Bãi Gió Cồn Trăng (Tiểu Thuyết – Hồ Trường An) Chương 7

Bãi Gió Cồn Trăng (Tiểu Thuyết – Hồ Trường An) Chương 7

BÃI GIÓ CỒN TRĂNG
* Tiểu Thuyết – Hồ Trường An
* Làng Văn xuất bản (Canada, 1995)

* Để đọc những phần đã đăng, xin vào khung Search this site (Tìm Kiếm) và gõ tên tác giả: Hồ Trường An.

CHƯƠNG 7

Cô Thiệt Nguyện buông chiếc lược sừng trâu xuống chiếc bàn hình hột xoài, bảo cô Hai Túy Ngọc:

– Khuôn mặt em đúng là có hồng quang phát hiện. Em có tướng sang bẩm sinh. Trời sanh em ra để em làm mạng phụ phu nhơn đó.

Cô Hai Túy Ngọc nhìn lom lom bóng mình trong kiến. Tóc cô chải bảy ba, đen bóng như huyền giồi, mặt cô ửng hồng và sáng rỡ, môi cô mọng thắm, mắt ngời ngợi sóng thu. Hôm nay cô Thiệt Nguyện dạy cô bới đầu lèo, cái búi tóc hình bánh tiêu được bao lưới giắt trâm nhấp nháy.

Cách đây ba ngày, ông Huyện Khải cậy hai bác của mình là ông bà Hai Trưởng đứng chủ hôn và vợ chồng thầy giáo Thiệt làm mai đi coi mắt cô Hai Túy Ngọc. Bà Chín Thẹo và cô Thiệt Nguyện lãnh phần lo trà rượu tiệc tùng. Đàng trai đưa cho đàng gái hai trăm đồng lo lễ cưới. Sình lễ gồm đôi vòng cẩm thạch xanh nước lý mà ông Huyện Khải đào được ở nền nhà cũ, một đôi bông hột xoàn cỡ năm ly rưỡi, một chiếc kiềng vàng nặng một lượng, một chiếc trâm cẩn sáu hột xoàn hai ly, một chiếc cà rá nhận hột ngọc lựu. Ngoài ra ông còn tặng cô dâu xấp gấm đỏ, xấp nhiễu xanh da trời để may áo cặp, một xấp cẩm nhung trắng để may quần.

Cô Ba Túy Nguyệt được chị mình tặng những món nữ trang do ông bà Năm Tảo sắm cho gồm chiếc vòng vàng chạm bát bửu, sợi dây chuyền có miếng mề đay cẩm thạch tạc hình tượng Quan Âm. Cô rất mừng cho chị mình lấy được chồng sang.

Bà Bang biện Huỡn cùng hai cô con gái đi Tịnh Biên về, mặt mày cả ba đều hớn hở. Thạch Eng và Cà Nựng đã dắt bà đến thầy của họ là Lâm Xâu để chuộc bùa, chuộc niệc đeo cổ hầu chống lại sự báo oán của các oan hồn. Kỳ về nầy, bà mua nào là lụa Cẩm Châu, lãnh Tân Châu, mắm thái, khô sặt, mắm cá trèn để dùng và biếu xén những nơi quen biết.

Ông Huyện Khải cậy ông Năm Tảo sắm bàn ghế khi túp nhà lá gần bên đã sửa chữa xong. Ông cũng bỏ tiền ra mua chiếc divan cẩm lai đặt ngăn bên chái túp nhà.

Sau đó ông mới chở ông Bác vật Cảnh, người em họ nhà chú của ông về dưỡng bịnh.

Ông Năm Tảo có qua chẩn mạch, hốt thuốc cho người đờn ông bất hạnh kia để ngăn bịnh cùi chậm phát tác và làm giảm đau. Ông khuyên đương sự:

– Bịnh chữa khỏi hay không chi do thấy thuốc có một, nhưng do số trời, do nghiệp quả tới mười.. Ông Bác vật nên tụng thêm kinh Phổ Môn và kinh Dược Sư Lưu Ly Quang để nhờ tha lực của đức Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát cùng đức Dược Sư độ trì.

