Bãi Gió Cồn Trăng (Tiểu Thuyết – Hồ Trường An) Chương 9

Bãi Gió Cồn Trăng (Tiểu Thuyết – Hồ Trường An) Chương 9

BÃI GIÓ CỒN TRĂNG
* Tiểu Thuyết – Hồ Trường An
* Làng Văn xuất bản (Canada, 1995)

* Để đọc những phần đã đăng, xin vào khung Search this site (Tìm Kiếm) và gõ tên tác giả: Hồ Trường An.

CHƯƠNG 9

Ông Huyện Khải, trong thời gian chờ đợi ngày đám cưới, thường từ Tiểu Cần lên thăm cô Hai Túy Ngọc và ông Bác vật Cảnh. Cùng đi với ông có Đốc học Hạnh, vốn là anh em chú bác người vợ trước của ông, cũng là cháu kêu ông Bang biện Hưỡn bằng chú. Thiệt ra, ông Cai tổng Chất, tía cô Ba Kim Chưởng (vợ trước ông Huyện Khải) và ông Chánh bái Chơn, tía ông Đốc học Hạnh, đều là anh một cha khác mẹ với ông Bang biện Hưỡn. Ông nội của họ là phường mãi quốc cầu vinh, tía và chú họ đều là cường hào ác bá, anh em con nhà chú nhà bác họ nếu không là thứ đâm heo thuốc chó thì cũng là phường giá áo túi cơm.

Tuy nhiên cây đắng vẫn trổ trái ngọt. Ông Đốc học Hạnh từ nhỏ vốn bịnh hoạn èo uột nên bà mẹ ông liền ký bán ông cho gia đình người chị con nhà cô của bà. Nhờ sống trong gia đình hiền đức lẫn đạo hạnh của dì họ mà ông nhiễm được hai đức tánh cao quý đó. Ông càng lớn càng bất mãn cách ăn ở khắc bạc của thân tộc mình đối với kẻ nghèo hèn cô thế nên ông ít đi lại với họ. Nội trong vòng bà con, ông chỉ thấy cô Ba Kim Chưởng là hiền lành thùy mị nên ông có bụng thương yêu nể vì. Sau đó cô Ba sánh duyên với ông Huyện Khải, ông cũng thường giao thiệp với người em rể họ của mình. Nhận thấy ông Huyện thanh liêm, khiêm tốn, cách ăn nói mềm mỏng nên ông Đốc học Hạnh mến thương ông Huyện còn hơn em ruột. Từ khi cô Ba Kim Chưởng qua đời, ông Huyện Khải và ông Đốc học Hạnh vẫn giữ tình em rể anh vợ như cũ.

Ông Đốc học Hạnh góa vợ hồi hai mươi lăm tuổi. Năm nay ông đã bốn mươi. Cậu con trai độc nhất của ông năm nay mười tám tuổi, đã đậu bằng tú tài bán phần và hiện học tại trường Chasseloup Laubat ở Sài Gòn để chuẩn bị thi tú tài toàn phần.

Mỗi khi ông Huyện Khải đi thăm gia đình hôn thê của ông đều có ông Đốc học Hạnh tháp tùng theo.

Cô Út Ngọc An từ khi hết bịnh đàng dưới cũng thường lui tới nhà ông Năm Tảo. Ai dè cô lọt vào mắt xanh ông Đốc học Hạnh. Năm nay cô đã ba mươi hai tuổi, coi như lỡ thời. Còn ông thì tuổi đã bốn mươi mốt. Song ông còn tươi, còn trẻ nhờ năng vận động. Cô thì về sau nầy nhờ bầu tâm cảnh sáng làu làu nên mặt mày cô rạng rỡ, vóc vạc uyển chuyển. Thiệt tình, thuở chưa bị nạn, cô không xấu gái. Hiềm vì lòng cô không an ổn, tánh cô đầy sân hận nên mặt cô dữ dằn u ám. Giờ thì cô sống thảnh thơi tự tại nên mặt cô trở nên hiền hậu dịu dàng, thần sắc cô sáng như gương nga đêm rằm.

