chuyện.

Cô Tư Cẩm Lệ trách mẹ:

– Má có thấy thầy Mười Khói đoán điềm giải mộng hay thần sầu không? Vậy mà bữa hổm má tỏ ra giận ghét thẩy!

Cô Ba Cẩm Tú sực nhớ:

– À quên, con có nghe thầy Mười Khói quen nhiều tay thầy bùa, thầy lỗ ban ở Long Xuyên, vậy má nên đặt một mâm nhậu nho nhỏ để đãi thẩy, luôn tiện nhờ thẩy chỉ đường đi nước bước để má con mình tìm thầy giải nạn trừ hung.

Ba Bang biện nói xuôi:

– Lời con nói nhằm lẽ lắm! Thiệt tình bữa hổm má có hơi nóng!

Bà kêu con Lý, đưa nó hai đồng bạc, dặn nó sáng mai mua bốn ký tôm càng thiệt ngon để dọn mâm rượu, phần thì trộn gỏi, phần làm chả huế, còn thì làm món tôm bún. Bà cũng dặn nó mời thầy Mười Khói xế mai đến Cầu Đào dể nhậu nhẹt với chồng bà.

Sau khi con Lý trở xuống bếp, cô Tư Cẩm Lệ lo lắng bảo mẹ và chị:

– Con cũng báo cho má với chị Ba hay, cái trang bùa của con bị sét đánh tan tành hết trọi.

Hỏi ra thì cái trang thờ bùa của cô Tư chịu chung số phận với cái trang thờ bùa của cô Ba cùng một ngày một giờ. Mặt mày ba mẹ con tái mét vì sợ. Cô Tư bồi thêm một tin khủng khiếp nữa:

– Chưa hết đâu má! Sau đó ba hôm, hai đứa con ghẻ của con đi viếng mả mẹ tụi nó, thấy sét đánh cách nào không biết mà ngôi mộ vẫn còn y nguyên, duy bốn cây cọc vẽ bùa bị bạt tung lên, nằm ngổn ngang quanh mộ.

Bà Bang biện Hưỡn chết lặng một giây, song bà trấn tĩnh liền:

– Còn nước còn tát, khuyên con chớ quá kinh hãi mà động tới cái thai. Đẻ má xuất tiền cho sư cô Trí Năng ở am Thường Tịnh làm chay và cầu siêu sanh cho con vợ trước của chồng con, để nó siêu sanh nơi an bang tịnh độ, khỏi theo quanh quẩn mà báo oán con hoài!

Thiệt tình bà Bang biện nói liều để an ủi hai cô con gái, nhưng nói xong bà chợt thấy mình cao kiến. Tuy mẹ con bà không rành kinh kệ nhưng cả ba đều có nghe đâu đó sự linh ứng của việc lập trai đàn cầu siêu. Cô Ba Cẩm Tú cũng an ủi em:

– Má nói phải đó Tư à! Chị nghe nói vong linh người chết được thân nhơn lập đàn chay cầu siêu, thường hiện hồn về cảm tạ trước khi được sanh vào nơi giàu sang phú quí.

Hôm sau thầy Mười Khói xách dù đến Cầu Đào dự tiệc. Vì có cậu Hai Luyện về nghỉ cuối tuần nên bà Bang biện cho làm thêm con vịt cà cuống để nấu cháo. Tới lúc thực khách ngà ngà, bà Bang biện Hưỡn mới đem ý định của mình ra bày tỏ.