Bác vật Cảnh làm thinh, không nói gì.. Ông Năm Tảo đi thăm thú khắp vườn sau ngõ ngoài, chỗ ẩn cư mới của Bác vật Cảnh. Đâu đó được làm cỏ và quét tước sạch sẽ. Buồng ngủ có tủ áo nạm kiếng hình hột xoài, divan cẩm lai. Phòng khách có bảy bàn tròn và ghế bằng dây mây bện rất mỹ thuất. Bên chái là tủ kính đựng đầy sách báo và những món ngoạn khí bằng sành, sứ, gỗ quang dầu bóng lộn. Ông Năm Tảo mở gói giấy lấy hai tấm rèm màn bằng vải do cô Ba Túy Nguyệt may và thêu đục lỗ, bảo ông Bác vật căng ở hai bên cửa sổ. Ông cũng không quên mở cần xé, lôi ra nào ấm nhôm, hỏa lò, than cần đước, bộ đồ trà… và bảo:

– Ông chỉ phải sắc thuốc, pha trà, còn cơm nước thì ngày ba bữa, con gái tui sẽ đem qua cho ông dùng.

Khi tiễn ông Năm Tảo ra ngõ, Bác vật Cảnh buồn rầu bảo:

– Ông Năm thiệt chu đáo trong việc sắp xếp chỗ ăn chỗ ở cho tôi. Ơn ông không biết bao giờ tôi mới trả nổi đây! – và ông nhấn mạnh – Tôi không phải là kẻ duy tâm nên không tin tưởng Trời Phật, song tôi vẫn hằng tâm niệm giữ tròn nhơn lễ nghĩa trí tín. Mắc bịnh ngặt nghèo nầy, tôi chỉ tin tưởng vào thuốc thang mà thôi.

Cô Thiệt Nguyện vẫn đi dọc theo cồn bãi nắm trong lòng sông Cô Chiên để chữa bịnh mắc đàng dưới cho phụ nữ. Cô lập đàn tràng cầu nguyện cho các oan hồn mà thân thể đã chìm sâu đáy nước. Cô cũng ếm bùa ngăn bọn thủy quái lộng hành, phá phách bá tánh cư ngụ ven sông.

Cậu Hai Kinh lý Luyện vẫn tiếp tục đo đất ở Mỹ An, Hòa Mỹ, An Hương. Cậu đang nhắm vào cô Ba Hưởng, con gái chú Thường xuyên Hiếu ở Hòa Mỹ và cô Hai Thiều, con gái Hương nhứt Điều ở An Hương.

Cô Ba Cẩm Tú ốm nghén được ba tháng. Chồng cô khám thai cho cô và bảo rằng cái thai bình thường. Vì cẩn trọng, sợ lỡ trợt té mà sảo thai nên cô bắt chồng dời phòng ngủ vốn ở lầu trên xuống từng trệt cho chắc ăn.

Cô Tư Cẩm Lệ theo chồng về Sài Gòn sau khi từ Tịnh Biên về Vĩnh Long một tuần. Vô cậy có bùa niệc trấn ếm nên vẫn giữ thói xéo xắt và hành hạ con ghẻ. Cô tìm cách lên đất Hộ, tìm mả cô Tư Thục, đem bốn cọc tre có vẽ bùa cắm lút cán ở đầu, chân và hai bên hông mộ. Cái thai cô lật bật đã được bốn tháng. Cô ăn được ngủ được. Trong giấc chiêm bao, cô không hế thấy cô Tư Thục hiện hồn về đòi mạng nữa.

Còn ông Bang biện Hưỡn đã được Cai tuần Xướng dàn xếp để ăn nằm với vợ Cai tuần Hạp. Ngặt vì bịnh cúm làm ông tối tăm mày mặt mãi nên ông chưa đưa vợ Cai tuần đến tổ quỉ của mình ở cầu Kinh Cụt mà thôi.