Khi nghe ông Đốc học Hạnh muốn cưới cô Út Ngọc An thì cả nhà ông Năm Tảo mừng rỡ lắm. Bà Chín Thẹo cũng mừng, nhưng lại lo vì bà nghĩ rằng con gái mình lòng dạ thưa thớt, sợ cô không rành lễ nghi phong cách để làm vợ một bực tân học.

Bà Năm Tảo trấn an:

– Con Út thông minh lắm. Khi nó về với ông Đốc học rồi thì nó sẽ thích ứng với ổng, chị Chín chớ lo! Vả lại chắc chắn ổng sẽ chỉ vẽ cho nó cách ăn ở của dân tỉnh thành tân tiến.

Cô Hai Túy Ngọc cười chúm chím:

– Bác Chín chưa biết đâu! Chị Út con giờ đây yểu điệu mỹ miều chớ đâu phải như chầu xưa. Ông Đốc học cưới chỉ về, cưng chỉ không hết chớ lý đâu xét nét để chê đè chỉ xuống!

Ông bà Bang biện Hưỡn được tin đó, tỏ ra bất mãn lắm. Bà vỏ vảnh cái miệng nói với chồng:

– Thằng cháu ông có thể cưới hạng đờn bà có tiền của, có ăn học. Ai dè y ta lại mê say đứa con gái hạ tiện, lỡ thời đó. Gia tộc ông có lẽ hết thời hay sao rồi nên mới có người rước thứ cùng đinh mạt hạng đó về!

Ông Huyện Khải và ông Đốc Hạnh cứ mỗi tháng hai lần, lui tới xóm Chuồng Gà thăm vị hôn thê. Vì ông Chánh bái Chơn đã qua đời, mà ông Đốc Hạnh trên không có anh chị đứng làm chủ hôn nên ông phải nhờ dì dượng họ của mình. Dù sao hai ông bà nầy cũng đã nuôi dưỡng ông lúc ông còn thơ dại. Ông cũng cậy vợ chồng người bác của ông Huyện Khải đứng làm mai nhơn. Lễ hỏi được tổ chức trong vòng thân mật. Ông Đốc Hạnh có mời ông bà Bang biện Hưỡn, ông bà Bác sĩ lê Thạnh Mậu và cậu Hai Kinh lý Luyện, nhưng họ kẻ kiếm cớ nầy, người kiếm cớ nọ, không đi.

Đàng trai đi sính lễ gồm một đôi bông hột xoàn năm ly, một cặp vòng chạm phụng giao đầu, một cây kiềng vàng chạm nặng cỡ một lượng, một chiếc cà rá hột xoàn, một sợi dây chuyền nạm tám hột xoàn, mỗi hột cỡ ba ly, một cặp cà rá vàng chạm cửu khúc liên hườn. Nữ trang có kiểu xưa, có kiểu kim thời.

Bà Chín Thẹo hôm đám hỏi mời đủ mặt họ hàng bên bà lẫn bên ông trong lãnh thổ tỉnh nhà. Xong xuôi, bà may sẵn cho cô dâu tương lai một cái áo dài gấm đại hồng hoa bạc hình mặt nguyệt, một áo dài nhiễu màu đọt chuối, một áo dài lụa mỏng trắng. Ba chiếc áo đó để hôm đám cưới, cô dâu sẽ mặc áo cặp ba.

Bà Bang biện Hưỡn bảo cậu Hai Luyện:

– Ông anh con nhà bác con không chịu kiếm phấn giồi mặt cho bà con họ hàng đâu! Nó kiếm máu hòe, bùn, cứt, để trây trét lên mặt cả dòng cả họ nhà mình đó đa con!

