Chờ Tôi Đêm Ba Mươi (Truyện Ngắn – T.T. Thái An)

Chờ Tôi Đêm Ba Mươi (Truyện Ngắn – T.T. Thái An)

Năm 1969, chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa ra thông cáo, vì vấn đề an ninh của miền Nam, tất cả công dân nam nữ từ 15 tuổi trở lên phải đi làm thẻ căn cước. Ai cũng phải đi làm căn cước trong tháng sinh nhật của mình. Đó là loại căn cước mới có chụp ảnh, lăn tay và ép plastic. Sau một thời hạn đã ấn định, mọi công dân bắt buộc phải có căn cước mới, và căn cước cũ sẽ hết hiệu lực. Khi ra đường có thể bị cảnh sát gọi lại xét giấy tờ bất cứ lúc nào. Trước đó, 18 tuổi trở lên mới phải làm căn cước.

Thế là vừa đúng năm tôi được 15 tuổi. Nhưng tôi phải chờ đến tháng sau cùng của năm mới đến lượt mình đi làm căn cước. Đối với tôi lúc đó, có căn cước xem như thành người lớn rồi. Làm người lớn thì không biết có gì vui, nhưng tôi cảm thấy nếu không làm căn cước có thể có rắc rối với mấy thầy cảnh sát khi ra đường.

Hôm đó tan học về, mẹ nhắc tôi đi làm căn cước vì đã đúng 15 tuổi. Tôi ăn trưa xong, thay quần tây và một cái áo kiểu cổ bẻ mầu xanh dương. Tuy hình căn cước chỉ có trắng đen, nhưng tôi cũng muốn có hình cổ áo đàng hoàng.

Tôi đi bộ ra hội đồng xã Phú Nhuận, đã có cả dãy người dài thòng xếp hàng ở đó. Họ chuyện trò với nhau, có lẽ họ quen biết nhau hay đi chung với nhau. Còn tôi đi một mình nên yên lặng, hết nhìn vào đám đông lại nhìn vào phía những người đang được lăn tay hay chụp ảnh. Vì hội đồng xã không đủ rộng nên bầy thêm bàn ra bên ngoài, phía sau tòa nhà để làm căn cước. Thỉnh thoảng bắt gặp một đôi người đang nhìn tôi như quan sát, tôi ngại ngùng nhìn qua nơi khác. Ở cái tuổi 15, lớn chưa tới, nhỏ thì cũng chẳng còn nhỏ, thật là dở dở ương ương nên hay bị mắc cỡ và lúng túng trước đám đông.

Chờ gần cả giờ đồng hồ mà cái đuôi người vẫn còn dài ngoằng. Trời nắng chói chang, nóng hừng hực mà tôi không đem theo dù hay đội nón gì cả. Nên chẳng bao lâu tôi bắt đầu cảm thấy nhức đầu. Tôi cố nán lại thêm chút nữa nhưng cơn nhức đầu càng lúc càng căng nên tôi ra về.

Về đến nhà mẹ hỏi ngay:

– Làm xong rồi à?

Tôi trả lời”

– Chưa xong, nhưng con nhức đầu quá nên không xếp hàng được nữa.

Nghe thế mẹ bảo:

– Thôi hôm khác lại đi, nhớ đem theo dù che đầu.

Thế là ngày nào mẹ cũng nhắc tôi đi làm căn cước. Tôi cứ ừ à cho qua, hẹn lần đến hôm khác. Vì tôi quá ngại khi phải đứng xếp hàng vài giờ dưới cơn nắng gay gắt, trước một đám đông mà tôi chẳng quen ai. Cho đến khi gần Tết ta, mẹ lại hối nữa. Tôi không dứt khoát trả lời. Mẹ lại nhờ ông ngoại:

– Hay là ông dắt hộ cái An đi làm căn cước nhé?

Ông tôi gật đầu ngay. Tôi thở phào nhẹ nhõm. Có ông đi theo, tôi sẽ có người đứng xếp hàng chung, có người nói chuyện cho đỡ chán trong lúc chờ đợi. Nhất là tránh khỏi những cặp mắt nhìn tôi có vẻ tò mò.

Hôm đó tôi mặc chiếc áo dài màu san hô nhạt. Vì mẹ mua cho tôi hai xấp vải màu để may áo dài mặc Tết, dù trước đó mẹ đã cho tôi tiền may vài cái áo đầm, tôi tự đi lựa vải và đi may lấy. Có lẽ mẹ muốn tôi mặc áo dài màu ngày đầu năm nên tự ý chọn vải áo dài cho tôi. Tôi không muốn để dành đến Tết mới đem ra mặc.  Tôi muốn mặc ngay để chụp hình căn cước cho ra vẻ người lớn.