Chú Cai tuần Hạp làm mướn hai dãy ruộng của ông Bang biện Hưỡn, mỗi năm phải đóng cho chủ điền 300 giạ lúa, năm nào được mùa thì còn dư 150 giạ. Cách đây ba năm, vì bà Chín Én, mẹ vợ của chú đau nặng, nên vợ chồng chú phải bán rẻ 50 giạ lúa lấy tiền lo thuốc thang. Nhưng thuốc thang không qua số mạng. Khi bà Chín Én chết đi, chú phải bán thêm 50 giạ lúa nữa để làm ma chay cho nhạc mẫu. Tới chừng đóng thuế thân thì chú chới với vì số lúa còn dư không đủ cho hai vợ chồng và bốn đứa con sống trọn năm. Bởi đó, vợ chú phải đem thân ở đợ cho gia đình ông Bang biện để trừ số lúa vay của họ.

Hôm nay Cai tuần Xướng có dịp đi Cái Sơn Bé, ghé qua nhà Cai tuần Hạp. Nhà chú ở cuối xóm, cách xa con liên tỉnh lộ cỡ 500 thước, cạnh một dòng rạch nhỏ liền cây dừa nước rậm rạp. Nhà vách lợp lá xé, mái lợp lá chầm gồm một gian và một chái. Cái chái sát gần bên ao đầy điên điển trổ hoa vàng. Rạch dừa nước thì ở phía trước, cách hàng rào bông bụp khoảng năm thước. Song song với dòng rạch là con đường đắp đất. Nhà nằm giữa bốn công đất nhỏ có trồng vài bụi chuối, vài cây ổi, dăm cây khế. Trong nhà, ngoài bàn thờ bằng gỗ thao lao, còn có bộ ngựa gỗ tạp, chiếc bàn dài bằng gỗ mù u và bốn chiếc ghế đẩu mỗi bên.

Cai tuần Hạp tuổi cỡ ba mươi ngoài, đen đúa, mặt mũi hiền lành, ở trần trùi trụi, bận quần xà lỏn đen đã phai màu. Còn vợ Cai tuần Hạp tuổi gần ba mươi, dung nghi nghiêm chỉnh, nước da khá mởn, ngặt vì đang chửa nên mặt mũi chao vao. Trong nhà lúc đó còn có một người đờn bà trạc tuổi thím Cai nhưng mặt mũi sáng sủa, nước da trắng trẻo. Cai tuần Hạp bảo Cai tuần Xướng:

– Nè anh Bảy, chắc anh cũng biết cô Thiệt Nguyện đây thường qua bên Cồn trị bịnh mắc đàng dưới cho đờn bà đất Vãng mình.

Cai tuần Xướng gật đầu khen:

– Có, tui có nghe. Làm phước thì để đức cho con cháu.

Cô Thiệt Nguyện mỉa mai:

– Còn a tòng theo bọn cường hào bác ác bá để xúi phụ nữ đi vô đường quấy thì để cái gì cho con cháu đây?

Cai tuần Xướng trâng tráo:

– Ối, việc đời mà cô! Ai cũng có cái chỗ kẹt! Như tui đây là kẻ ăn cơm chúa nên tui phải múa tối ngày. Đâu có ai muốn làm chuyện quấy để cho miệng đời dèm siểm!

Cô Thiệt Nguyện làm thinh, mặt mày chầm dầm. Thấy mình ngồi hoài coi trơ quá nên Cai tuần Xướng đứng dậy kiếu từ. Trước khi bước ra khỏi nhà, hắn hăm he chú Cai tuần Hạp:

– Thầy Bang biện nhắc chú mày nhớ hai dãy ruộng, mầy cư xử sao cho vuông tròn thì xử. Tao như thiên lôi, thầy sai đánh đâu tao đánh đó. Tội lỗi gì đối với Trời Phật nhơn quả, tao không có chịu trách nhiệm đa!