Cũng vậy, từ hôm ông Huyên Khải đi coi mắt cô Hai Túy Ngọc, bà Bang biện Hưỡn tỏ ra lợt lạt với ông. Riết rồi khi ông tới viếng Cầu Đào, bà Bang biện bẹo hình cho ông thấy rồi quày quả vào trong buồng để mặc ông chồng bán thân bất toại nằm trên ghế trường kỷ tiếp khách.

Ông Huyện Khải than thở với ông Đốc Hạnh:

– Thím Bang biện có vẻ ghét bỏ tụi mình lắm, anh Đốc à. Cho nên từ rày sắp tới, tui hết dám tới Cầu Đào.

Ông Đốc Hạnh hít một tiếng bất bình:

– Cầu cho bả ghét! Cái thứ bả càng lui tới thân mật với mình, càng làm mình bận rộn thêm!

Cậu Hai Luyện cũng bắt chước tía má mình, tỏ vẻ lợt lạt với ông Huyện Khải và ông Đốc Hạnh. Không hiểu cậu vì lo việc hay vì lười biếng mà cứ ở miết Mỹ An. Nếu có rảnh thì cậu đi An Hương, đi Hòa Mỹ. Bà Bang biện Hưỡn bao phen nhắn nhe cậu về thăm nhà mà cậu chỉ hứa hẹn cầm chừng. Thì ra cậu vừa chài bẩy được hai cô thôn nữ. Cô thứ nhứt là Ba Hưởng, con gái chú Thường Xuyên Hiếu ở Hòa Mỹ. Cô thứ hai là Hai Thiều, con chú Hương nhứt Điêu ở An Hương. Khéo làm sao hai cô cùng có thai một lượt. Dì ruột cô Ba Hưởng là bà Tư Nghệ, một hôm đi Mỹ An tìm tới cậu Hai báo tin.

– Cậu ôi, cậu dụ con cháu tui cách nào không biết mà giờ đây nó mang bầu rồi!

Cậu Hai Luyện trợn mắt:

– Bà chớ nói xàm! Cháu của bà lấy ai mang bầu rồi bà đổ hô tui dụ dỗ! Cô cháu bà là hạng người nào mà tui phải tò tí với cổ? Bà liệu hồn đi khuất mắt tui cho sớm, nếu bà còn lảng vảng ở đây tui sẽ sai thầy Hương quản Mít còng đầu bà với cô cháu gái bà đem ra nhà việc đóng trăn cho mang nhục! Tui là quan Kinh lý, ai cho phép bà kêu tui bằng cậu?

Bà Tư Nghệ đành nuốt hận ra về. Cô Ba Hưởng buồn tủi nhục nhã liền bỏ làng xóm đi lên chợ Vãng sanh con. Sau đó cô gặp chú Chệt Woòng Coóng bán tiệm chạp phô ở Cầu Lầu. Y ta chịu cưới cô và nhận con cô làm con. Nhưng đó là chuyện về sau.

Riêng cô Hai Thiều, khi nghe đồn cậu Hai Luyện dùng oai quyền để chối phắt việc làm tác tệ của mình với cô Ba Hưởng thì đành chịu nhịn, không dám tìm tới cậu. Cô uống lọ xạ chồn hương để phá thai và bị băng huyết dầm dề. Khi ra khỏi nhà thương, tóc cô rụng nhiều. Cô đành tìm đến Sơn Thắng thí phát quy y. Nhưng đó cũng là chuyện về sau.

Chuyện bây giờ là công việc cậu Hai Kinh lý Luyện đo đất để đào con rạch Mỹ An. Dài theo phần đất của ông Hương sư Chiêm cũng bị lọt vào trong vùng đất bị đào. Cậu Hai Khiết, trưởng nam ông Hương sư Chiêm một hôm bưng mâm trà, bánh và rượu đến nhà trọ cậu Hai Luyện, khúm núm thưa:

– – Bẩm quan Kinh lý, đây là phẩm vật của tía tui kính lên quan để quan dùng lấy thảo. Tía tui là ông Hương sư Chiêm.

