Đồng Tiền Vạn Lịch (Tiểu Thuyết Tiền Chiến – TCHYA) Chương 1

Đồng Tiền Vạn Lịch (Tiểu Thuyết Tiền Chiến – TCHYA) Chương 1

ĐỒNG TIỀN VẠN LỊCH
* Tiểu Thuyết Tiền Chiến – TCHYA
* Nam Quan Xuất Bản Cục tái bản (Hà Nội, 1953)

* Tiếp theo truyện KHO VÀNG SẦM SƠN. Để đọc những phần đã đăng, xin vào khung Search this site (Tìm Kiếm) và gõ tên tác giả: TCHYA.

TỪ “KHO VÀNG SẦM SƠN” ĐẾN “ĐỒNG TIỀN VẠN LỊCH”

Năm 1934, nhà nước có khám phá được một kho vàng bạc chìm dưới đáy bể Sầm Sơn. Xét trong lịch sử, thì kho vàng đó thuộc về đời Mạt Lê; chủ nó là Nguyễn Hữu Chỉnh.

Nguyễn Hữu Chỉnh là một nhân vật tài hoa lỗi lạc văn võ toàn tài, song phải thói hay ô mị xảo quyệt, hóa nên không mấy người ưa. Trước kia, Chỉnh làm quan ở Bắc Hà, theo Hoàng Ngũ Phúc. Khi Phúc chết, Chỉnh thuộc về môn hạ Huy quận công Hoàng Đình Bảo. Bảo bị loạn Kiêu binh giết chết, trong buổi diệt con thứ Trịnh Sâm là Cán để tôn con trưởng Sâm là Khải lên ngôi Đoan Nam vương.

Chỉnh mất chủ bơ vơ đi vào Quảng Nam theo Chúa Tây Sơn là Nguyễn Nhạc, may được Nhạc trọng dụng.

Chỉnh được Nhạc yêu, có ý hợm mình, kiêu ngạo, khinh con rể Nhạc, Phò mã Võ Văn Nhậm, là người dốt nát. Trái lại Nhậm cũng ghét Chỉnh là người gian giảo. Hai nhà Nguyễn Võ vì thế gây nên cừu oán, dẫu cũng đồng triều mà không đi lại với nhau.

Chỉnh vốn có hai người con trai đã lớn, con trưởng là Anh Tề, 20 tuổi, con thứ là Anh Du, 18 tuổi. Anh Tề và Anh Du theo cha vào Quảng, cùng ở với Chỉnh ở Quy Nhơn, kinh đô triều Tây Sơn.

Nhậm lấy con gái Nhạc là Thọ Huê công chúa, sinh được một người con gái tuyệt sắc đặt tên là An Trinh. An Trinh rất giỏi nghề cung mã, côn kiếm; bởi thế được cha mẹ cho phép ăn mặc giả trai, cả ngày tự do đi du ngoạn khắp trong thành, ngoài thành. Tình cờ xui khiến An Trinh thí võ với Anh Tề giữa một ngày hội rước đèn múa sư tử, rằm tháng Tám.

Biết tài nhau nên chả mấy chốc đôi trai tài gái sắc yêu mê nhau khắng khít, mặc dầu biết hai nhà Nguyễn Võ oán thù nhau. Cặp uyên ương mong rằng có ngày vì ái tình, sẽ giải được mối căm hờn vô lý ấy.

Ít năm sau, em vua Tây Sơn là Nguyễn Huệ lĩnh chức Tiết chế đem quân ra đánh Bắc Hà, phù Lê diệt Trịnh, Nhậm và Chỉnh được phong làm Tả, Hữu quân Đô đốc, cùng theo Huệ ra đánh trận. Hai tướng đều đem con đi, Nhậm thì cho phép An Trịnh cải trang đi trong quân đội, Chỉnh cũng cho Anh Tề sung vào hàng tỳ tướng ra Bắc Hà.

Quân Tây Sơn thắng quân Trịnh, diệt giòng họ Trịnh, và ở lại Thăng Long hơn một tháng để giúp vua Lê. Trong khi đó, Tiết chế Huệ được phong là Nguyên soái Uy Quốc công và đẹp duyên cùng công chúa Ngọc Hân, lệnh ái vua Lê Hiến Tôn.

