Đại Dịch Covid-19 Và Bầu Cử 2020 Tại Hoa Kỳ (Bản Tin Tổng Hợp – 12 Tháng 11/2020)

Đại Dịch Covid-19 Và Bầu Cử 2020 Tại Hoa Kỳ (Bản Tin Tổng Hợp – 12 Tháng 11/2020)

* Phố Nhỏ Online tổng hợp từ các nguồn: AP, Reuters, NPR, CNBC, Fox News, USA Today

ĐỢT BÙNG PHÁT THỨ NHÌ CỦA ĐẠI DỊCH COVID-19

Cùng ngày Thứ Hai 09/11, nước Mỹ và cả thế giới ghi nhận những con số báo động về đại dịch Covid-19, nhưng đồng thời cũng chào đón tin vui là một cuộc thử nghiệm vaccine đã có kết quả tốt và việc chủng ngừa có thể sẽ bắt đầu trước cuối năm 2020.

Thống kê của Đại học Johns Hopkins cho thấy tổng số trường hợp lây nhiễm coronavirus trên toàn thế giới vượt quá 50 triệu vào đầu tuần (con số cụ thể là 50,768,019 người) nhưng đến Thứ Năm 12/11 tăng lên thành 52,256,150 người, tức chỉ trong 4 ngày đã có thêm gần 2 triệu người mới bị lây nhiễm. Nước Mỹ chiếm một phần năm trong tổng số của cả thế giới, với hơn 10 triệu trường hợp lây nhiễm (con số cụ thể là 10,402,273 người).

Về tử vong do Covid-19, kể từ khi đại dịch lan tràn ở 190 quốc gia, tổng số người chết đã vượt quá 1 triệu (con số cụ thể là 1,286,322 người). Riêng ở Hoa Kỳ, tổng số bệnh nhân tử vong ở 50 tiểu bang tính đến Thứ Năm là 241,808 người.

Tốc độ gia tăng của dịch bệnh ở nước Mỹ là một yếu tố đáng báo động, vì chỉ trong vòng 10 ngày gần đây đã tăng từ 9 triệu lên 10 triệu trường hợp lây nhiễm, có nghĩa là trung bình mỗi ngày có thêm khoảng 100,000 người dân Mỹ bị lây nhiễm. Những ngày đánh dấu số trường hợp mới bị lây nhiễm cao nhất là 04 tháng 11 (107,872 người), 05 tháng 11 (121,504 người), 06 tháng 11 (132,797 người), 07 tháng 11 (126,156 người) và 8 tháng 11 (103,657 người).

Mối quan tâm của các chuyên gia y tế là với đà này, rất có thể đến cuối tháng 11 và cuối tháng 12, con số mới lây nhiễm coronavirus sẽ lên tới 200,000 người trong một ngày, bởi vì đó là thời gian nhiều người đi du lịch và nhiều gia đình tổ chức các buổi họp mặt theo truyền thống Lễ Tạ Ơn (Thanksgiving) và Lễ Giáng Sinh (Christmas), đồng thời lại cũng là thời gian hoành hành của bệnh cúm hàng năm. Giữa bối cảnh như vậy, các chuyên gia y tế chỉ có thể nhắc nhở dân chúng cố gắng tuân thủ những biện pháp phòng chống dịch bệnh trong mùa lễ.

Khi được hỏi ý kiến về đợt bùng phát mới của đại dịch, bác sĩ Anthony Fauci, chuyên gia y tế hàng đầu về bệnh truyền nhiễm nói rằng một số tiểu bang như Utah, Nevada, South Dakota, North Dakota… nên chuẩn bị để đừng xảy ra tình trạng thiếu trang thiết bị y tế nếu số người bị lây nhiễm tràn ngập các bệnh viện.