Cậu Hai Luyện cười:

– Tui có nghe ông Hương sư hiếu khách lắm nên cũng tính sẽ có ngày đến viếng ổng. Dè đâu ổng lại sai chú tới đây tặng phẩm vật để mở đầu cuộc giao hảo. Vậy khi về nhà, chú nhớ chuyển lời cám ơn của tui nghe!

Cậu Hai Khiết dạ dạ. Còn cậu Hai Luyện giở tấm vải hồng điều đậy trên mâm quà tặng thì thấy hai chai rượu cỏ-nhác, một hộp trái vải, một hộp bánh bích-qui, hai hộp trà Thiết quan âm, một chục trái cam tàu và một phong bao giấy hồng. Cậu liền hỏi cậu Hai Khiết:

– Cái gì vậy chú?

Cậu Hai Khiết thưa:

– Bẩm quan Kinh lý, tía tui nhờ quan đo đất lấn qua ranh cuộc đất chú Xã Miễn và cuộc đất thầy Hương hào Liệt để đào kinh. Có vậy phần đất của tía tui mới giữ nguyên vẹn. Nếu được vậy, tía con tui đội ơn quan Kinh lý vô cùng. Sau vụ nầy, tía tui sẽ đền ơn thêm cho quan lớn.

Cậu Hai Luyện cười hề hề:

– Được rồi, để tui tính. Chú cũng nên thưa với ổng, chiều mai tối sẽ đến nhà ổng bàn bạc thêm.

Tối hôm đó, cậu Hai Luyện cứ loay hoay với tấm địa đồ. Cậu dùng viết chì đỏ vạch lấn qua phần đất của Xã Miễn và Hương hào Liệt để đào kinh và quyết định chiều mai sẽ đến nhà Hương sư Chiêm, kèo nài ông ta đưa thêm hai lượng nữa.

Mãi tới đầu canh ba, công việc xong, cậu trở về buồng và lên giường. Cậu thở dài khoan khoái. Thấy chưa! Nhờ phá được trinh cô Ba Hưởng và cô Hai Thiều mà tiền bạc tự dưng tới cậu. Hèn chi tụi phú thương Huê Kiều rất chuộng phá trinh con gái để được ăn nên làm ra.

Đến giữa canh ba, cậu Hai Luyện mới ngủ được. Trong chiêm bao, cậu thấy một người đờn ông da đen như da người Chà và, mặt đầy mụn, miệng rộng, răng lởm chởm. Y ta mặc bộ đồ xám nổi vảy như vảy cá sấu. Y ta bảo:

– Kính chào quan Kinh lý. Tui là thần Hắc Giao đại vương nằm trong cuộc đất này. Đầu tui ló gần tới ranh giữa đất của Xã Miễn và của Hương sư Chiêm. Nếu quan lớn cho đào kinh y theo bản đồ đã vạch thì đầu tui không bị đứt, tui sẽ yên lòng tu niệm để chừng năm mươi năm sau, tui thoát kiếp con sấu vảy đen mà biến thành con xích long bay về Nam Hải. Nếu quan lớn ăn tiền hối lộ, đào kinh lấn qua phần đất Xã Miễn thì đầu tui bị đứt còn đâu mà kể! Xin quan Kinh lý giữ đức hiếu sanh, đứng để tui bị tán mạng bởi mấy lượng vàng do ông Hương sư Chiêm lo lót. Khi tui tu thành chánh quả rồi, sẽ có ngày tui tìm được cách trả ơn quan lớn.

Vía cậu Hai Luyện hỏi:

– Đào kinh là việc của tui, mắc mớ gì tới ông? Có phải ông ăn hối lộ đồ cúng của Xã Miễn rồi cản trở tui đó chăng?