Khi đánh phá mấy thành Sơn Nam, Thanh Hóa, Nghệ An, trước khi hạ thành Thăng Long, Chỉnh nhân đi tiên phong, nên thu vét được nhiều của cải đựng trong các kho tàng những tỉnh thành bị phá. Chỉnh sai con đóng rương giấu kín cả đi, và nói phao rằng các kho rỗng không, chả có gì cả. Lúc quân Tây Sơn đóng ở Bắc, Chỉnh ở một tòa nhà to, về phía Nam thành Thăng Long, ở chung với người cừu địch là Võ Văn Nhậm. Nhậm chiếm chái Tây, Chỉnh giữ chái Đông. Chỉnh vốn xưa làm quan xứ Bắc, nên quen thuộc nhiều, khách khứa đến cả ngày nghe Chỉnh cao đàm hùng biện, vì Chỉnh có tài nói khéo lắm, nhiều kẻ thích đến chơi với y. Trái lại chả ma nào lại yết kiến Nhậm cả, bởi lẽ Nhậm là người Quảng không quen ai, ăn nói lại lỗ mãng và trọ trẹ. Nhậm thấy thế, ghen với Chỉnh, lại càng đâm ra ghét Chỉnh. Giữa lúc hai ông bố đố kỵ nhau như thế, thì hai người con: Nguyễn Anh Tề và Võ An Trinh, chả đêm nào là không hẹn nhau đến cửa chùa Pháp Hoa để tự tình, Anh Tề mới được biết rõ người chàng yêu đã có mang ba tháng.

Cách đó ít lâu, vua Tây Sơn là Nguyễn Nhạc, sợ Huệ ở lâu tại đất Bắc sinh biến, nên sốt ruột đem quân đi cấp tốc ra Bắc Hà đón Huệ về. Nhân dịp ấy, Nhậm xui bố vợ bỏ Chỉnh ở một mình lại Thăng Long, Nhạc cả nghe, vì có Huệ cũng nói xen vào, nên truyền mật chiếu rút quân về, mà không cho Chỉnh biết.

Sáng ngày hôm sau, Chỉnh mới rõ, nhưng đại đoàn quân Tây Sơn đã rút trại trở về rồi. Duy có một người biết mà không về: ấy là Quận chúa An Trinh. Nàng sợ về chuyến này sẽ bị cha mẹ biết rõ là chửa hoang tất thế nào cũng chết. Nàng bèn ở lại cùng tình lang là Anh Tề.

Nguyễn Hữu Chỉnh một mình ở Bắc Hà rất lo sợ, kíp sai thuê thuyền đem cả của cải và gia môn binh tướng, thuận đường bể theo Nhạc về Nam. Chỉnh cưỡi thuyền nhẹ đi cho mau, còn thuyền của cải thì phó thác cho con là Anh Tề, cùng bốn tên kiện nhi, giả làm lái buôn, tải đi. Anh Tề, được dịp tốt, đem An Trinh xuống thuyền, cùng về. Chẳng may thuyền của đôi uyên ương bị bão và bị gặp giặc Tầu Ô, nên túng thế, hai người đục thuyền cho chìm, rồi lặn xuống bể trốn vào bờ. Bốn tên gia đinh bị giặc giết chết. Trước khi trốn chạy, An Trinh có giắt được ít nhiều châu báu trong mình. Hai vợ chồng đến ngụ cư ở bãi Sầm Sơn, định xa lánh bụi trần, lìa bỏ nhà cửa cha mẹ, đem thân thế và sự nghiệp hy sinh cho một mối ái tình vĩ đại thiêng liêng.

Ai ngờ đâu, Hóa Công cay nghiệt xui Võ Văn Nhậm giết chết kẻ thù là Nguyễn Hữu Chỉnh. Một bức tường cừu oán bỗng dưng lên giữa lứa tài tử giai nhân. Biết tin thảm ấy, An Trinh đem cho hết của cải rồi đâm đầu xuống bề tự tử, đứng giữa chỗ kho vàng bị đắm. Nàng chỉ để lại cho chồng một đồng tiền vàng, kỷ niệm của một cuộc tình duyên ngắn ngủi nhưng nồng nàn.