Thống Đốc tiểu bang Utah hôm Chủ Nhật 08/11 đã ký sắc lệnh có hiệu lực trong hai tuần lễ, theo đó mọi cuộc tụ họp ngoài gia đình đều bị cấm và tất cả cư dân đều bắt buộc phải mang khẩu trang khi ra đường. Tiểu bang Utah cho tới nay đã có 132,621 trường hợp lây nhiễm, 659 bệnh nhân tử vong và 6,084 người đang điều trị tại bệnh viện. Ông Gary Herbert, vị Thống Đốc thuộc đảng Cộng Hòa, nói rằng: “Tình trạng đại dịch, với tỷ lệ lây nhiễm tăng 20.6% trong một tuần lễ, khiến chúng ta không thể tiếp tục tranh luận về chuyện mang khẩu trang được nữa. Khẩu trang không gây trở ngại cho sinh hoạt kinh tế, và mang khẩu trang là cách dễ dàng nhất để chống virus. Chúng ta tôn trọng tự do cá nhân, nhưng luật pháp được đặt ra để bảo vệ tự do cá nhân cho tất cả mọi người. Đó là lý do chúng ta có luật về đèn giao thông, hạn định tốc độ, seatbelts, cũng như bây giờ chúng ta bắt buộc phải mang khẩu trang”. Thống Đốc Herbert nhấn mạnh rằng tuy Utah chưa đến mức phải “đóng cửa”, mọi sinh hoạt xã hội vẫn bình thường, nhưng tiểu bang “không chấp nhận các cuộc tụ họp ơ nơi công cộng nếu không tuân thủ biện pháp mang khẩu trang, giữ khoảng cách an toàn, và những người vi phạm sẽ bị phạt $10,000 dollars”.

Ngoài Utah, chính quyền tại một số tiểu bang khác cũng đã ban hành lệnh giới nghiêm vào buổi tối ở các quận hạt có nhiều trường hợp lây nhiễm mới, như Miami Dade (Florida), El Paso (Texas), Pueblo (Colorado), trong khi nhiều vị Thống Đốc như Andrew Cuomo (New York), Charlie Baker (Massachusetts), Ned Lamont (Connecticut), Mike DeWine (Ohio), Ralph Northam (Virginia), Larry Hogan (Maryland) đồng loạt lên tiếng nhắc nhở dân chúng tuân thủ những biện pháp hạn chế để ngăn chống coronavirus lan tràn.

TIN VUI VỀ THUỐC CHỦNG NGỪA

Song song với những tin tức báo động về đợt bùng phát mới của đại dịch, một tin vui được ghi nhận hôm Thứ Hai tuần này đã mang lại niềm hy vọng cho cả thế giới, khi hai hãng dược phẩm Pfizer và BioNTech loan báo kết quả thử nghiệm ngày 8 tháng 11 cho thấy thuốc chủng ngừa Covid-19 của họ có công hiệu ngăn chống coronavirus tới 90%.

Cuộc thử nghiệm Giai Đoạn 3 được xúc tiến kể từ ngày 27 tháng 7 với 43,538 tình nguyện viên tại sáu quốc gia là Mỹ, Đức, Nam Phi, Thổ Nhĩ Kỳ, Brazil, Argentina. Sau khi các tình nguyện viên được chích hai liều thuốc cách nhau ba tuần lễ, 90% cho thấy trong vòng bảy ngày sau liều thuốc thứ nhì, cơ thể của họ đã tạo được kháng thể chống coronavirus, và không có bất cứ vấn đề an toàn nào xảy ra.

Kết quả đáng phấn khởi nêu trên đã giúp cho giá cổ phiếu của Pfizer tăng 11.5% và giá cổ phiếu của BioNtech tăng 23.4%, và ảnh hưởng chung đến hoạt động giao dịch trên thị trường chứng khoán Wall Street khiến chỉ số Dow Jones nhảy vọt tới 800 điểm, mức cao nhất trong vòng 5 tháng qua. Hai hãng dược phẩm Pfizer (Hoa Kỳ) và BioNTech (Đức) dự định khi hoàn tất thử nghiệm họ sẽ nộp đơn xin Cơ Quan FDA chuẩn thuận khẩn cấp để thuốc chủng ngừa được bắt đầu sử dụng vào cuối năm nay.

Pfizer cho biết họ có thể cung ứng 50 triệu liều thuốc chủng ngừa cho toàn thế giới vào cuối năm 2020 và khoảng 1.3 tỷ liều vào cuối năm 2021.

Chính phủ Anh đã đặt mua của Pfizer 10 triệu liều thuốc trước cuối năm nay và sẽ mua thêm 30 triệu liều nữa để cung ứng cho 20 triệu dân. Ủy ban liên bộ đặc trách về chủng ngừa của Anh Quốc cho biết thuốc sẽ được dành ưu tiên cho các nhân viên y tế và người cư ngụ trong viện dưỡng lão, sau đó đến thành phần cao niên trên 80 tuổi, các nhân viên y tế, xã hội, rồi lần lượt các thành phần dân chúng khác. Trong khi đó chính phủ Mỹ đã ký hợp đồng trị giá $1.95 tỷ dollars để mua 100 triệu liều thuốc, và Liên Hiệp Âu Châu cũng đã đặt mua 200 triệu liều thuốc.