Người đàn ông bảo:

– Đó là cuộc đất theo thế Hắc Giáo Vọng Hải, có nghĩa là con sấu đen ngóng ra biển. Tuy là đất, nhưng nó là cái thịt xương, cái thể chất của một vị thần như tui. Quan lớn khi đào kinh phá hỏng nó tức là giết một sanh mạng vậy.

Tới đây cậu Hai Luyện giựt mình tỉnh dậy. Cậu bần thần suy nghĩ:

– Mình mà giết thần sấu đen trong khi đào kinh tức là giết một kẻ không thù không oán với mình. Nhưng bất quá đó cũng chỉ là thứ quỉ thứ ma, chẳng phải tiên thánh gì đó. Mình đã lỡ nhận quà biếu và hai nén vàng của ông Hương sư Chiêm rồi, không lẽ trả lại. Ngày mai mình tới nhà ông Hương sư Chiêm, kèo nái ổng đưa thêm sáu lượng nữa. Nếu ổng thuận thì mình cho đào qua phần đất Xã Miễn.

Nghĩ vậy cậu an lòng ngủ tiếp.

Sáng hôm sau, cậu Hai Luyện sai bạn chèo ghe trương buồm đưa mình về chợ tỉnh. Ông Bang biện Hưỡn tuy nói được nhưng giọng ú ớ, cổ họng như bị trám nghẹt, cho nên khi nói ông phải gồng cổ hét lớn, vậy mà tiếng nói cũng không vang lộng được bao nhiêu. Ông vẫn nằm trong lòng ghế bành có thành dựa kê chiếc gối, mặt ông mệt mỏi, mắt ông trõm lơ.

Bà Bang biện Hưỡn vừa thấy mặt cậu trưởng nam, quở:

– Con dựa vô chuyện nhà nước, đi hoang đàng chi địa suốt cả tháng nay, giờ mới mò về nhà. Tía con giờ thành phế nhân rồi, việc nhà con không chịu coi sóc thì bỏ cho ai đây? Nhà mình có tiền có ruộng, nếu con chăm chỉ mần ăn thì có thể sống dư dả ngỏa nguê suốt đời. Má chỉ muốn con từ chức để ở nhà hú hí với tía má và trông coi mọi việc trong ngoài. Con lớn rồi, cứ chạy theo mấy con lủng thuộc phường hạ lưu hạ tiện thì còn non nước gì?

Hôm đó cô Ba Cẩm Tú từ bến Cầu Lộ qua chơi. Trời mưa sùi sụt. Khu vườn chung quanh ướt loi ngoi lóp ngóp. Hàng chuối bên hông nhà đâm ra nhiều chồi chuối con. Mấy bụi tre mạnh tông ở cuối vườn, mụt măng trỉ tua tủa. Cô Ba Cẩm Tú nhìn hàng cây đu đủ trồng trên vồng đất cao gần sát hàng rào tre, nói:

– Mưa hoài mưa hủy, không khéo mấy cây đu đủ úng thủy thúi gốc cho mà coi.

Cậu Hai Luyện bảo mẹ:

– Con về đây trước là thăm bệnh tình tía con, sau nữa là để nhờ thầy Mười Khói tìm thầy ếm trấn mấy vong hồn đất đai trước khi cho đào kinh. Má biết đó, hễ mình đào mương, đào ao, đào kinh là thế nào cũng phạm tới mạch thổ địa, mạch sấu, mạch kỳ đà nằm trong đất. Bởi vậy con phải nhờ thầy pháp ếm trấn trước cho chắc ăn.

Bà Bang khen ngợi:

– Con cẩn thận như vậy là tốt. Má đợi con về đây cũng là để bàn việc đó. Con nói ra má mới yên bụng. Để má lo việc nầy cho.

Bà sai con Lý giết con gà mái dầu làm thịt để dọn cơm, sai con Lài pha trà, pha cà phê và dọn mâm bánh nếp nhưn thịt để ba mẹ con bà điểm tâm.