Hai ông cháu đi bộ ra hội đồng xã. Kỳ này ông cầm theo dù cho tôi, vì ông biết tôi không thích cầm giữ mấy thứ lỉnh kỉnh. Phần ông thì lúc nào cũng cầm theo cái quạt nan che đầu. Đến nơi thì đã có dòng người xếp hàng dài thòng. Tôi và ông đứng xếp hàng cả một tiếng rưỡi mới đến lượt tôi.

Tôi đưa giấy khai sinh cho anh chàng có nhiệm vụ lăn tay. Anh ta la lên:

– Tại sao bây giờ mới đi làm? Quá hạn hơn một tháng rồi. Không được làm nữa.

Nói xong anh ta đưa trả tôi giấy khai sanh. Tôi ngạc nhiên hỏi lại:

– Không được làm căn cước là tôi sẽ không có căn cước hay sao?

Anh kia trả lời:

– Đúng rồi, vì đã quá hạn, không được làm nữa.

Tôi tái mặt, mím môi để khỏi bật lên tiếng khóc.  Ông tôi vội nài nỉ với anh kia:

– Xin ông vui lòng giúp cháu tôi, dù trễ nhưng cũng phải làm căn cước chứ. Ông cứ lăn tay cho cháu đi.

Anh kia cứ lắc đầu xua tay bảo chúng tôi đi về. Ông tôi cố nài nỉ thêm vài câu nhưng vô ích. Anh kia hống hách xua tay đuổi chúng tôi. Nhất định không cho tôi làm căn cước. Rồi gọi người đứng sau tôi lên lăn tay.

Hai ông cháu ra về mà lòng tôi buồn rười rượi. Sợ về nhà lại bị mẹ mắng sao không nghe lời đi làm từ trước. Ông an ủi tôi: “Về hỏi mẹ cháu xem có cách nào không”.

Về đến nhà, mẹ hỏi: “Làm xong rồi à?”. Ông lắc đầu kể lại mọi sự. Mẹ trách nhẹ tôi một câu nhưng nói ngay:

– Hay là nhờ chị Thu xem, chị ấy quen biết nhiều, không chừng chị ấy dắt đi làm được.

Chị Thu là con ông bà Sùng, chị của Hạnh, bạn thân của tôi. Chị nổi tiếng tánh tốc kê nhưng việc gì khó đưa cho chị là xong hết. Tánh tình chị lại xuề xòa, dễ chịu.

Tôi chạy ngay qua nhà chị Thu. Trình bày với chị tình cảnh của tôi. Nghe xong chị cười bảo:

– Tưởng gì khó. Tao dắt mày lên bót cảnh sát ở Gia Định, tao quen với ông xếp ở đó, nhờ ổng viết cho một tờ giấy giới thiệu là cái thằng tép riu hồi nãy phải sợ một phép.

Tôi thật thà hỏi lại:

– Thật không chị Thu?

– Thật chứ sao không!

Thế là chị Thu lấy xe Honda chở tôi lên bót cảnh sát Gia Định. Chị vào thẳng văn phòng ông xếp trưởng bót hay trưởng ty gì đó. Gặp nhau hai bên chào hỏi rôm rả có vẻ quen biết từ lâu và thân tình lắm.

Ông xếp hỏi chị Thu sao lâu quá mới ghé chơi. Chị Thu giới thiệu tôi và kể ngay sự tình, nhờ ông biên cho một tờ giấy giời thiệu cầm về để tôi được làm căn cước. Ông bảo cứ ngồi chơi chút đã, ông sẽ giúp cho.

Tôi lí nhí cúi đầu chào vì chẳng biết xưng hô ra sao. Trông ông xếp lớn tuổi như bố chị Thu, nghĩa là lớn hơn bố tôi. Thế mà chị Thu gọi ông ấy là anh xưng em tỉnh queo. Không lẽ tôi gọi ông ấy là bác? Mà gọi anh thì nhất đinh tôi không dám.

Tôi ngồi yên nghe hai người nói chuyện, chuyện ông này bà kia, toàn là những người tôi không biết. Chờ sốt cả ruột tôi quay ra tìm báo đọc. Cả mấy tờ báo máng ở kệ để báo. Tôi đọc hết mấy tờ báo và đọc cả các trang cáo phó, phân ưu mà họ vẫn chưa nói hết chuyện. Tôi hồi hộp quá, chỉ sợ hết giờ làm việc của hội đồng xã thì về không kịp. Thỉnh thoảng ông xếp quay sang hỏi thăm tôi đôi câu. Tôi lại lễ phép trả lời, nhưng chẳng dám “thưa anh” hay “thưa bác”.