Tại Hoa Kỳ, mặc dù kết quả thử nghiệm của Pfizer/BioNTech được loan báo sau ngày bầu cử toàn quốc nên không giúp ích gì cho chiến dịch tranh cử của Tổng Thống Donald Trump, nhưng Phó Tổng Thống Mike Pence hôm Thứ Hai nói rằng chương trình “Operation Warp Speed” của Tòa Bạch Ốc đã hỗ trợ việc nghiên cứu loại thuốc chủng ngừa này. Tuy nhiên ngay sau đó Phó chủ tịch công ty Pfizer là Kathrin Jansen đã lên tiếng đính chính, khẳng định Pfizer “chưa bao giờ là thành viên của Warp Speed” và “chưa bao giờ nhận tiền tài trợ của chính phủ Mỹ hay bất cứ ai khác”.

Theo lời bác sĩ Albert Bourla, Chủ tịch điều hành công ty Pfizer, “Hôm nay là một ngày vui đối với khoa học và nhân loại, vì kết quả thử nghiệm Giai Đoạn 3 đã cung cấp bằng chứng đầu tiên là loại thuốc chủng ngừa này có khả năng ngăn chống đại dịch Covid-19. Trong quá trình nghiên cứu và phát triển thuốc chủng ngừa, chúng ta đã cùng nhau đạt được một bước tiến quan trọng, vào thời điểm mà cả thế giới đang cần nó hơn bao giờ hết để đối phó với tình trạng lây nhiễm lan tràn với những con số kỷ lục, các bệnh viện sắp hết chỗ chứa bệnh nhân, và các nền kinh tế đang vật lộn để hoạt động trở lại”. Lời phát biểu này được hầu hết các chuyên gia y tế trên thế giới đón nhận một cách phấn khởi, nhất là vì thuốc chủng ngừa của Pfizer/BioNTech đã chứng tỏ công hiệu chống coronavirus tới mức 90%, và không có bất cứ vấn đề an toàn nào xảy ra trong giai đoạn thử nghiệm, mặc dù chưa biết khả năng miễn dịch sẽ kéo dài được bao lâu.

Thủ Tướng Anh Boris Johnson ngay sau khi chia xẻ tin vui với dân chúng đã đưa ra lời nhắc nhở: “Chúng ta không thể để cho sự phấn khởi làm mất đi cảnh giác, vì chúng ta chưa biết được đến bao giờ cuộc sống mới thật sư trở lại bình thường”.

Cũng trong tinh thần này, Tổng Thống vừa đắc cử của Mỹ là Joe Biden phát biểu: “Tôi chúc mừng các nhà nghiên cứu đã thành công trong cuộc thử nghiệm thuốc chủng ngừa để mang lại niềm hy vọng cho tất cả chúng ta. Đồng thời chúng ta cũng cần phải hiểu một điều quan trọng là cuộc chiến đấu với đại dịch Covid-19 còn kéo dài nhiều tháng nữa. Khẩu trang vẫn là khí giới hữu hiệu hơn là thuốc chủng ngừa. Tin vui ngày hôm nay không làm thay đổi thực tế khẩn cấp trước mắt chúng ta”.

Hai vấn đề còn lại mà các quốc gia phải giải quyết là, thứ nhất, thuốc chủng ngừa của Pfizer/BioNTech phải được lưu trữ ở nhiệt độ rất lạnh, từ âm 70 độ C (tức âm 94 độ F) đến âm 80 độ C (tức âm 112 độ F), và thứ hai, giới chuyên gia y tế phải cân nhắc và theo dõi mức độ hiệu quả của thuốc chủng ngừa đối với các thành phần dân chúng ở những nhóm tuổi khác nhau.

Hôm Thứ Tư 11/11 hãng dược phẩm Moderna loan báo đã hoàn tất cuộc thử nghiệm Giai Đoạn 3 và cho biết thuốc chủng ngừa do họ bào chế – đang chờ Cơ Quan FDA kiểm tra để cấp giấy phép – có thể được lưu trữ ở nhiệt độ cao hơn so với thuốc chủng ngừa của Pfizer. Điều này sẽ tạo dễ dàng hơn cho quy trình chuyển vận từ nơi sản xuất đến những địa điểm phân phối tại các quốc gia.

BẦU CỬ TỔNG THỐNG VÀ QUỐC HỘI VẪN CHƯA NGÃ NGŨ

Một tuần lễ sau ngày 3 tháng 11, cuộc bầu cử Tổng Thống và Quốc Hội của Hoa Kỳ vẫn chưa thực sự ngã ngũ, mặc dù các hãng thông tấn và cơ quan truyền thông từ hôm Thứ Bảy đã ước đoán ứng cử viên Joe Biden được trên 270 phiếu cử tri đoàn để trở thành Tổng Thống tân cử, và sau đó hàng chục nguyên thủ quốc gia trên thế giới đã lên tiếng chúc mừng.