Thầy Mười Khói cười, nói:

– Ở chợ Ba Si làng phước Thạnh, tỉnh Trà Vinh có thầy Năm vốn là một địa tiên chuyên làm thuốc cứu nhơn độ thế, làm bùa đối trị bùa ếm để giải nguy cho bá tánh. Chẳng ai biết gốc gác thầy ở đâu, nhưng thầy về chợ Ba Si hồi năm Mậu Dần, không có mang theo gia đình, bạn hữu gì ráo! Thầy xưng là thầy Năm Lê Thái Sanh, tu theo pháp Mật Tông, tuy ăn chay nhưng chỉ ăn rau cỏ và trái cây chớ không dùng ngũ cốc. Thầy thường tỏ ra cho những thân chủ hết lòng giúp đỡ thẩy biết rằng thầy của thẩy là đức Đông Hoa Đế Quân, thường hiện xuống núi Tà Lơn vào mỗi kỳ rằm nguyên tiêu, dạy thẩy tu theo phép hút lấy thần khí mùa xuân và của cỏ cây, trước là làm cho mình mạnh khỏe, trẻ mãi không già, sau là để làm tiên đơn thánh dược giúp đỡ người khác…

Ông Bang biện hỏi:

– Còn bùa đối trị bùa ếm thì thẩy học ai?

– Cũng do đức Đông Hoa Đế Quân dạy chớ ai vô đó! Cái sứ mạng cứa nhơn độ thế của thầy Năm là 24 năm. Sang năm Ất Dậu, gặp lúc thế gian chịu cảnh nắng lửa mưa dầu, thầy sẽ qui tiên, giao sứ mạng cho người khác.

Cô Tư Cẩm Lệ mừng lắm, bảo mẹ:

– Nếu vậy thì hay lắm. Trà Vinh gần tỉnh mình, chồng con có cô em con nhà chú ở chợ Ba Si, tiện chỗ cho ba má con mình tá túc vì nhà của cổ mát mẻ rộng rãi lắm.

Bà Bang biện Hưỡn liền tặng thầy Mười Khói một con gà mái dầu, một cân lạp xưởng, một cân mì xạ, một chục quít đường. Bà sai hai cô con gai làm bốn ngăn quả đựng bánh hấp như bánh bò bông, bánh thuẩn, bánh bột lọc, bánh qui, bánh da lợn để con Lý đem tới am Thường Tịnh. Kèm với bốn ngăn quả bánh, bà giao cho sư cô Trí Năng năm chục đồng bạc để làm chay đàn cầu siêu cho cô Tư Thục, cố thê của thầy kiện Trần Hảo Hiệp.

Ông Bang biện Hưỡn thấy mình phong phú sức khỏe, dào dạt sóng tình, hực hừng lửa dục, bèn kêu Cai tuần Xướng:

– Mầy phải giao hẹn với vợ chồng thằng Cai tuần Hạp cho chắc. Tao không muốn tụi nó trì hưỡn chuyện đó. Cái bụng cỏn chỉ chừng một tháng nữa là bự chang bang như cái chảo úp thì… hư bột hư đường ráo trọi! Mầy nói với tụi nó là tao muốn gặp con vợ nó tối mai.

Cai tuần Xướng liền tới nhà Cai tuần Hạp. Nhà cửa đóng im lìm. Ngoài hàng ba, lá rụng ngổn ngang. Lúc đó trời đã xế trưa, ánh nắng vàng vọt nhuộm buồn cảnh vật chung quanh. Một con mèo mun nằm gần áng nước, thấy có người lạ liền chậm rãi bước về phía hàng rào xương rồng rồi chui qua lộ hổng ra ngoài. Cai tuần Xướng lớn tiếng gọi:

– Có ai ờ nhà không?

Trong nhà có tiếng đờn bà vọng ra:

– Anh Bảy đó hả? Cửa không gài, mời anh vô.

Cai tuần Xướng đẩy cửa bước vào. Nhà trống trơn, chỉ còn trơ chiếc chõng tre trải chiếu đậu. Một thép dầu mù u đặt ở đầu giường. Vợ Cai tuần Hạp mặc bộ đồ trắng ngồi bên mép chõng, tóc tai dã dượi, bảo:

– Đồ đạc trong nhà đã bán hết để chồng tui lấy tiền đóng thuế thân. Ảnh đem sắp nhỏ về viếng thăm bà dì của ảnh ở Lộc Hòa, nhà chỉ còn có mình tui. Vậy anh nên về nói với ông Bang biện Hưỡn tối nay ổng tới đây tiện hơn. Tôi cũng đã giặt sẵn chiếu mùng đợi ổng.