Khi tên thiên lôi kia đã đi khuất mắt, thím Cai tuần Hạp từ trong buồng bước ra, mặt mày bùng thụng bùng thiu:

– Cái thứ đi dụ dỗ đàn bà đó đời nào tui thèm tiếp! Nếu nó còn ở đây cù cưa cù nhầy nói chuyện nhơn nghĩa bao đồng, tui sẽ lấy chổi tẩm cứt gà quét nó ra ngoài sân cho mang xấu!

Cô Thiệt Nguyện cười hòa nhã:

– Thiệt tình chị giận cũng phải, nhưng nếu chị sanh sự với nó thì mọi chuyện hư hết! Bây giờ, chị cứ hẹn tuần sau tiếp thằng già dê tại đây. Mốt, anh chị hãy cố gắng dọn dẹp hết bàn ghế đồ đạc chở qua nhà ông Năm Tảo, rồi hai bữa sau xuống tàu đi Bạc Liêu. Xứ đó ruộng nhiều, nhơn công ít. Nếu anh chị chí thú làm ăn thì dẫu không giàu cũng có của ăn của để.

Cô lấy một tờ giấy 20 đồng và một tờ 5 đồng:

– Ông bà Năm Tảo chịu mua bàn ghế của anh chị và nhờ tui đưa chị 20 đồng để hộ thân, còn đây là 5 đồng của tui tặng anh chị làm lộ phí.

Cai tuần Hạp xúc động;

– Mấy thứ bán ghế gỗ tạp đấy giá đáng là bao mà ông bà Năm Tảo cho tụi tui tới 20 đồng… Hôm qua, tui cũng đã bán hết lúa trong bồ được 30 đồng.

Cô Thiệt Nguyện đưa phong thơ cho Cai tuần Hạp, bảo:

– Ôi, bước đầu, tiền càng nhiều càng tốt chớ sao! Anh chị còn phải lo cất chòi ở yên đợi tới mùa gặt. Chừng đó anh chị có thể kiếm chác thêm trước khi mướn ruộng. Hãy đưa bức thư nầy cho người anh bạn dì tui là anh Hương hòa Hiệp, ảnh sẽ chỉ dẫn anh chị đường đi nước bước. Ở xứ đó lo gì chết đói! Cá tôm có sẵn trong rạch sông, ao bàu, lúa mót cũng đủ nuôi sống cả nhà anh chị nửa năm.

Vợ Cai tuần Hạp ứa nước mắt:

– Ơn cô lớn quá, vợ chồng tui biết lấy gì đền đáp dây!

Chị chấp tay toan xá cô Thiệt Nguyện nhưng cô xua tay:

– Chị đừng làm vậy khiến tui tổn thọ! Nếu chị nghĩ rằng từ đây về sau không có dịp nào trả ơn tui thì trên đường đời, hễ gặp người hoạn nạn, xin anh chị cứu giúp họ, đó cũng là cách trả cho tui đó.

Vợ chồng xúc động khóc rấm rứt. Số là cách đây một tuần, có Thiệt Nguyện có dịp đi xuống Cái Sơn chữa bịnh mắc đàng dưới cho con gái ông Hương kiểm Lợi, nghe được vận sự về cô Út Thoại Huê bèn tìm xuống Cái Sơn Lớn để thăm má cô Út. Khi cô đem bó nhang huyền đàn tới mả cô Út thì gặp một chị đàn bà ngồi trước mộ cô Út vừa khấn vái vừa khóc lóc. Chị đờn bà đó chính lá vợ Cai tuần Hạp. Sau khi biết khúc nôi nguồn ngọn, cô khẳng khái hứa giúp đỡ cho vợ chồng Cai tuần Hạp. Cứ cách hai ngày, cô đến viếng thăm gia đình anh ta để bàn bạc.

Vậy là mọi việc đã trù tính xong xuôi. Cai tuần Hạp dù có tha thiết chốn chôn nhau cắt rún mấy đi nữa, cũng phải tìm chốn dung thân mới, trước hết là để tránh điều sỉ nhục, hai là lìa kiếp làm ruộng mướn chịu sự bóc lột suốt đời cha qua đời con.