Sở dĩ tình hình trở nên rắc rối vì Tổng Thống Donald Trump không thừa nhận thất bại, tuyên bố rằng trước đó ông đã thắng phiếu cử tri đoàn nhưng kết quả bị lật ngược do những vụ gian lận mà ông cáo buộc cho đảng Dân Chủ trong lúc đếm số phiếu bầu khiếm diện của cử tri

Theo các bản tin thông tấn hôm Thứ Tư 11/11, ủy ban tranh cử của Tổng Thống Trump đã nộp đơn kiện tại 6 tiểu bang chiến trường và đang thu thập bằng chứng để xin tòa cứu xét, dựa trên luận cứ cho rằng việc kiểm phiếu có dấu hiệu gian lận hoặc thiếu công bằng. Hiện mới chỉ có tiểu bang Georgia tuyên bố sẽ kiểm tra và đếm lại toàn bộ phiếu bầu. Chưa rõ những vụ tranh tụng ở Pennsylvania, Michigan, Nevada, Wisconsin và Arizona sẽ được giải quyết ra sao, vì thủ tục kiểm phiếu khiếm diện chưa hoàn tất 100%.

Cho tới giờ này ông Biden đang dẫn trước ông Trump khoảng 14,000 phiếu bầu ở tiểu bang Georgia, 45,000 phiếu ở Pennsylvania, 148,000 phiếu ở Michigan, 36,000 phiếu ở Nevada, 20,000 phiếu ở Wisconsin và 13,000 phiếu ở Arizona.

Tin tức hôm 11/11 ghi nhận Tổng Thống Trump vừa được ước đoán thắng ở tiểu bang Alaska, mặc dù 4 phiếu cử tri đoàn của Alaska không giúp thay đổi cục diện. Nếu các vụ tranh tụng không đưa tới phán quyết xét lại kết quả kiểm phiếu tại các tiểu bang chiến trường thì theo ước đoán của hãng thông tấn Associated Press, số phiếu cử tri đoàn mà ông Biden đã có được là 290 phiếu, trong khi ông Trump có được 217 phiếu.

Khác với Associated Press, hãng thông tấn Reuters loan báo ông Biden có được 279 phiếu cử tri đoàn, vì Reuters dựa trên ước đoán của Edison Research nên chưa cộng thêm 11 phiếu của Arizona. Tuy nhiên con số 259 chắc chắn sẽ được điều chỉnh thành 290, vì hôm Thứ Tư 11/11 Chánh Biện Lý (Attorney General) của tiểu bang Arizona là ông Mark Brnovich, một đảng viên Cộng Hòa, phát biểu với ký giả Neil Cavuto trong chương trình Fox Business rằng hiện chỉ còn gần 50,000 phiếu khiếm diện đang được đếm và Tổng Thống Trump không có hy vọng thay đổi tình thế. Ông Brnovich khẳng định “thực tế cho thấy ứng cử viên Joe Biden đã thắng phiếu ở Arizona, và không có bất cứ bằng chứng gian lận nào để làm thay đổi kết quả này”.

Các bản tin thông tấn cho biết Tổng Thống Trump đang được sự ủng hộ của hai viên chức cao cấp trong chính phủ để tiếp tục kiện và không thừa nhận thất bại. Bộ Trưởng Tư Pháp William Barr ký công điện ủy quyền cho các công tố viên liên bang mở cuộc điều tra về những cáo buộc gian lận bầu cử ở một số tiểu bang chiến trường. Ngoại Trưởng Mike Pompeo phát biểu trong cuộc họp báo rằng ông dự đoán “một cuộc chuyển quyền suông sẻ qua nhiệm kỳ thứ nhì của Tổng Thống Trump”.

Về phía Quốc Hội, người ta cũng nhận thấy đa số các nhà lập pháp thuộc đảng Cộng Hòa nếu không lên tiếng ủng hộ cuộc chiến pháp lý của Tổng Thống Trump thì cũng tỏ thái độ dè dặt, không công khai thừa nhận chiến thắng của liên danh Biden–Harris. Cho tới nay ở Thượng Viện mới chỉ có 4 vị Nghị Sĩ đảng Cộng Hòa gửi lời chúc mừng và gọi ông Joe Biden là Tổng Thống tân cử. Đó là các Thượng Nghị Sĩ Mitt Romney (Utah), Lisa Murkowski (Alaska), Ben Sasse (Nebraska) và Susan Collins (Maine). Tại Hạ Viện cũng chỉ có vài nhà lập pháp đảng Cộng Hòa bày tỏ thái độ rõ rệt như vậy, gồm các Dân Biểu Don Bacon (Nebraska), Francis Rooney (Florida), Will Hurd (Texas), Paul Mitchell (Michigan) và Don Young (Alaska).