Anh Tề đi vắng về nhà thì vợ đã hóa người thiên cổ. Chàng đau đớn lắm, định chết theo vợ. Nhưng chàng nhớ lại chưa trọn bổn phận đối với vua, chàng quyết định xả thân giúp vua Lê Chiêu Thống gây dựng lại cơ đồ. Nhưng rồi mục đích của chàng cũng bị sự thất bại làm cho tan tác: Vua Lê ngậm hờn mà chết ở bên Tàu vì bị lũ quan Tàu lừa đảo và ức hiếp. Sự nghiệp không thành, Anh Tề trở về Sầm Sơn, khóc vợ hồi lâu xong đi mảng ra giữa khơi, đứng trên bè rạch bụng lấy tim ra xem, rồi ngã lăn xuống bể, chết theo vợ, cũng ở chỗ thuyền vàng khi xưa bị đánh chìm.

Trước khi tự tử, Anh Tề có chỉ trời vạch bể mà nguyện một câu rằng: Chàng sẽ cùng An Trinh tái sinh để nối nguyện ước cũ.

Chàng sẽ để dành kho vàng cho kẻ có duyên bắt được cả hai đồng tiền Vạn Lịch, một đồng bằng bạc, một đồng bằng vàng. Vì hai đồng tiền đó là biểu hiệu cuộc chung tình của chàng cùng An Trinh quận chúa. Vì hai đồng tiền ấy là chùm chìa khóa tối thiêng liêng để mở cửa kho vàng.

Vậy; ai đã đọc hết quyển KHO VÀNG SẦM SƠN, nếu muốn biết rõ câu chuyện ly kỳ, thú vị của hai đồng tiền vàng bạc thế nào; nếu muốn biết ai là kẻ có duyên được làm chủ gia sản lớn bị đắm trong lòng nước bãi Sầm Sơn: Xin hãy đọc tiếp ĐỒNG TIỀN VẠN LỊCH.

CHƯƠNG 1: ĐỒNG TIỀN VẠN LỊCH
TÌM KIẾM

Thế là, bắt đầu từ đây, Nguyễn Hữu Tề và tôi bị lôi cuốn hẳn trên vạt đường hiểm hóc, bởi những mãnh lực thiêng liêng vô địch của kho vàng.

Chúng tôi đi tìm, hết sức tìm, cố công tìm, ngày đêm thu hết thần trí và tâm lực vào sự đem đồng tiền Vạn Lịch bằng bạc ra ánh sáng. Đồng tiền bạc ấy – như tôi đã nói – hợp với đồng tiền vàng mà Nguyễn Hữu Tề giấu kín trong người, sẽ thành bộ chìa khóa tối linh nghiệm giúp chúng tôi mở cửa kho kim ngân châu báu, từ một trăm năm mươi năm nay, bị chìm lấp dưới làn nước thẳm biển Sầm Sơn.

Chúng tôi nhờ Trời Phật, mỗi buổi sáng kìa, sẽ sống một cuộc đời triệu phú. Chúng tôi sẽ làm bá chủ thiên hạ trong thời đại vật chất này.

Gặp Tề trong buổi ngẫu nhiên, tôi đã cùng chàng se kết một mối dây thân ái vững bền, một mối dây mà đời vật lộn ti tiểu khó làm cho đứt được. Tình tri ngộ, nghĩa thâm giao đã khiến đời chúng tôi đối với nhau chả khác gì một cập tình nhân chung thủy, chia hoạn nạn cũng như chia phú quý, thề trước thần lương tâm không bao giờ nỡ phản phụ nhau. Chúng tôi, bởi thế, tin nhau, quý nhau, tận tụy nai lưng gắng sức để theo đuổi chung một mục đích.

Tề là một thiếu niên điềm đạm, cẩn thận trong lời nói và trong cách cử chỉ, không lúc nào không có vẻ trầm ngâm như một nhà thi sĩ, kín đáo như một tay trinh thám; nhưng vẻ trầm ngâm kín đáo của chàng không có chút gì khả ố, nó chỉ làm tăng, trước tấm mặt người biết xét, cái vẻ đẹp quật cường ngang ngạnh của khuôn mặt chàng, một khuôn mặt rắn rỏi có đôi mắt sáng như đèn, chiếu ra những tia chớp tinh anh hoạt động.