Rốt cuộc cũng xong, câu chuyện tán dóc của hai người tạm ngưng. Ông xếp lấy giấy viết thư của ông ra viết cho ông xếp bên hội đồng xã vài dòng gửi gắm tôi, nhờ ông xếp bên kia giúp cho việc làm căn cước của tôi. Viết xong ông đóng mộc, ký tên. Rồi đưa cho tôi tờ thư này. Tôi cầm lấy đọc. Chỉ có vài dòng thôi mà uy quyền quá. Tôi nể ông lắm, lính quýnh cám ơn và theo chị Thu ra về.

Ra đến ngoài, tôi trách chị Thu sao nói chuyện lâu quá, lỡ trễ giờ về bên hội đồng xã còn phải xếp hàng nữa. Nghe thế chị Thu phá lên cười, rồi nói:

– Mày ngu quá nhỏ ơi! Mày có tờ thư của xếp lớn trong tay mà phải xếp hàng sao?

Tôi thật thà hỏi lại:

– Bộ có thư này thì không phải xếp hàng à?

Chị liếc tôi một cái thật dài rồi cao giọng:

– Tao phải ngồi tán dóc với xếp hơn cả tiếng đồng hồ để xếp viết cho mày mấy dòng này đó.

Tôi thấy mình vô ý quá chưa cám ơn chị nên cười với chị, rồi nói: “Em cám ơn Thu nhiều ạ!”

Về đến hội đồng xã Phú Nhuận, gửi xe xong, chị Thu nắm tay tôi đi thẳng đến bàn lăn tay. Chị đưa tờ thư của ông xếp cho anh chàng ban sáng đuổi hai ông cháu tôi về. Chị nói thật mạnh dạn với anh:

– Đây là thư của trưởng ty cảnh sát bên Gia Đinh gửi cho xếp của anh. Anh đọc đi rồi cho tôi biết có thể làm căn cước cho em tôi không?

Anh chàng vừa đọc xong nét mặt đổi sắc ngay. Anh cười thật tử tế với hai chị em tôi rồi nói:

– Dạ thưa cô, thư của ông xếp này gửi ông xếp của tôi, chắc chắn tôi phải làm chứ, làm ngay chứ. Làm sao dám cãi. Thôi ban sáng có gì không phải xin hai cô bỏ qua, đừng nói với xếp của tôi nghe. Cô mà nói thì tôi chết, nghe cô!

Thế là anh ta vội vàng mời tôi lăn tay ngay lập tức, vừa lăn mấy ngón tay của tôi, vừa nịnh vớ vẩn. Tôi chán nghe anh ta nịnh mà cũng phải cười trừ cho mau xong việc. Lăn tay xong, anh giao tôi cho anh phó nhòm để chụp ảnh. Tôi không cần phải xếp hàng gì cả.

Thế là nhờ chị Thu mà hôm đó tôi làm xong căn cước. Cầm căn cước trong tay, tôi nhìn tấm ảnh và tên tuổi của mình mãi mà không chán. Tôi lại cám ơn chị Thu lần nữa.

Xong việc, chị Thu chở tôi về nhà chị. Xe vừa đậu trước nhà thì có hai người thanh niên đang ngồi trong một chiếc chiếc xe hơi màu trắng đậu bên kia đường gọi qua:

– Thu! Thu!

Người ngồi sau tay lái vẫy tay gọi chị Thu lại. Chị dặn tôi đứng chờ chị sẽ trở lại. Tôi chỉ muốn đi về vì đã có căn cước rồi, đứng chờ gì nữa đây? Nhưng chị đã băng qua bên kia đường. Tôi chờ cả mười phút chị vẫn chưa hết chuyện. Tôi thấy chị Thu mê nói chuyện quá, quên cả tôi đang chờ. Tôi đi qua đi lại vài lần trước nhà chị, cầu mong chị Thu biết tôi sốt ruột mà quay lại cho tôi chào chị một tiếng rồi về. Có lẽ cả hai mươi phút chị mới trở lại.

Trông thấy chị, tôi nói ngay:

– Cho em về nghe chị Thu, em đi lâu quá rồi.

Chị Thu nói ngay:

– Không được, mày phải đi với tao. Mấy anh này muốn mời mình ra Sài Gòn uống cà phê.

Nghe thấy phải đi uống cà phê với hai người đàn ông lạ, tôi cuống lên trả lời:

– Thôi chị đi một mình đi. Em không dám đi đâu. Với lại, bố em sắp về rồi. Không thấy em ở nhà thì đánh em chết.

Chị Thu nói ngay:

– Mày xấu nghe, tao đi với mày cả buổi lo cho mày xong cái căn cước. Mà mày không chịu đi với tao một lúc.

Nghe thế, tôi bí lối. Tôi không muốn bị làm người xấu. Chị lo cho tôi hết lòng nên tôi phải đáp lại. Dù bất đắc dĩ nhưng cũng phải chịu thôi. Tôi xìu xuống nói với chị:

– Nhưng bố em đi làm về mà không thấy em ở nhà thì em bị đòn chị Thu ơi! Em sợ bố em lắm.