Sau đó, cậu Hai Luyện xin phép mẹ ra chợ mua sắm. Đợi thằng con trai đi ra tới ngõ, bà Bang biện Hưỡn mới cằn nhằn cô Ba Cẩm Tú:

– Tao nghe đồn lúc rày vợ chồng mầy tới thứ Bảy nào cũng dắt nhau vô dinh quan Chánh tham biện để nhảy đầm.

Cô Ba Cẩm Tú cười mơn:

– Con đi với ảnh, chớ có đi mình ên đâu mà má lo! Nếu ảnh không rủ rê thì con đời nào dám vô mấy chỗ đó.

Ba Bang biện nguýt:

– Tao còn nghe mày ưa lui tới con mèo quan Chánh tham biện là con Ba Thuận và con mèo của quan Cò-mi là con Năm Định nữa. Trời ôi, thấy mặt hai con chơi bời đó tao muốn thượng thổ hạ tả rồi chớ huống hồ nói năng giao thiệp vời tụi nó! Nghe nói quan Chánh tham biện và quan Cò-mi thân nhau, mượn vợ đổi vợ với nhau hà rầm. Chồng mầy mà bày đặt giao thiệp với hạng Phiên tặc Phiên tướng đó, có ngày nhiễm thói hư tật xấu của họ cho mà coi.

Cô Ba Cẩm Tú cười hăng hắc:

– Má thiệt! Chồng con có sạn trong đầu có sỏi trong óc, đời nào ảnh làm chuyện dại dột như vậy! Má cứ lo bao đồng nên má hao tâm tổn trí, ăn ngủ không ngon là vây đó.

Bà ngó chăm bẳm con gái:

– Thời buồi nay đờn bà thiệt khó hiểu! Không chịu lấy chồng cùng giòng họ, dám cặp xách với tụi ngoại bang dị chủng. Như quan Chánh tham biện kia râu ria, mắt ốc bươu, miệng cá chẽm, mũi mỏ két, lưng lớn như tấm đi-quăng, tướng tá ô dề cục mịch, vậy mà có đứa nhào vô lấy cho được! Chắc là nó mê tiền tham dâm chớ gì?

Cô Ba Cẩm Tú đỏ mặt ú ớ toan nói điều gì nhưng lại thôi. Bà Bang biện Hưỡn sai thằng Xiêm, thằng Đực đi đòi nợ. Thằng Xiêm ra Cầu Dài, đến nhà chị Tám Thiệt; còn thằng Đực thì quẹo qua dãy phố Khương Hữu Phụng để tới nhà thím Bảy Định. Bà nói vói:

– Bây dặn cái quân trây nợ đó, tháng nầy mà tụi nó không trả lời trả vốn cho tao là tao cào nóc nhà, đạp bàn thờ tụi nó đó!

Bà kêu Bửu lại dặn:

– Mầy đến nhà thầy Mười Khói, nói với thẩy tối nay tới đây có việc cần. Đi xong rồi về liền để giã cho tao hai cối gạo, đừng có đi một chút lút một ngày mà chết với tao.

Bỗng có người phát thơ đến ngoài cổng, gọi ơi ới. Cô Ba Cẩm Tú lật đật chạy ra. Người phát thơ chìa bức thơ ra:

– Thưa cô Ba, đây là thơ từ Sài Gòn về.

Cô Ba Cẩm Tú nói “cám ơn” rồi bắt lỗi liền:

– Chú Năm à, sao chú thưa thớt vậy? Giờ tui là vợ ông quan thầy thuốc rồi, chớ có còn son giá gì nữa đâu mà chú kêu tôi bằng cô Ba hoài vậy?

Cô nguýt dài rồi ngoe ngoảy vào nhà, bảo mẹ:

– Có thơ con Tư gửi về.

Bà Bang biện Hưỡn bảo:

– Con đọc cho má nghe đi. Không chừng nó đập bầu rồi viết thơ báo tin chớ gì!