Tôi, trái lại, là một đứa trẻ con, hay láu táu, thấy cái gì cũng ngó, bạ cái gì cũng sờ. Hai tính nết rất phản đối nhau mà tình cờ trớ trêu lại run rủi cho tương hợp cùng nhau, nghĩ ra thực lạ lùng hết sức. Ai ngờ chúng tôi lại hòa thuận một cách không đoán trước được, tựa hồ những chỗ thiếu thốn trong tính tình của bạn, tôi thì tôi có, mà những điều tôi sở đoản thì có bạn tôi sở trường. Chúng tôi như sinh ra để bù đắp lẫn cho nhau, để cùng nhau sống chung một quãng đời niên thiếu.

Từ giờ gặp gỡ nhau trong túp lều xiêu vẹo của ông già chài lưới. Từ buổi rủ nhau đi ăn điểm tâm trong một nhà khách sạn ở Sầm Sơn, Nguyễn Tề không rời tôi một bước nào cả. Chàng cứ bắt tôi phải ăn ngủ cùng chàng cho có bạn; đêm thì chúng tôi về nghỉ trong một căn nhà tranh của dân đánh cá hay trong một phòng khách sạn cho thuê, ngày thì cặp kè đi thám thính suốt vùng, ra công chú ý tìm kiếm đồng tiền Vạn Lịch.

Thế rồi, hoặc lúc đang tắm, hoặc lúc đương câu, hoặc lúc giang tay đi vơ vẩn trên bãi cát, chúng tôi cũng tò mò nhìn hết nhân vật này sang nhân vật khác, cố đọc trên nét mặt tha nhân những cảm tưởng bí mật họ giấu trong gầm sâu nhất của tâm hồn.

Trong nửa tháng đầu tiên, chúng tôi vẫn không nhận thấy một vẻ gì đặc biệt trong đám dân nhàn cư phong phú đi nghỉ mát ở vùng hải ngoại, cũng như không phát minh ra được một kế gì lỗi lạc để giẫm chân trên vết chìa khóa mở kho vàng. Các công tôn vương tử, các viên chức đi nghỉ hè, ai nấy đều ra bộ nhởn nhơ phè phởn, sung sướng vô tư, ngày ngày họ dẫn những xác thịt hoặc béo nứt như trâu trương, gầy đét, như que củi, hoạc trắng bủng như hành lá, đen xạm như đồng đen, tung tăng nhảy nhót trong làn nước muối; họ hình như không còn tư tưởng nào khác trong linh hồn nữa, ngoài ý nghĩ hưởng cho tới cực điểm những giờ nhàn hạ mà vụ nghỉ hè cùng bờ biển để dành riêng cho mấy kẻ sẵn tiền. Thôi thì không thiếu chi nhân vật đủ các tuổi, chen chúc nhau trong mấy gian phòng khách sạn; trên bãi cát chiều chiều như có hội, mà bao nhiêu người đi trẩy hội lại toàn là những mặt trưởng giả phong lưu, những bậc quân sang đài các, hoặc con hay cháu họ.

Dân nghỉ mát chả khác gì dân xem chớp bóng; ngoài những mặt lạ một đôi khi mới thấy, phần nhiều toàn là mấy kẻ bị tập quán bắt buộc phải ra tắm biển cững như đi xi-nê, năm nào cũng góp một chân trong cuộc sống vụ hè nơi hải ngoại.

Trong đám dân phong lưu ấy, mà sự giàu có tựa hồ san sát ngang nhau, nhưng các cử chỉ tương phản và những bộ mặt khác nhau hiến cho mặt khách bàng quan một cảnh tượng phức tạp hoạt động mà nhỡ nhàng, ngoạn mục nhưng khó chịu.

Những sự nhố nhăng, những vẻ trơ tráo, những điệu vô sỉ mà, thường ngày cúi đầu trên mặt giấy trong một căn phòng vắng vẻ, ta không được thấy, thì ngày nay, chỉ tạt qua một vòng ở những chỗ gọi là “bờ biển nghỉ mát” ta sẽ được mục kích chán mắt, chán kỳ đến ngấy thì thôi. Tả làm sao cho hết sự ngớ ngẩn, những điệu ngô nghê, tựa hồ như chọc vào mắt mình, đấm vào tai mình? Tài tử thì phần nhiều phơi những dáng điệu nhí nhảnh, lả lướt; mà tiểu thư thì, hàng đàn, hàng lũ, kéo nhau ra phô trương những màu da của Uất Trì Cung, Đơn Hùng Tín hay Tần Thúc Bảo, những vẻ khạng nạng, đi chân chữ bát và những cái đáng lẽ phải giấu kín đi cho đỡ chướng thì hơn.