Chị Thu trấn an tôi:

– Không sao đâu, để tao đưa mày về nhà xin phép bố mày cho. Đi mau đi, còn về sớm.

Thế là chị nắm tay tôi băng qua đường đến bên phía cửa sau. Nhưng cái anh ngồi phía trước cạnh anh lái xe bước xuống xe gọi chị Thu, bảo chị lên phía trước ngồi. Anh mở cửa cho tôi lên ghế sau rồi đi vòng qua cửa bên kia. Tôi không ngờ tình huống thay đổi thế này. Tôi tưởng tôi và chị Thu sẽ ngồi chung ở phía sau, tôi sẽ cảm thấy thoải mái hơn. Ai ngờ bây giờ chị ngồi phía trước, tôi ngồi phía sau với cái anh khá to con này. Tôi đoán có lẽ anh lái xe muốn chị Thu ngồi phía trước với anh ấy.

Tôi cố ngồi sát vào phía cửa xe để cái khoảng cách giữa tôi và anh kia càng xa càng tốt. Chị Thu giới thiệu tên từng người. Thì ra cái anh ngồi cạnh tôi tên Sỹ. Anh ở căn nhà đầu dãy bên kia đường đối diện dãy nhà của chị Thu. Nhà của anh lớn nhất đường này, như loại biệt thự có cổng sắt và tường cao. Còn anh lái xe tên Sơn. Không biết chị Thu quen họ từ bao giờ mà nói chuyện líu lo.

Anh Sỹ hỏi thăm tôi nhiều câu:

– Em mấy tuổi rồi? Học lớp mấy? Nhà ở đâu?

Tôi phải trả lời từng câu:

– Em mười lăm tuổi.

Vừa nghe xong “mười lăm tuổi” là anh Sỹ kêu ngay:

– Vậy sao? Sao trông em giống như 17 hay 18 tuổi, em có khai sụt tuổi không?

Tôi bẽn lẽn lắc đầu:

– Nhà em không ai khai sụt tuổi hết.

Chị Thu nói vào ngay:

– Vừa dắt nó đi làm căn cước đó. Sáng nay ông nó dắt nó đi mà người ta không cho làm vì nói là quá hạn hơn cả tháng rồi. Chắc là thằng cha đó muốn làm tiền.

Chị Thu luôn thể khoe chiến công của chị, nhờ quen với xếp lớn nên chị đã giúp tôi làm được căn cước. Anh Sỹ hỏi ngay:

– Vậy có căn cước chưa?

Tôi trả lời có rồi. Thế là anh Sỹ bảo:

– Đâu đưa cho anh coi coi!

Tôi thật thà lôi cái căn cước mới toanh ra cho anh xem vì tôi hãnh diện là mình đã có căn cước. Anh cầm xem một lúc mới trả lại tôi. Anh lại hỏi:

– Nhà em ở đâu?

Chị Thu nói ngay:

– Ngay đầu hẻm phía nhà em đó.

Anh Sỹ lại hỏi:

– Bộ em mới dọn về đây hả?

Tôi buồn cười quá nhưng ráng nhịn cười, trả lời:

– Em ở đây từ khi chưa đi học mẫu giáo.

Anh Sỹ thẫn thờ nói:

– Vậy sao anh không khi nào thấy em vậy?

Anh Sơn ở phía trên đang lái xe cũng nói đùa một câu:

– Ngày xưa em còn bé tí teo nên anh không thấy chứ gì?

Chị Thu vội nói ngay:

– Thôi! Con người ta còn bé, mới mười lăm à nghe. Đừng chọc ghẹo nó à nghe!

Tôi hoảng hốt trước câu nói của chị Thu nên buột miệng kêu: “Chị Thu!”

Anh Sỹ vội đính chính:

– Anh không có ý gì đâu. Thu đừng nói vậy làm An sợ anh cái sao.

Quay sang tôi, anh Sỹ trấn an:

– Em đừng sợ! Chị Thu nói kỳ quá phải không? Anh không có ý gì đâu.

Tôi chỉ gật đầu mà chẳng biết nói gì. Ngừng một lúc, anh Sỹ lại hỏi:

– Em ở đây lâu rồi, có bao giờ em có trông thấy anh không vậy?

Tôi gật đầu nói có. Anh ngạc nhiên hỏi lại:

– Em thấy anh hồi nào?

Tôi trả lời:

–Thỉnh thoảng đi ngang qua nhà anh, em thấy anh đứng trong sân.