Trước khi ra về, cô Thiệt Nguyện nhờ vợ chồng Cai tuần Hạp đưa mình ra thăm mộ cô Út Thoại Huê lần chót. Mưa cuối mùa dù có thưa hơn mưa ngâu tháng bảy, nhưng vẫn làm cho đám cỏ tranh trên mộ thêm rậm thêm cao, vẫn làm đám dây choại, dây bìm, dây sắn thêm dài… Cô Thiệt Nguyện đánh diêm châm nén nhang bạch đàn thơm ngát cắm trước mộ, khấn vái:

– Cô Út ôi, cô là nạn nhân của ba anh em cậu Hai Luyện, còn tui là nạn nhân của cô Ba Cẩm Tú. Tui sống mà mang sầu chuốc não cũng như cô chết mà ngậm oán nuốt hờn. Song nếu cô hiểu rằng oán chớ cưu mang còn ân phải tìm cách báo đáp thì nên sớm giác ngộ để vong linh được siêu sanh…

Đang khấn vái, cô bỗng cảm thấy tối tăm mặt mũi như bị một tấm màn đen thẳm và lạnh ngắt trùm kín. Trong cơn váng vất, cô thấy một người đờn bà mặt mày tiều tụy xanh xao đến trước mặt mình, nghiến răng:

– Sát nhân thì giả tử, đó là lẽ thường của luật nhơn quả trả vay, đó là chuyện đương nhiên của tội phước báo ứng! Giờ đây là ban ngày, khí dương đang thạnh, tui sẽ nương theo cô mà thanh toán mối cừu hận đây!

Vía cô Thiệt Nguyện hỏi:

– Thưa cô, cô là ai?

Người đàn bà dằn từng tiếng:

– Tui là Út Thoại Huê. Cám ơn cô đã tới đây hai lần đốt nhang cho ấm vong linh tui. Nhưng xin cô đừng can thiệp vô chuyện của tui. Cô tu hành, cô lấy ơn báo oán, nhưng đó là chuyện của cô, còn báo cừu rửa hận là chuyện của tui. Lát nữa đây cô sẽ rõ!

Tới đây cô Thiệt Nguyện vụt tỉnh. Trời đã quá ngọ, cô kiếu từ vợ chồng Cai tuần Hạp để đi bộ về chùa Sơn Thắng nằm giữa Cái Sơn Lớn và Cái Sơn Bé, cách bến Bắc Cổ Chiên năm trăm thước. Chùa đang làm lễ cúng hạ nguơn nên dập dìu thiện nam tín nữ. Khi cô men theo con đường đất rải ngói vụn từ liên tỉnh lộ đưa vào sát chùa thì thấy cô Ba Cẩm Tú đang đứng hóng gió bên gốc dừa tam qua, nên cô đưa tay vẫy.

Số là hôm nay cô Ba Cẩm Tú bưng quả bánh nướng gồm bánh gai, bánh con duông, bánh hạnh nhơn đi dâng hương lạy Phật rồi ở chùa làm công quả. Cô đi chùa cầu Phật Quan Âm phù hộ cho cô sanh con trai để chồng cô mừng. Sau khi dùng bữa ngọ trưa xong, khách hành hương lục tục ra về. Cô còn đợi chồng đến rước nên cô đứng dựa gốc dừa, trước là hứng gió, sau là nhìn ra con lộ coi xe chồng cô tới hay chưa. Vừa lúc cô Thiệt Nguyện trờ tới đưa tay vẫy vẫy, nhưng cô Ba Cẩm Tú chỉ thấy cô Út Thoại Huê, tay cầm roi cá đuối hươi lên sẵn sàng đánh cô. Trời ơi, làm sao cô lầm được! Rõ ràng là cô Út Thoại Huê, mặt trẹt có nút ruồi duyên bên mép, mặc chiếc áo bà ba bằng lụa cẩm cúc màu vàng, chiếc áo mà cô mặc hôm uống chén thuốc phá thai sắc bằng cỏ càn ngươn! Kinh tâm táng đởm, cô Ba Cẩm Tú chạy trối chết vào sân chùa, miệng la bài hải. Thình lình cô trợt té vì miếng vỏ dưa gang ai vừa liệng trên lối đi…

Cô Thiệt Nguyện chạy lại đỡ cô lên:

– Sao em bỏ chạy vậy? Chị có làm gì em đâu?