Cũng như cuộc bầu cử Tổng Thống đang tiếp tục gây hồi hộp, cuộc đua giành thế đa số tại lưỡng viện Quốc Hội diễn ra sôi nổi không kém và cho tới nay vẫn chưa ngã ngũ, tuy rằng tình hình cho thấy hiện tượng “làn sóng xanh” đã không xảy ra trong năm nay như mong đợi của đảng Dân Chủ. Tính đến Thứ Tư tuần này, 420 trong số 435 ghế Dân Biểu tại Hạ Viện đã có kết quả kiểm phiếu, và đảng Dân Chủ mặc dù giữ được thế đa số (218) nhưng đã bị mất đi một số ghế so với cuộc bầu cử giữa kỳ năm 2018. Tại Thượng Viện, đảng Cộng Hòa hiện giữ được 50 ghế trong khi đảng Dân Chủ có được 46 ghế, cộng với 2 ghế của các Nghị Sĩ độc lập nhưng bỏ phiếu theo đảng Dân Chủ thành 48 ghế.

Như vậy mọi người sẽ phải tiếp tục theo dõi cuộc bầu cử đặc biệt cho hai ghế Thượng Nghị Sĩ ở tiểu bang Georgia vào ngày 5 tháng 1, vì cả bốn chính trị gia Kelly Loeffler, David Purdue (Cộng Hòa) và Raphael Warnock, Jon Ossoff (Dân Chủ) đều không hội đủ đa số phiếu trên 50% để đánh bại đối thủ hôm 03/11. Nếu thắng ở Georgia, đảng Dân Chủ sẽ có số ghế Thượng Nghị Sĩ ngang bằng đảng Cộng Hòa, và khi kết quả bầu cử Tổng Thống ngã ngũ thì đảng Dân Chủ sẽ chiếm lợi thế – vì nếu tỷ số biểu quyết là 50/50 thì Phó Tổng Thống Kamala Harris được quyền bỏ lá phiếu quyết định với tư cách Chủ Tịch Thượng Viện.

Nhìn lại những yếu tố gây ảnh hưởng nhiều nhất đến cuộc bầu cử 2020, các nhà phân tích thời cuộc đều đồng ý rằng Covid-19 đứng hàng đầu, vì mọi khía cạnh đời sống của người dân Mỹ đều bị tác động bởi đại dịch, và đó cũng là lý do để giải thích tại sao tổng số cử tri cũng như số cử tri bỏ phiếu sớm và bỏ phiếu khiếm diện năm nay đã đạt tới mức kỷ lục. Theo ước tính sơ khởi do giáo sư Michael McDonald của Đại học Florida và là người điều hành cơ quan thống kê US Elections Project công bố, có ít nhất 150 triệu cử tri toàn quốc tham gia cuộc bầu cử, trong đó khoảng 100 triệu người đã bỏ phiếu sớm hoặc bỏ phiếu khiếm diện trước ngày 3 tháng 11.

Trong bầu không khí tiếp tục căng thẳng vì kết quả bầu cử chưa thực sự ngã ngũ, hãng thông tấn Reuters đã phối hợp cùng với công ty Ipsos thực hiện một cuộc thăm dò dư luận từ chiều Thứ Bảy 07/11 đến Thứ Ba 10/11, qua hình thức trực tuyến, thu thập câu trả lời của 1,363 người trưởng thành trên toàn nước Mỹ, với sai số là 5%.

Kết quả cuộc thăm dò của Reuters/Ipsos cho thấy gần 80% người dân Hoa Kỳ, trong đó hơn một nửa là cử tri ủng hộ đảng Cộng Hòa, công nhận ông Joe Biden là người thắng cử và trở thành Tổng Thống tân cử, sau khi giới truyền thông hôm 07/11 ước đoán ông Biden đã hội đủ 270 phiếu cử tri đoàn dựa trên dữ liệu kiểm phiếu tại hai tiểu bang chiến trường Pennsylvania và Nevada.