Không những thấy anh mà thôi, tôi còn thấy cả cha mẹ anh và hai em trai của anh nữa. Cha anh hay quấn sà-rông ca-rô đỏ trắng đen, trên mặc áo may-ô trắng. Má anh luôn mặc cái quần satin đen và áo bà ba có hoa nhỏ li ti màu nhạt. Trong sân nhà anh luôn có chiếc xe hơi con cóc màu đen, thỉnh thoảng cha anh lái ra đường.

Nhiều năm sau này nghĩ lại, tôi đoán cha anh là người Việt gốc Miên. Mẹ anh là người Việt, miền Nam. Có lẽ vì thế anh có mái tóc dù cắt ngắn vẫn còn nét dờn dợn, hàng lông mi cong cong và đôi mắt to là nét của người Miên. Nước da trắng giống mẹ.

Anh Sỹ lại buông một câu:

– Vậy sao, sao anh không thấy em vậy cà!

Anh Sơn lại nói: “Đã nói ngày xưa em còn bé tí teo làm sao anh thấy được”. Nói xong anh Sơn và chị Thu cười phá lên. Nhưng tôi và anh Sỹ không cười nổi. Chị Thu hỏi hai anh kia:

– Anh Sỹ với anh Sơn hai mươi bẩy rồi phải không?

Anh Sơn đính chính:

– Anh hai mươi sáu thôi.  Anh Sỹ hai mươi bẩy đó.

Chị Thu nói ngay:

– Vậy là anh Sỹ hơn cái An một con giáp.

Anh Sơn cho xe ghé vào khu Kỳ Đồng đón một cô gái khác cùng đi. Chị Thu ra băng sau ngồi, nhường ghế trên cho cô kia. Chị ép tôi vào giữa ghế khiến tôi gần sát với anh Sỹ hơn. Tôi ngồi mà nín thở, chỉ sợ mỗi khi xe rẽ phải, rẽ trái tôi bị ngã trúng anh.

Sau đó anh Sơn lái xe ra phòng trà Tự Do. Khoảng 5 giờ chiều nên còn vắng khách. Mọi người ngồi vào bàn. Ai nấy gọi cà phê, chỉ có tôi gọi sữa tươi vì chưa biết uống cà phê và cũng không thích nước ngọt.

Anh Sỹ lại ngồi gần tôi. Hai cô kia và anh Sơn thi nhau nói, ồn ào hẳn cả một góc tiệm. Thỉnh thoảng anh Sỹ góp chuyện với họ. Chỉ có tôi là ngồi chịu trận vì chẳng biết họ đang nói về ai. Tôi cầu mong sao họ kết thúc câu chuyện cho nhanh để tôi được ra về.

Thỉnh thoảng tôi lại nhìn xuống đồng hồ tay của mình sốt ruột xem giờ. Anh Sỹ hiểu ý nên bảo tôi cố chờ thêm chút nữa.

Hôm đó về đến nhà may quá bố tôi chưa về nhà, có lẽ bố ghé chỗ nào nữa. Thấy tôi về, mẹ hỏi ngay có làm được căn cước chưa, sao về trễ thế. Tôi khoe ngay cái căn cước mới làm xong rồi phân trần lý do về trễ. Mẹ vui vì tôi đã có căn cước nên không quan tâm việc tôi theo chị Thu và mấy anh kia đi uống cà phê.

Chiều hôm sau khoảng ba giờ, bỗng dưng có tiếng gõ cửa. Tôi bước ra, không ngờ anh Sỹ và anh Sơn đang đứng bên ngoài. Tôi bủn rủn chân tay vì không biết phản ứng thế nào. Anh Sỹ nói ngay:

– Mở cửa cho anh vào đi An.

Tôi làm theo như cái máy. Tôi muốn hỏi tại sao anh đến đây nhưng không mở miệng được. Tôi chỉ biết mở cửa mời hai anh vào nhà.

Ông tôi và mẹ tôi đều có nhà. Tôi lúng túng giới thiệu tên hai anh với ông và mẹ, nói thêm rằng hai anh là bạn chị Thu, mới gặp ngày hôm qua. Hai anh lễ phép chào ông tôi và chào mẹ tôi là “Bác”. Tôi buồn cười khi nghĩ đến tuổi của các anh chỉ nhỏ hơn mẹ tôi 12 hay 13 tuổi, nghĩa là cái số tuổi tôi nhỏ hơn hai anh.

Ông và mẹ tôi lui vào nhà trong để hai anh kia nói chuyện với tôi. Tôi bối rối không biết nói gì. Anh Sỹ mời tôi ra Sai Gòn uống cà phê. Tôi ngại đi với hai anh quá. Nhưng vì anh Sỹ nài nỉ quá, thêm phần tôi sợ bố về trông thấy hai anh tôi chẳng biết giới thiệu thế nào. Nên tôi đánh liều đi với hai anh một giờ cho hai anh khỏi ngồi lâu trong nhà tôi. Tôi vào trong xin phép mẹ. Mẹ bảo hai anh này lớn hơn tôi nhiều quá, phải cẩn thận đấy. Tôi bảo mẹ yên trí vì ngoài đường phố, giữa quán cà phê có khối người chung quanh mà. Nói thế cho mẹ yên tâm chứ lòng tôi đang bất an vì phải đi với hai anh.