Cô Ba Cẩm Tú vụt mở mắt:

– Ủa, chị là… Sao mới đây em thấy con Út Thoại Huê đến đây lấy roi cá đuối đánh em?

Bấy giờ cô Thiệt Nguyện mới hiểu lời nói của cô Út Thoại Huê: “Lát nữa đây cô sẽ rõ”. Cô vừa an ủi vừa đỡ cô Ba Cẩm Tú dậy thì thấy máu loang đỏ ối từ đũng chiếc quần sa teng tuyết nhung trắng của cô Ba. Vừa lúc đó thì bác sĩ Lê Thanh Mậu lái xe tới, nhưng cô Ba đã chết giấc khi thấy máu tuôn ướt quần mình.

Cô Ba Cẩm Tú cầm được máu vì gần chùa có bà xẩm chuyên nghề châm cứu, nhưng về nhà, bụng cô cứ đau âm ỉ. Cũng hôm đó, cô đang nằm nghỉ trong phòng thì bên ngoài trời nổi cơn mưa lớn, sấm sét rầm rĩ. Bỗng một cú sét đánh quát vào trung đường, tiếp theo là tiếng nổ thiệt lớn khiến tai cô muốn điếc, đầu óc thiếu điều rạn nứt. Sau đó con Hiệu, đứa tớ gái, từ ngoài chạy vào báo cáo:

– Thưa bà, cái trang thờ bùa bị sét đánh bể tan nát hết rồi!

Cô Ba Cẩm Tú rụng rời. Gói bùa gồm những củ ngải trong vuông lụa đỏ có vẽ hình và chữ ngoằn ngoèo bằng kim nhũ lóng lánh cô vừa thỉnh từ Tịnh Biên về được đặt trong một chiếc trang thờ, nơi đó bóng đèn trứng vịt được thắp sáng cả ngày lẫn đêm.

Khi cô Ba bước ra trung đường thì chiếc trang đã bị đánh rớt xuống bàn thờ ông bà, mấy mảnh ván bằng gỗ thùng thông đè sập bức họa truyền thần tía má chồng cô, làm kiếng bể tung tóe. Gói bùa bọc lụa đã cháy, bốc mùi khét nghẹt. Cô dập tắt lửa, kinh hoảng thấy chẳng những lớp lụa bên ngoài cháy thành tro mà mấy củ ngải bên trong cũng đã thành than đen!

Tuần lễ sau, cô Ba Cẩm Tú đau bụng kinh khủng, Bác sĩ Lê Thạnh Mậu vội đưa cô vô nhà thương tỉnh, hiệp cùng bác sĩ trực tháo máu ứ đọng trong tử cung cô. Và đau khổ cho ông biết bao, cái thai cũng theo máu ra ngoài! Cô phải nằm nhà thương mất một tuần. Chồng cô không dám tiết lộ chuyện sẩy thai cho cô biết.

Khi về nhà, bác sĩ Lê Thạnh Mậu lựa lúc cô tỉnh táo minh mẫn, mới nói hết tự sự cho cô nghe. Cô khóc rấm rứt:

– Mình tuy chưa nói, em cũng đoán ra sự việc rồi, từ lúc sét đánh sập trang thờ bùa.

Từ đó cô sầu não, ăn không ngon ngủ không yên. Rồi cô nghi cô Thiệt Nguyện dùng bùa phép đội lốt đội hình cô Út Thoại Huê để nhát cô. Chẳng cần phải chạy trợt té, nội cơn sợ khủng khiếp cũng đủ làm cô hư thai rồi! Cô tự hứa mình phải trở lại Tịnh Biên để chuộc bùa đậu thai, luôn tiện chuộc luôn bùa ếm cô Thiệt Nguyện cho cô nọ phải chết thảm thiết.

(Còn tiếp Chương 7)

Share this post