Đi sâu hơn vào chi tiết, 79% người trưởng thành ở Mỹ tin rằng ông Biden đã đắc cử. Chỉ có 13% nói là kết quả cuộc bầu cử vẫn chưa được quyết định, 3% nói là Tổng Thống Trump thắng, và 5% trả lời rằng họ không biết.

Về số phiếu phổ thông của cử tri toàn quốc, thống kê sơ khởi cho thấy ông Biden được 76.3 triệu phiếu, tương đương 50.7%. Tổng Thống Trump được 71.6 triệu phiếu, tương đương 47.6%.

Kết quả thăm dò phản ánh phần nào sự chia rẽ trong dư luận Hoa Kỳ theo khuynh hướng đảng phái: Hầu hết cử tri ủng hộ đảng Dân Chủ đều nói là ông Biden thắng, nhưng chỉ có khoảng 6 trong số 10 cử tri ủng hộ đảng Cộng Hòa nói là ông Biden thắng.

Bản tin Reuters cho biết thêm, cuộc thăm dò trên đây là một phần của một cuộc khảo sát dư luận rộng lớn hơn, đã được Reuters/Ipsos thực hiện từ Thứ Sáu 30/10 đến Thứ Ba 03/11 và bao gồm các câu trả lời của cử tri trước ngày bầu cử. Theo kết quả khảo sát, 70% người Mỹ (bao gồm 83% đảng viên đảng Dân Chủ và 59% đảng viên đảng Cộng Hòa) tin tưởng “các viên chức bầu cử tại địa phương làm việc một cách trung thực”. Mặt khác, cuộc khảo sát cũng cho thấy 72% nghĩ rằng người thất cử nên thừa nhận thất bại, và 60% nghĩ rằng sẽ có một sự chuyển giao quyền lực ôn hòa khi nhiệm kỳ của Tổng Thống Trump kết thúc vào ngày 20 tháng 1 năm 2021.

CÁC NHÀ LÃNH ĐẠO TRÊN THẾ GIỚI CÓ PHẢN ỨNG KHÁC NHAU

Giới quan sát thời cuộc ghi nhận một điểm khá đặc biệt: Các nhà lãnh đạo trên thế giới đã có phản ứng khác nhau về cuộc bầu cử Tổng Thống Hoa Kỳ năm nay.

Từ buổi chiều Thứ Bảy 07/11, nhiều vị nguyên thủ quốc gia đã lên tiếng chúc mừng ngay sau khi các hãng thông tấn loan tin ứng cử viên Joe Biden thắng phiếu đối thủ Donald Trump ở hai tiểu bang chiến trường Pennsylvania, Nevada và hội đủ số phiếu cử tri đoàn để đắc cử Tổng Thống Hoa Kỳ.

Đợt điện văn và tin nhắn đầu tiên đến từ Thủ Tướng Justin Trudeau (Canada), Thủ Tướng Michael Martin (Ireland), Thủ Tướng Scott Morrison (Úc) và Tổng Thống Moon Jae-in (Nam Hàn). Sau đó một loạt các nhà lãnh đạo trên thế giới gửi lời chúc mừng vào những ngày kế tiếp, bao gồm Tổng Thống Emmanuel Macron (Pháp), Thủ Tướng Angele Merkel (Đức), Thủ Tướng Boris Johnson (Anh), Thủ Tướng Yoshihide Suga (Nhật), Thủ Tướng Narandra Modi (Ấn Độ), Thủ Tướng Imran Khan (Pakistan), Tổng Thống Reuven Riplin và Thủ Tướng Benjamin Netanyahu (Israel), Tổng Thống Barham Salih và Thủ Tướng Mustafa Al-Kadhimi (Iraq), Thủ Tướng Abdullah Hamdouk (Sudan), Tổng Thống Abdel Fattah el-Sissi (Egypt), Tổng Thống Michel Aoun (Lebanon), Quốc Vương Tamir al-Thani (Qatar), Thái Tử Mohammed bin Salman (Saudi Arabia), Thủ Tướng Mark Rutte (Hòa Lan), Thủ Tướng Erna Solberj (Na Uy), Thủ Tướng Kyriakos Mitsotakis (Hy Lạp), Thủ Tướng Pedro Sanchez (Tây Ban Nha), Tổng Thống Andrzej Duda (Ba Lan), Tổng Thống Borut Pahor (Slovania), Tổng Thống Volodymyr Zelenskiy (Ukraine), Thủ Tướng Viktor Orban (Hungary), Tổng Thống Alberto Fernandez (Argentina), Tổng Thống Sebastian Pinera (Chile), Tổng Thống Martin Viscara (Peru), Tổng Thống Mario Abdo (Paraguay), ngoài ra còn có Chủ Tịch Ursula Von Der Leyen của Ủy Ban Liên Hiệp Âu Châu, Chủ Tịch Jens Stoltenberg của Khối NATO, Thị Trưởng Anne Hidalgo của thủ đô Paris (Pháp) và Thị Trưởng Sadiq Khan của thủ đô London (Anh).