Song le, ở đời có sự dị thì cũng có sự hay, dù sự hay ấy hiếm. Trong mấy trăm mỹ nhân đi tắm bể, không phải cô nào cũng xấu xí, đít bạnh, ngực lép và đi chân chữ bát cả; cũng nhiều cô có sắc đẹp lộng lẫy và đều đặn, mà chưa chắc gái phương Tây đã ăn đứt được tí nào.

Bởi thế cho nên, dù có chịu phiền phức một đôi chút, chả ai là không muốn làm khách bàng quan để ra ngắm ngoài bãi bể những sự mà ngày thường, ở các chỗ phồn hoa đô hội, không mấy khi có dịp dùng con mắt vuốt ve.

Chỗ bờ biển là nơi hò hẹn của trăng gió, yêu hoa; một khi đã ngửi quen không khí của chốn quần ong tụ bướm ấy, thì thú sinh hoạt bằng tình ái không bút nào tả hết nét say sưa.

Còn gì sung sướng hơn ngày hai bữa an nhàn, ăn no ngủ kỹ; ăn ngủ chán rồi đi tắm mát; tắm mát xong lại được ăn bằng mắt những hoạt tượng tưng bừng sinh khí, tự mình được phô diễn hết khoa ngôn ngữ để mua chuộc một vài giờ êm ái đùa hoa bỡn nguyệt.

Tài tử giai nhân ai đó nhỉ
Một mình nên tưởng nỗi mây mưa…

Thực là một cảnh bồng lai dễ đâu sánh kịp. Tiên cung cũng khó so bì.

Nhưng, khốn thay! Cảnh ấy lại chỉ để dành riêng cho những công tử vương tôn, con nhà phong lưu phú quý, thừa tiền không biết làm gì thì bốc rời để trả giá những mùi ngon ngọt, để sưu tầm những tuyệt thú khô khan. Mấy ông thiếu niên ấy không ra bể để câu cá song, cá mú, chỉ cốt câu lấy những quả tim non nớt của mấy cô nhẹ dạ, quả tim xơ xác của mấy cô lăng loàn, hay tìm quả tim cằn cỗi của mấy cô lão luyện. Tùy theo sở thích, họ đi tìm nụ cà hoa mướp, họ dùng theo hoa nở đương thì, họ thử bẻ quả mai ba bảy.

Thôi thì hạng nào cũng có, kiểu nào cũng có, “yết thị đã sẵn treo cho những khách yêu hoa”!

Nhưng, bẽ bàng ơi hỡi bẽ bàng! Nguyễn Hữu Tề và tôi giữa một cảnh phong lưu lịch sự như thế, trong một trường huê nguyệt não nùng như thế, mà hai anh em chẳng khác gì một cặp thầy tu! Mắt không hề để ý tới sự đẹp đẽ, tai không từng lắng nghe những câu ân ái mê ly; bao nhiêu giác quan chỉ mê mải làm việc cho một quan niệm khó khăn, vô lý, vừa viển vông vừa khó chịu, lại chẳng bao giờ có một kết quả gì điểm một nét tươi vui trong quảng đời đầy thiếu thốn! Thực là trời bắt tội chúng tôi nhục thân hoại thể, để mưu mô một công việc không đâu!

Chúng tôi, dẫu ai ngăn cấm cũng không nghe – may mà chả có ma nào!  – cứ lầm lũi, cứ ương ngạnh, chạy theo vết Kho Vàng, không san sẻ tâm trí cho một việc cỏn con nào khác nữa. Mắt chúng tôi trời không sinh ra để nhìn sắc đẹp, chỉ để quan sát những kẻ nào có thể là người biết tung tích đồng tiền Vạn Lịch chữ vàng; tai chúng tôi không phải để nghe những giọng véo von não nuột của giai nhân, chỉ dùng để ghi chép lấy những lời can thiệp đến đồng tiền cũ kỹ ấy. Nhất là mồm chúng tôi thì càng lạ nữa! Nó sinh ra không phải cốt để tán gái cho hoạt bát, chỉ để mà ngậm tăm thôi, không mấy khi được hả hơi nói to một lúc cho bỏ hờn. Chúng tôi như hai cái bóng, hai oan hồn, nhẹ nhàng êm ái đi trong một lớp sóng người lấp nập. Mặt bao giờ cũng cau có, tai bao giờ cũng nghe ngóng, tay bao giờ cũng sờ soạng bất cứ vật gì khả nghi, chân bao giờ cũng đạp cát, trèo núi không biết mỏi.