Cô Ba Cẩm Tú xé phong bì, moi thơ ra đọc:

Sài Gòn, ngày…

Kính thưa tía má,

Trước hết con xin vấn an tía có bớt bịnh hay không? Còn má có được xuôi chèo mát mái trong việc làm ăn sanh lợi hay không?

Tới nay con cũng chưa đạp bầu. Không chừng con mắc chứng chửa trâu, nên con có đến nhà lũ bạn xin mỗi đứa một nhúm gạo về nấu cháo ăn cho mau đẻ. Hễ con đập bầu xong thì con sẽ nhờ chồng đánh giây thép về cho tía má mừng.

Sở dĩ con biên thơ này cốt là báo cho tía má rõ: thằng chồng khốn nạn của con lóng rày ưa chà lết ở nhà tía má vợ trước của nó. Con cho người dò la biết rằng, em con nhà chú của mụ Tư Thục là con Hai Tố Trinh mấy tháng nay từ Cái Răng lên nhà hai bác nó là ông bà Huyện Tịnh ở trọ để học làm bánh và thêu đan. Nghe đâu con nọ đã có bằng Thành chung, lại có bóng sắc. Đằng ông bà Huyện Tịnh muốn câu thằng chồng oan gia của con nên bắt con nọ nhởn nha quần hàng áo lụa, tô son trét phấn để chưng bươm bướm trước mặt thằng chồng trâu tria rắn rít của con.

Giờ đây con mang bầu, vóc mình lệch lạc, sắc mặt chao vao, tướng đi ột ệt, chuyện vợ chồng chẳng những không nồng mặn như xưa mà thằng khốn kiếp đó còn sanh sự với con luôn. Thế nào mà bà Huyện Tịnh chẳng nói vô nói ra. Chưa hết đâu! Hễ má chồng con có dịp về Sài Gòn là ở miết bên bà Huyện Tịnh, tình nghĩa đôi bên ra vẻ mặn nồng lắm. Bấy lâu nay, cái bà mẹ chồng ó đâm đó đời nào chịu xuống Vĩnh Long thăm tía má? Càng nghĩ chừng nào, con càng buồn tủi, càng run sợ chừng nấy. Biết đâu họ đang toa rập nhau hất con ra? Bấy lâu nay con muốn theo lẽ thường: đờn bà hễ sanh con đầu lòng thì phải về nhà cha mẹ ruột. Song con cứ nơm nớp lo sợ hễ con mà rời nhà rồi thì khó mà bồng con trở về lắm. Vậy má có kế chi giúp con với. Giờ đây con bối rối, không biết tính toán lo liệu ra sao!

Cuối thơ con chúc tía má, anh Hai, chị Ba, anh Ba được an khương.

Kính thư

Tư Cẩm Lệ

Cô Ba Cẩm Tú sượng trân khi nghe mẹ mình xóc xỉa bon Tây tà. Thiệt ra cô không ngoại tình tư ước với quan Chánh tham biện Jean Delarue. Cô hiện đang dan díu với tên Thierre Lemur, chủ đề-bô rượu Tây, nước ngọt, la-de, nước đá trong tỉnh. Qua vài lần gặp gỡ và nhảy nhót với hắn nơi các buổi dạ hội trong dinh quan Chánh tham biện, cô bị tên Pháp kiều nầy dụ dỗ vào con đường quấy. Lúc đầu cô chê hắn là thứ ngoại bang dị chủng, tròng mắt xám như mắt đui, thân to lớn dềnh dàng thô kệch. Vậy má hắn tán tỉnh cô ngọt ngào du dương quá, cọ quẹt cô sành điệu quá nên cô động tình. Một phần cô buồn vì đường chửa nghén của cô kể như đứt tuyệt sau lần xảo thai kia, một phần chồng cô lợt lạt với cô về chuyện hương lửa, và một phần lớn do oan nghiệt đẩy đưa nên cô muốn tìm cách giải trí.

(Còn tiếp Chương 9)

Share this post