Cai tuần Xướng tán thành:

– Tối nay có trăng, tiện lắm.

Rồi anh ta hỏi cho có chuyện:

– Thím có đau ốm gì không? Sao lại nằm dã dượi một mình trong căn nhà đóng cửa tối mờ như vậy?

Vợ Cai tuần Hạp cười gượng:

– Tui có đau ốm chi đâu! Bởi vì thai hành nên tui cứ sật sừ sật sưỡng vậy mà! Tui cũng mới vừa uống thang thuốc dưỡng thai do ông Năm Tảo hốt nên cũng thầy đỡ.

Rồi chị ta giục:

– Thôi, anh kíp về báo tin cho ông Bang biện mừng. Tui vừa sắm cục xà bông sả, sẽ tắm gội cho da thịt thơm tho, để… tiếp ổng.

Giọng người đàn bà vừa lẳng lơ vừa se sắt làm Cai tuần Xướng rợn cả người, nhưng biết chị ta bằng lòng tiếp ông Bang biện Hưỡn là anh ta đủ mừng rồi.

Xế đó, ông Bang biện Hưỡn sai con Lý, con Lài dọn ông một tiệc tượu nhỏ để ông cùng Cai tuần Xướng cụng ly. Ông cao hứng bảo tên nha trảo tâm phúc:

– Xong cái vụ vợ thằng Cai tuần Hạp, mầy nên bắt tay lo vụ em gái anh Hương bộ Lại cho tao.

Ông đặt vào tay Cai tuần Xướng một phong bao:

– Mầy cứ ăn nhậu cho đã đời đi. Còn tao, tao chỉ có thể nhậu sương sương thôi. Tối nay nếu say li bì thì còn làm ăn giống gì được! Tao tặng mầy hai chục bạc này để uống trà.

Ông lôi chai rượu thuốc ngâm xác con chim bìm bịp phơi khô ra nhâm nhi. Đó là rượu tráng dương mà Cai tuần Xướng bổ cho ông hồi Tết vừa rồi. Trong tủ buýp–phê của ông cũng đã có hũ rượu ngâm cắc kè bông, một thứ rượu tráng dương khác.

Sau bữa tiệc, Cai tuần Xướng say hoắc cần câu, phải vịn vai thằng Đực để về nhà. Còn ông Bang biện Hưỡn đánh một giấc thiệt đã. Khi ông thức dậy thì trời đã chạng vạng. Mâm cơm chiều cọn lên, ông ăn thiệt ngon miệng vì có món canh cá khoai nấu ngót mà ông rất ưa. Xong xuôi ông đi tắm, cạo râu, xịt dầu thơm và mặc bộ đồ bà ba bằng lục soạn trắng.

Tay xách đèn tán chai, ông chậm rãi đến nhà Cai tuần Hạp. Lúc đó vầng trăng mười ba khá tròn, rải ánh sáng khắp nơi. Vùng ngoại ô tỉnh lỵ dập dìu người đi chơi trăng. Ông Bang biện Hưỡn đi sâu hướng xóm Đình Khao, bước qua cầu sát lót ván, rẽ vô vùng thôn ổ tận rạp cây dâu miền dưới, bụi tre gai, khóm tầm vông.

Đây rồi! Nhà Cai tuần Hạp đây rồi! Mái lá lợp nhô khỏi chòm cây đen thẳm, bên kia lối đi đắp đất lươn song song với dòng rạch lấp loáng ánh trăng. Cửa ngõ không gài, ông đẩy cánh cửa bước vào lối đi ngắn và hẹp viền những cây kim quát trổ bông thơm ngát để bước vào vuông sân ngổn ngang lá vàng. Mái hiên tối mờ mờ, nhưng có ánh đèn chong le lói qua mắt cáo. Ông Bang biện Hưỡn tằng hắng:

– Có ai trong nhà không?