Chúng tôi lao lực chạy theo vết bạc, cố tiến đi, đi mãi, đi tìm dấu vết đồng tiền Vạn Lịch chữ vàng. Vì đồng tiền ấy – chúng tôi tin một cách rất chắc chắn – sẽ là chìa khóa thứ hai mở cửa cho chúng tôi vào cõi “vàng rừng, bạc biển”. Vì đồng tiền ấy là nửa đạo bùa thiêng liêng giúp chúng tôi đạt tới mục đích làm giàu trong một khắc đồng hồ.

Bởi thế, không quản khổ sở công phu, chúng tôi cứ đi, đi mãi. Đi mà vẫn không dò ra được manh mối gì về bảo vật chúng tôi đương cố sức tìm. Chúng tôi đã học hết các vẻ mặt, đã nghe các câu chuyện, đã sờ nắn hết các đá vụn ở ven đường; chung tôi đã ngắm hết các nhân vật ra tắm mát ở Sầm Sơn; thế mà vẫn chưa thấy một kẻ nào khả nghi tạm gọi là có thể có một chút liên lạc – ôi! rất cỏn con! – đối với đồng tiền Vạn Lịch. Đám dân phong phú đi nghỉ mát đều lộ ra vẻ vô tư lự, họ hồn nhiên hưởng các khoái lạc của xác thịt, chưa lừng lộ ra một bộ điệu nào tỏ rằng họ có chút tâm sự lo lắng hoài bão bên lòng.

Giữa một hoàn cảnh như thế, chúng tôi rất thất vọng. Chung quanh mình tưng bừng tấp nập bao nhiêu, chúng tôi buồn tẻ bấy nhiêu, mình chẳng có thì giờ đâu đùa bỡn, mà thấy họ cứ ngày nào cũng như ngày nào, hết thú vui nọ đến khoái lạc kia, thì chán nản kể làm sao xiết! Chúng tôi đã rắp tâm bỏ hẳn Sầm Sơn, đi làm việc ở vùng khác.

Trong buổi tâm trí suy tàn ấy, bỗng một sáng mai, chúng tôi thấy một sự lạ lùng. Sáng hôm đó, lạ làm sao! Quang cảnh tựa hồ ủ dột. Trời đầy mây u ám; ánh sáng ban ngày ảm đạm như sắc mùa thu. Bãi Sầm Sơn, hằng ngày tươi đẹp như một cụm hoa xuân dũ sắc, chả hiểu vì sao, bỗng biến ra một nơi lạnh lẽo, mặc dầu số người đi tắm bể chưa hề kém mất mạng nào. Nhưng trông vẻ mặt lũ người ấy, sáng nay ta thoảng thấy một nét hoài nghi, bí mật, trái ngược hẳn với sự vui vẻ hôm qua còn tỏa trong tất cả các con mắt, các lằn môi. Thiên hạ bây giờ, không phải là thiên hạ những ngày trước nữa. Cũng mấy nhân vât ấy; cũng những y phục ấy, cũng phong cảnh sự vật ấy, làm sao có sự đổi thay này?

Ai cũng có con mắt đăm đăm, có bộ điệu nghiêm nghị, có dáng dấp vội vã, có cử chỉ khả nghi. Họ vẫn cười, vẫn đùa, vẫn nói, vẫn hát, song hình như những tiếng cười, những câu hát ấy, đều ngượng nghịu, không tự nhiên như mấy ngày hôm nọ. Chuyện đâu có chuyện dị kỳ!