Tôi đi thay áo. Tôi mặc cái robe mầu xanh da trời, tay sát nách, cao trên đầu gối một chút. Mang đôi giầy mầu da bò sáng, cao khoảng 6 phân.

Khi tơi trở ra, anh Sỹ xin phép mẹ cho anh đưa tôi ra Sài Gòn uống nước. Tôi theo hai anh bước ra cửa. Ngay lúc đó có mấy người hàng xóm đang ngồi trước cửa nhà trông thấy tôi. Tôi cúi đầu chào họ rồi đi ngay. Tôi có cảm tưởng như bị họ bắt quả tang tôi đi với đàn ông ra đường, nhất là đi với hai cái “ông già” này. Tuổi mới lớn hay sợ đủ thứ.

Ra đến ngoài đường. Hai anh đưa tôi về nhà anh Sỹ để lấy xe gắn máy ra. Anh Sỹ chở tôi, còn anh Sơn đi một xe khác. Tôi ngại ngùng leo lên yên sau. Anh Sỹ thuộc loại to con, anh ngồi gần sát phía yên sau khiến tôi bối rối khó xử. Ngồi lùi ra xa thì xém rớt ra ngoài; ngồi xích vào trong thì bị đụng vào người anh Sỹ. Tôi cố lấy tay trái  bám vào phía sau giữ thăng bằng. Còn tay phải, không thế nào không vịn vào anh mà tôi ngồi an toàn được. Bất đắc dĩ tôi xỏ ngón cái vào cái dây lưng của anh mà nín thở. Tôi tự trách mình “biết thế tôi không đi!”

Hai anh đưa tôi đến cà phê La Pagode. Vừa bước vào trong, tôi có cảm tưởng như những người khách đang ngồi trong quán đều quay đầu ra nhìn tôi. Có lẽ vì tôi đang mặc cảm đi với mấy “ông già” mà tưởng tượng ra như thế chăng?

Người hầu bàn ra đón khách. Tôi chỉ ngay cái bàn sát đường Tự Do, nơi tôi thường ngồi với bố mỗi chiều thứ Bảy. Vì hầu như thứ Bẩy nào bố cũng dắt tôi đi xem xi nê ở rạp Rex, sau khi mua vé vẫn còn dư cả tiếng đồng hồ; nếu tôi không đi mua sắm thì bố sẽ dẫn tôi đến đây. Tôi đã quen với cái bàn này và cái vỉa hè đường Tự Do bên cạnh cửa kính.

Tôi chọn cái ghế ngồi quay mặt ra đường, vì không muốn đối diện với những người khách khác. Anh Sỹ kéo ghế cho tôi ngồi xuống. Anh Sơn xin phép ra ngoài mua thứ gì đó. Chỉ còn tôi và anh Sỹ ở lại.

Sau khi gọi thức uống, người hầu bàn lui ra. Tôi cảm thấy như thời gian ngừng trôi vì cả anh Sỹ và tôi đều yên lặng. Tôi chỉ biết nhìn theo những người bộ hành bên ngoài và cầu mong sao anh Sơn chóng sớm trở lại. Vì ít ra có thêm anh Sơn, có người hoạt náo cho hết yên lặng.

Khi người hầu bàn trở lại đặt ly sữa tươi của tôi lên bàn, anh Sỹ lấy đường bỏ vào ly cho tôi. Tôi không thích cho đường vào sữa nhưng chẳng dám cản anh, sợ làm anh “quê”. Tay anh tự nhiên run lên bần bật, làm đổ cả nửa thìa đường ra ngoài. Anh phải lấy tay trái đỡ phía dưới cho đường rớt vào tay. Tôi không biết anh bị gì lạ thế nhưng chỉ ngồi yên nhìn mà trong lòng cũng đang run. Anh buột miệng phân bua:

– Sao tự nhiên anh run quá. Anh chưa bao giờ run như vầy, em đừng cười anh nghe!

Tôi chỉ biết nhoẻn miệng cười, không kiếm ra lời để nói nhưng trong lòng tôi run theo nhịp tay đang run của anh. Anh Sỹ ngập ngừng giây lát rồi nói:

– An ơi! Anh đưa em ra đây vì anh có chuyện muốn nói với em.

Anh ngừng một lúc để nhìn tôi. Tôi yên lặng chờ đợi. Anh nói tiếp:

– Anh muốn nói với An rằng anh thương em và anh muốn xin hỏi cưới em.