Tiếng đờn bà lảnh lót vọng ra:

– Ông Bang biện đó phải không? Cửa không có gài chốt, mời ông vô kẻo lạnh.

Một trận gió lốc nổi lên, lá vàng bay thốc. Ông Bang biện đẩy cửa vô. Vợ Cai tuần Hạp nhõng nhẽo:

– Sao trễ vậy? chờ ông xốn xang tấc dạ vậy đó!

Ông Bang biện cười mơn:

– Qua đây cũng trông đứng trông ngồi, mong trời mau tối…

Ông ôm chầm lấy chị ta, vuốt ve cái bụng chửa lùm lùm của chị, hun hít. Mà ủa lạ, sao mình mẩy chị ta lạnh ngắt. Ông hỏi:

– Sao mình mẩy em như ướp nước đá vậy?

Vợ Cai tuần Hạp háy ông bằng cặp mắt có đuôi:

– Thì em phải tắm rửa sạch sẽ để tiếp ông. Ngặt vì lóng rầy em yếu trong người, gặp nước lạnh về chiều nên da thịt mới như vậy. Ông úm em một đỗi thì em ấm lại liền!

Ông tiếp tục hun hít, ấp ủ người đàn bà. Quả nhiên da thịt chị ấm lại dần. Nhưng khi ông muốn bóc hết lớp quần áo che thân chị thì chị đề nghị:

– Ngoài sau vườn em có một cây rơm, chỗ đó quanh năm suốt tháng chẳng ai lai vãng. Đêm nay có trăng, tụi mình ra đó gẫm có thú vị hơn không?

Ông Bang biện Hưỡn khoái quá, gật gù khen ngợi:

– Thiệt qua không ngờ em… cao kiến như vầy, hiểu chuyện phong lưu tao nhã lắm. Vậy thì mình cùng đi!

Cả hai sóng bước ra ngoài nhà sau. Quả thiệt có cây rơm bên cạnh cái ao. Ven ao là cây dừa. Đom đóm bám vào từng chiếc lá, ánh sáng chớp tắt liên hồi. Trăng bây giờ lên cao, thu nhỏ lại, sáng như phiến gương làu làu nước thủy. Quanh ao tiếng vạc sành kêu râm ran. Chốc chốc có tiếng cá ăn móng.

Ông Bang biện Hưỡn bước cạnh người đờn bà, chốc chốc lại quay qua nhìn chị cười mơn. Bỗng ông lạnh mình. Ô hay! Người đàn bà đi cạnh ông rõ ràng là cô Út Thoại Huê. Ông buột miệng kêu: “Trời ơi!” rồi đưa tay dụi mắt. À thì ra ông nhìn lầm, Vợ Cai tuần Hạp chớ không ai khác. Người đờn bà gặng ông:

– Ủa, sao ông kêu trời vậy?

Ông Bang biện Hưỡn nói lảng:

– Không, có gì đâu! Tại qua thấy em đẹp nên buột miệng vậy mà!

Vợ Cai tuần Hạp nhìn ông đăm đăm như thôi miên:

– Thiệt không đó? Hay ông tưởng em là cô nào khác?

Ông Bang biện cười giã lã:

– Thôi mà em, em nói chi chuyện tầm phào cho mất vui!

Người đờn bà khi tới gốc cây rơm, nằm dài ra, giọng ỏn ẻn thẽo thợt:

– Mình ơi, em đây nè. Mình có chiên xào, kho nấu em cách nào, em cũng vui lòng hết.