Tuy nhiên, bên cạnh phản ứng thuận lợi của những nguyên thủ quốc gia từ Á Châu, Trung Đông đến Tây Âu, Đông Âu và Châu Mỹ La Tinh, các hãng thông tấn và cơ quan truyền thông cũng ghi nhận phản ứng dè dặt của một số nhân vật lãnh đạo trước chiến thắng của liên danh Joe Biden – Kamala Harris.

Ngoài khía cạnh tế nhị trong quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ, còn một yếu tố quan trọng khác để giải thích thái độ dè dặt của các nhà lãnh đạo này, đó là việc Tổng Thống đương nhiệm Donald Trump chưa thừa nhận thất bại và vẫn đang khởi động các vụ tranh tụng để làm sáng tỏ những hiện tượng mà ông cáo buộc là gian lận trong cuộc bầu cử ngày 3 tháng 11. Có thể vì lý do này nên Tổng Thống Phi Luật Tân Rodrigo Duterte không trực tiếp lên tiếng mà người ta chỉ thấy phát ngôn viên Harry Roque thay mặt để chúc mừng ông Joe Biden đắc cử. Cũng có thể vì lý do này nên Thủ Tướng Benjamin Netanyahu đã gửi song song tin nhắn “chúc mừng Tổng Thống tân cử Joe Biden và Phó Tổng Thống tân cử Kamala Harris” cùng với tin nhắn “cảm ơn Tổng Thống Donald Trump với tư cách là một người bạn của Do Thái đã vận động cho các hiệp ước hòa bình tại vùng Trung Đông”.

Tổng Thống Thổ Nhĩ Kỳ Recep Tayyiv Erdogan được mô tả là nhân vật lên tiếng trễ nhất về cuộc bầu cử tại Hoa Kỳ, mãi đến Thứ Ba 10/11 mới phổ biến thông cáo chúc mừng Tổng Thống tân cử Joe Biden, và “tin tưởng rằng sự tăng cường quan hệ ngoại giao giữa hai quốc gia trong Khối NATO sẽ tiếp tục góp phần xây dựng hòa bình cho thế giới”. Trước đó sự im lặng của Tổng Thống Thổ Nhĩ Kỳ đã khiến nhiều quan sát viên lo ngại, phần vì ông Erdogan được mô tả là đồng minh thân cận của Tổng Thống Trump, phần khác vì ông Biden từng phê bình ông Erdogan “độc tài” và đề cập đến việc hỗ trợ thành phần đối lập ở Thổ Nhĩ Kỳ để thay đổi cán cân quyền lực.

Sau khi Tổng Thống Thổ Nhĩ Kỳ thay đổi thái độ, giới truyền thông ghi nhận vẫn còn 6 quốc gia chưa lên tiếng chúc mừng ông Joe Biden đắc cử Tổng Thống Mỹ, đó là Trung Cộng, Bắc Hàn, Nga, Iran, Brazil và Mexico.

Hồi năm 2016 Chủ Tịch Tập Cận Bình gửi lời chúc mừng chỉ một ngày sau khi ứng cử viên Donald Trump thắng cử, nhưng năm nay hoàn toàn giữ yên lặng. Tại cuộc họp báo ở Bắc Kinh hôm Thứ Hai 09/11, khi báo chí đặt câu hỏi, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Uông Văn Bân (Wang Wenbin) trả lời là Trung Cộng sẽ “hành xử theo thông lệ quốc tế”, và giải thích “Chúng tôi thấy ông Biden đã tuyên bố thắng cử. Chúng tôi hiểu rằng kết quả bầu cử Tổng Thống Mỹ sẽ được xác định theo thủ tục và luật pháp Mỹ”. Sau đó Uông Văn Bân nói thêm: “Chúng tôi luôn luôn tin tưởng Trung Quốc và Hoa Kỳ nên tăng cường giao tiếp và đối thoại, quản lý sự khác biệt trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau, mở rộng hợp tác trên cơ sở cùng có lợi, thúc đẩy sự phát triển lành mạnh và ổn định của mối quan hệ song phương”.