Tôi giật bắn người, ngồi chết cứng nhìn anh, muốn hỏi tại sao mà cũng không dám hỏi. Anh lại nói tiếp:

– Nếu em chịu, anh sẽ nói ba má anh đem trầu cau qua hỏi em. Để đó chừng nào em được mười tám tuổi thì mình làm đám cưới. Được không An?

Tôi nghe lùng bùng hai bên tai. Thì ra là thế, anh dẫn tôi đi uống cà phê là để nói chuyện này. Tuy tôi còn nhỏ nhưng đã thấy anh khôn quá, anh muốn dùng đám hỏi để trói buộc tôi. Tôi sẽ mất tự do, sẽ không bao giờ còn cơ hội gặp người khác để yêu và để lấy.

Tôi lắc đầu nói ngay:

–Không được, em không muốn làm đám hỏi với anh.

Anh Sỹ khổ sở hỏi lại:

–Tại sao vậy? Bộ em chê anh già hả?

Tôi suýt bật cười vì câu nói “tự nhận già” của anh. Chính tôi cũng thấy anh “già”, nhưng không muốn làm anh buồn nên trả lời:

– Không phải em chê anh già. Nhưng vì em không yêu anh làm sao lấy được?

Anh Sỹ năn nỉ:

– Thôi mà, anh năn nỉ mà! Em chịu lấy anh đi. Vì anh đóng xa nhà, mai mốt anh đi về đơn vị, anh sợ mất em quá!

Tôi nhìn anh Sỹ ái ngại. Câu nói hết sức chân thành của anh làm tôi mủi lòng cảm động. Tôi không muốn anh buồn. Nhưng tôi không ép lòng mình được.

Tôi lại lắc đầu, nói với anh:

– Em không lấy anh được vì em không yêu anh mà.

Anh Sỹ lại năn nỉ nhiều lần. Tôi chỉ còn ngồi yên nghe anh nói, chẳng biết nói thêm gì. Thỉnh thoảng tôi ngẩng lên nhìn anh, trông thấy hàng lông mi cong cong của anh. Gương mặt anh có hàng râu quai nón dù đã cạo sạch. Kể ra trông anh cũng cao rao, đẹp trai. Theo cái nhìn của tôi, anh hơi mập. Nhưng so với thời những năm 2000 này thì chỉ là to con thôi.

Anh đi lính bao giờ tôi không biết. Nhưng chẳng khi nào thấy anh mặc đồ quân nhân. Lúc nào cũng thấy anh mặc cái quần jean và cái áo sơ-mi tay dài hàng coton mầu xanh nhạt.

Tôi lại cầu mong sao cho anh Sơn trở lại để không khí bớt căng thẳng. Tôi không hiểu sao anh Sơn theo anh Sỹ đi uổng cà phê mà lại bỏ đi đâu lâu thế. Tôi hối hận vì đã theo anh Sỹ đi uống cà phê. Tôi nghĩ thầm phải chi tôi đừng đi thì đâu có chuyện này.

Gần hai giờ sau anh Sơn mới trở lại. Tôi bảo anh Sỹ đi về vì đã trễ rồi, tôi không ngồi lâu thêm được nữa.

Ra ngoài đường, anh Sỹ chưa muốn về. Anh bảo muốn đưa tôi đi sắm tết. Anh hỏi tôi có cần mua thêm quần áo mới thì anh đưa đi, sẵn gần thương xá Tax bên kia đường và phố xá đang đông người đi sắm tết. Tôi thấy anh Sỹ câu giờ quá. Tôi đang “ngộp thở” chỉ muốn về ngay, chẳng muốn đi thêm phút nào với anh. Tôi trả lời tôi có đủ rồi, không cần mua thêm gì cả.

Đang đi ngang hàng với tôi, anh lui lại phía sau để tôi đi một mình phía trước.  Tôi biết anh cố ý nhìn dáng tôi đi nên ngượng quá.  Nhưng tôi vẫn giữ nhịp đi bình thường, không muốn cố ý đi chậm lại vì “Sợ chàng chê hấp tấp“. Khi đến ngã tư đứng lại chờ đèn đỏ, anh đến đứng cạnh tôi, hỏi:

– Đôi giầy em mua ở đâu vậy?

Tôi suýt bật cười. Hóa ra anh ngắm tôi từ đầu đến chân và đôi giầy. Tôi trả lời:

– Mẹ em và mẹ chị Thu đi Hồng Kông chơi mua về cho em.

Anh Sỹ nói ngay:

– Hèn gì trông thấy khác.

Khi đèn xanh bật lên, anh nắm tay tôi băng qua đường. Tôi rụt tay lại vì thấy kỳ cục quá. Năn nỉ đi thêm một lúc nữa không được, anh phải đưa tôi về.