Chị lột hết quần áo ông, ôm sát vào người chị rồi bất ngờ siết thiệt chặt làm ngực ông muốn vỡ vụn. Chị ta cười hăng hắc, sắc lạnh như từng gáo nước dội lên mặt, lên sống lưng ông. Ông Bang biện sững sờ nhìn chị. Trời ơi, rõ ràng là Út Thoại Huê đây mà! Quả nhiên người đờn bà the thé:

– Con quỉ dâm dục, con quỉ súc sanh từng làm nhơ các thai phụ để họ phải chịu nhục nhã vì ô danh xủ tiết! Cả nhà Cai tuần Hạp đã vì mầy mà lìa quê lìa quán, đem thân cầu thực xứ người! Bọn họ đi Bạc Liêu từ hai hôm rồi, tao phải giả dạng chị vợ để răn dạy mầy!

Nói tới đây, cô Út Thoại Huê thổi một làn hơi lạnh buốt lên mặt ông Bang biện Hưỡn khiến ông lịm đi.

Sáng hôm sau, mấy người đờn bà hái rau dại trong xóm phát giác ông Bang biện Hưỡn nằm im lìm bên mộ cô Út Thoại Huê, liền tri hô lên. Mấy lực điền xúm lại, lấy chiếu đắp lên thân thể trần truồng của ông, rồi hơ lửa cạo gió, xức dầu… Chừng nửa tiếng đồng hồ sau, ông bắt đầu thở thoi thóp.

Sau khi hỏi han gốc tích, họ đưa ông Bang biện Hưỡn ra bến sông Cổ Chiên, dùng xuồng đưa ông về bến chùa Bảy Phủ và võng ông về Cầu Đào.

Sau đó ông bị á khẩu, câm luôn. Ông còn bị bán thân bất toại, nằm ngồi một chỗ. Khi mắc tiêu tiểu, ông phải lết tới cầu xí một cách khó nhọc.

Bà Bang biện Hưỡn khi đi chợ Ba Xi chuộc bùa về chẳng những không vui mà còn thấy chồng bịnh hoạn như vầy thì vừa rầu vừa lo. Thầy Năm Lê Thái Sanh vừa khi diện kiến mẹ con bà, đã bảo:

– Trị bịnh là chuyện nhỏ, còn trị được cái ác nghiệt hay không là một chuyện tỉ như hột muối thả xuống sông, nước sông làm sao mặn cho được! Tui coi qua sắc diện bà và hai cô đây từ Ấn đường đã có vệt đen ửng ra rồi! Đây là ác quả hiện hành, ác báo phát tác. Bà và hai cô nên tụng kinh niệm Phật cho siêng, làm việc bố thí cho nhiều thì họa may mới cạy gỡ được phần nào móng vuốt của ác quả ác báo đó.

Bà Bang biện dù lo dù rầu bởi lời nói của thầy Năm Lê Thái Sanh nhưng vẫn không ngưng việc bòn tro đãi trấu, hành hạ xéo xắt kẻ dưới tay mình. Hễ việc làm ăn không trôi chảy, bà kiếm chuyện đánh chửi Bửu, coi việc nuôi cậu trong nhà là nuôi kẻ đem oan nghiệt và xui xẻo cho mình.

Một hôm, cô Tư Cẩm Lệ từ Sài Gòn hớt hơ hớt hải báo tin:

– Nguy rồi má ơi, sáng hôm qua con đốt nhang trang thờ bùa thì thấy gián cắn lá bùa lam nham. Làm sao đây má?

Hai mẹ con ngồi lo rầu không biết gỡ rối cách nào thì tới xế chiều, cô Ba Cẩm Tú tay che dù, tay xách bóp từ Cầu Lầu qua thăm. Cô vừa khóc vừa thuật:

– Hổm rày, tối tối con nghe chuột kêu chít chít ở mấy bàn thờ nên mừng thầm vì nghĩ đó là điềm hên. Ai mà dè sáng nay con ở của con chưng bông, cúng nước trên trang thờ thì thấy gói bùa bị chuột cắn nát ráo trọi rồi!

(Hết Chương 7)

Share this post