Thì ra, vừa sáng nay, sáu chiếc ô-tô kính chở từ Thanh Hóa xuống Sầm Sơn một đoàn giai nhân tài tử. Trong đoàn đó, có hơn hai mươi người, tám người con gái rõ đẹp; còn bao nhiêu đều là thiếu niên anh tuấn tuổi từ mười tám đến ba mươi. Đoàn đó chiếm chật cả một nhà khách sạn, bảo trước chủ tiệm sẽ an cư ở đấy ít nhất là hai tuần. Từ buổi họ đến, công chúng, không kể những dân Pháp, tựa hồ không được vui vẻ, tự do, như mọi ngày. Xem ra họ giữ gìn ý tứ, không ai phóng túng, không bê tha như trước nữa. Những sự nhố nhăng, những điều chướng tai trái mắt, nhờ thế bớt đi một, đôi phần.

Lạ nhỉ! Đoàn du khách kia có lẽ rất quyền thế, cho nên mới có thể lan cái sợ ra thiên hạ, một khi đặt chân lên bãi cát Sầm Sơn. Có lý nào lại như thế được…?

Vô lý thật, nhưng mà có lý! Sau này chúng tôi mới hiểu rõ nguyên nhân của sự lạ lùng này. Thì nào có gì đâu! Trong số thiếu niên vừa đến ấy có tám người con gái, thân yêu nhau như chị em ruột thịt một nhà. Tám cô đều có tiếng là hoa khôi đẹp nhất của đất nước, của thế kỷ.

Vương tôn, công tử, không cậu nào không ngấp nghé một cô trong số Tiên nga. Nhưng, muốn được tâm vàng của một vưu vật khó khăn, thế tất cử chỉ phải đừng bờm xơm, bợm bãi. Phải có vẻ nghiêm nghị, đúng đắn, mới hòng được người ngọc yêu đương.

Vì thế, công chúng đều nghiêm nghị đúng đắn cả.

Có vài cậu thiếu niên đa sự đồn đãi lên rằng các cô ra bãi bể cốt ý để kén chồng. Mà kén chồng, đôi mắt xanh của nương tử đẹp nhất trong bọn có lẽ đã ghi hình ảnh của một chàng hiện đương nghỉ mát ở Sầm Sơn. Vì câu phao ngôn ấy, bọn nam nhi đâm ra nghi kỵ, ghen bóng ghen gió, cậu này ngờ lẫn cậu kia.

Đã thế, lại có kẻ bảo rằng trong đoàn thiếu nữ, cô chủ đoàn có một lời nguyền: “Bất cứ ai xấu đẹp dở hay, hễ tìm được cho cô một bảo vật cô đương thèm muốn, đương khao khát, cô sẽ không quản giàu nghèo, quý tiện, vui lòng thờ người tốt phúc ấy làm chồng”.

Mấy cậu si tình lại càng bàn tán xôn xao, lồng phách lên vì lời tuyên bố ấy.

Công chúng đã hoài nghi, càng đâm ra hoài nghi thêm nữa.

Ấy, chính lúc thiên hạ nghiêm nghị, hoài nghi như thế, Nguyễn Hữu Tề và tôi lại thấy trong lòng phấn khởi, lại cố sức tiến đi, đi nữa, đi tìm kho vàng giữa những luồng nhỡn tuyến khó chịu tia thẳng vào mắt chúng tôi, giữa những lời bàn tán kiêu ngạo bắn vụt vào tai chúng tôi. Song le, mặc dầu ai chỉ trích, mặc dầu ai cười đùa, như hai đứa ăn mày lang thang lam lũ, chúng tôi cứ đi, cứ đi, len lỏi trong lớp hồng trần ô trọc, cố đạt cho tới mục đích đêm ngày đeo đuổi từ lâu.

Chúng tôi, sở dĩ phấn khởi thêm lên, sở dĩ vững tâm tìm kiếm, là bởi xét trong những bộ mặt chúng tôi đã ngắm, trong những lời nói chúng tôi đã nghe, tựa như thấy có nhiều manh mối quan trọng với công việc hai anh em đương trù tính.

Thế là trên con đường hiểm hóc, Nguyễn Hữu Tề và tôi lại ra công chạy theo vết bạc, cố bước đi, đi nữa, đầy một lòng hy vọng thành công.

Biết đâu? Biết đâu, trong lớp người mà tình cờ vừa run rủi tới Sầm Sơn lại không có một kẻ biết tung tích kho vàng nơi đáy biển?

(Hết Chương 1)

Share this post