Mặt khác, theo tin nhắn trên mạng xã hội của Hồ Tích Tiến (Hu Xijin), chủ bút tờ Hoàn Cầu Thời Báo (cơ quan ngoại vi của nhật báo Nhân Dân) thì sở dĩ Bắc Kinh chưa chúc mừng ông Biden là vì “muốn giữ khoảng cách để tránh bị lôi kéo vào cuộc tranh chấp chính trị ở Mỹ”.

Tại Moscow, Tổng Thống Nga cũng giữ thái độ im lặng, mặc dù 4 năm trước đây ông Vladimir Putin là một trong những người đầu tiên chúc mừng Tổng Thống Donald Trump. Phát ngôn viên Dmitry Peskov của Điện Kremlin khi trả lời báo chí qua điện thoại hôm 09/11 nói rằng “còn quá sớm để thừa nhận chiến thắng của ông Joe Biden”. Theo lời phát ngôn viên Peskov: “Chúng tôi nghĩ điều đúng nhất là nên chờ họ loan báo kết quả chính thức. Chúng tôi hy vọng có thể thiết lập cuộc đối thoại với Tổng Thống tân cử của Mỹ và hai bên sẽ đồng ý về những phương cách để bình thường hóa quan hệ ngoại giao”.

Tại Bình Nhưỡng, hãng thông tấn quốc doanh KCNA hôm Thứ Hai không loan bất cứ tin tức gì về nước Mỹ và không trích dẫn lời phát biểu nào của Chủ Tịch nhà nước Bắc Hàn. Đài BBC nhắc đến “mối quan hệ đầy sóng gió” giữa Kim Jong Un với Tổng Thống Donald Trump mặc dù đôi bên đã gặp nhau ở hai hội nghị thượng đỉnh và có một cuộc hội kiến ở vùng phi quân sự. Trong khi đó Tổng Thống tân cử Joe Biden mô tả Kim là một “tên côn đồ” (thug) và tuyên bố sẽ không bận tâm đến quan hệ ngoại giao với cá nhân lãnh tụ Bắc Hàn. Ngược lại Kim Jong Un cách đây đúng 1 năm cũng không ngần ngại gọi ông Biden là “một con chó dại đáng bị đập chết” (a rabid dog that must be beaten to death with a stick).

Tại thủ đô Iran, Tổng Thống Hassan Rohani thay vì chúc mừng ông Joe Biden thì chỉ phổ biến thông cáo báo chí nói rằng “Đây là cơ hội để chính phủ tương lai của Hoa Kỳ sửa đổi những lỗi lầm trước đây và quay trở lại với những cam kết quốc tế”, ngụ ý nhắc đến Thỏa Ước Hạt Nhân năm 2015.

Về thái độ của nhà lãnh đạo Brazil, giới truyền thông ghi nhận Tổng Thống Jair Bolsonaro vốn được coi là đồng minh thân cận của Tổng Thống Trump, đến mức được đặt biệt danh là “Trump của vùng nhiệt đới” (Trump of the Tropics). Do đó không ai ngạc nhiên khi thấy ông Bolsonaro không chúc mừng ông Biden và chính phủ Brazil nói rằng sẽ chỉ lên tiếng sau khi các vụ tranh chấp pháp lý về bầu cử tại Hoa Kỳ được giải quyết xong xuôi. Bản tin NPR ghi nhận thêm là Tổng Thống tân cử Joe Biden tuyên bố sẽ đặt vấn đề với Tổng Thống Bolsonaro về trách nhiệm bảo vệ rừng nhiệt đới Amazon, vì có liên quan đến môi sinh và ảnh hưởng đến nhiều quốc gia chứ không phải là “vấn đề nội bộ của Brazil” như ông Bolsonaro lý luận.

Một nhà lãnh đạo khác ở Châu Mỹ La Tinh là Tổng Thống Andrés Manuel Lopez Obrador của Mexico cũng ngần ngại chưa muốn lên tiếng về cuộc bầu cử ở Hoa Kỳ, nói rằng “sẽ chờ đến khi mọi vấn đề pháp lý được giải quyết”. Ông Lopez Obrador cho tới nay vẫn cố gắng duy trì một tương quan tốt đẹp với Tổng Thống Trump, bất chấp những căng thẳng về bức tường biên giới giữa hai nước và chính sách di dân cứng rắn của chính phủ Trump. Tại cuộc họp báo hôm Chủ Nhật 08/11, ông Lopez Obrador tìm cách giải thích bằng một luận cứ không mấy thuyết phục: “Chúng tôi không muốn có thái độ thiếu thận trọng và hành động thiếu thận trọng”, bởi vì “Mexico có mối quan hệ rất tốt với cả hai ứng cử viên”.

Share this post