Hôm sau vào lớp. Cái Bình đã bá cáo:

– Hôm qua thấy ông Sỹ đến nhà mày, ai cũng nói mày là “Chuột sa hũ nếp”.

Tôi bực quá gắt lên:

– Tao không phải là chuột.  Đứa nào muốn làm chuột thì làm đi, tao không làm đâu.

Cái Hạnh, bạn thân nhất của tôi cũng đáo để nói thêm vào:

– Nó mà lấy ông Sỹ thì phải đặt làm cái giường to đặc biệt vì ông Sỹ mập quá!

Tôi không ngờ Hạnh lại nói nặng đến thế. Nó biết tôi không muốn lấy ông Sỹ mà sao lại chọc tôi như vậy? Anh Sỹ có to con thật nhưng đâu mập như nó tả.

Bạn bè tuổi choai choai hay chọc ghẹo nhau, nhưng có lẽ chúng có ác ý chứ không phải chỉ chọc ghẹo để cười cho đã.

Qua hôm sau là ba mươi Tết. Khoảng mười giờ tối đứa em trai út của tôi từ ngoài ngõ trở về nhà. Nó cười khoe với tôi rằng anh Sỹ đón nó ở đầu ngõ cho nó tiền lì xì. Anh nhắn nó về nói với tôi rằng anh chờ tôi ngoài đầu ngõ, anh có chuyện muốn nói với tôi vì sáng sớm mai anh phải về đơn vị rồi.

Tôi không dám gặp lại anh Sỹ nên nói với nó ra bảo anh Sỹ rằng chị An không ra đâu, anh đừng chờ. Nó nghe theo chạy ra đầu ngõ cho anh hay như thế.

Nhưng một lúc sau nó lại chạy về năn nỉ giùm anh Sỹ:

– Chị An ra gặp anh Sỹ chút thôi mà, anh Sỹ có chuyện muốn nói với chị mà.  Sáng sớm mai anh đi rồi. Tội nghiệp anh Sỹ mà!

Tôi cảm thấy bất an bất ổn vì để anh Sỹ chờ. Nhưng rất sợ gặp lại anh để nghe anh lập lại những lời cầu hôn mà tôi biết chắc tôi lại từ chối. Tôi không nỡ nói với anh như vậy nữa. Thôi để anh chờ rồi anh sẽ đi.

Gần giao thừa, tiếng pháo nổ lưa thưa từ xa vọng lại. Có lẽ giờ này anh đã về nhà. Sáng sớm mai anh sẽ về đơn vị, anh sẽ quên tôi như một nụ hoa hàm tiếu tình cờ gặp dọc đường.

Tiếng pháo nổ vang rân khắp nơi báo hiệu bước sang năm mới 1970. Nhưng lòng tôi không vui vì biết anh đang buồn. Tôi bước vào tuổi mười lăm với chút lòng trắc ẩn, áy náy lo âu cho một người yêu mình.

Từ đó tôi và anh không còn gặp lại nhau.

Đã bao nhiêu mùa xuân đi qua, mỗi khi nghe lại bản “Đón Xuân Này Nhớ Xuân Xưa” của Châu Kỳ, tôi vẫn bồi hồi nhớ đến anh. Anh đã hẹn tôi đêm giao thừa.  Nhưng tôi không đến nơi hẹn. Vì tôi biết tôi không là “cái xương sườn” của anh.

Nhưng với tuổi đời lên cao, dần dà tôi mới nhận ra lời tỏ tình của anh “Mai mốt anh về đơn vị, anh sợ mất em quá” đầy chất quân tử.  Vì khi anh dám nhìn nhận sự yếu đuối, bất lực không cầm giữ được người mình yêu mà không sợ bị chê, bị cười thì anh rõ là quân tử.

Anh mang bản chất thành thật và thẳng thắn là hai yếu tố cần thiết để xây dựng một mối liên hệ lâu dài.

Tôi tin chắc một người cao ráo đẹp trai, mang lon Thiếu Úy, con nhà giầu như anh thì có nhiều cô sẵn sàng nâng khăn sửa túi cho anh lắm. Thế nào anh cũng gặp được người anh ưng ý.

Nếu có bao giờ nhớ đến An, xin anh hiểu cho An luôn trân quý tình yêu của anh. Anh luôn là một vì sao lấp lánh trên khung trời kỷ niệm của An, của những ngày chớm lớn. Lúc đó còn bé quá, chưa hiểu gì, An chưa thông cảm được sự lo lắng và hấp tấp của anh. Sợ hãi và bối rối trước những lời tỏ tình và cầu hôn quá bất ngờ của anh, An chỉ biết đi trốn cho an toàn, cho khỏi sợ. Ai bảo anh thương “con nít” làm gì!

T.T. Thái An (02/12/2016)

Share this post