Đồng Tiền Vạn Lịch (Tiểu Thuyết Tiền Chiến – TCHYA) Chương 4

Đồng Tiền Vạn Lịch (Tiểu Thuyết Tiền Chiến – TCHYA) Chương 4

ĐỒNG TIỀN VẠN LỊCH
* Tiểu Thuyết Tiền Chiến – TCHYA
* Nam Quan Xuất Bản Cục tái bản (Hà Nội, 1953)

* Tiếp theo truyện KHO VÀNG SẦM SƠN. Để đọc những phần đã đăng, xin vào khung Search this site (Tìm Kiếm) và gõ tên tác giả: TCHYA.

CHƯƠNG 4
LAI LỊCH

“Cái tên ‘Số Một’ của em làm cho các anh ngạc nhiên kinh dị lắm sao? Lấy một biệt hiệu bằng chữ số, có khác chi lấy biệt hiệu bằng hai chữ khác, thí dụ như hai chữ: Mị Châu? Nhưng tên Ái Lan, Hồng Vân, Phi Giao, Ánh Nguyệt, nghe mãi chán tai quá, không nói đến nữa! Bởi thế, em nghĩ hai chữ ‘Số Một’ có lẽ còn lý thú hơn nhiều.

Nhưng sở dĩ em lấy hai chữ ấy làm tên, cũng vì có một nguyên do. Sau này các anh sẽ hiểu.

Thầy em ngày xưa làm Tổng đốc ở Bắc kỳ này. Cụ vốn con nhà nho, xuất thân khoa bảng. Ấy cũng tại thế nên, nhà em vẫn giữ nền nếp cổ, hai anh của em ngày xưa bị ông cụ ra riết đè nén không được tự do chút nào. Nhưng đến lượt em thì em sung sướng lắm. Bởi lẽ, từ ngày em bé chưa đến tuổi trưởng thành, thầy em đã vội bỏ gia đình ở lại mà quy tiên. Mẹ em rất yêu em, không nỡ đánh mắng bao giờ, hóa nên em hư lắm, chỉ thích lêu lổng tự do, không chịu làm một tí gì, dù việc nữ công cũng vậy.

Thầy em về được hai năm thì anh thứ hai của em học bên Pháp, phải bệnh mất, rồi đến anh cả em, làm Tri huyện ở Ninh Bình, cũng theo anh hai em mà từ trần. Bởi thế, me em càng yêu em lắm lắm, em đương học ở trường đầm, me em bắt em thôi học, về ở nhà cho khỏe mạnh. Em bỏ trường, thấm thoát đã ba năm, chỉ ăn xong lại đọc sách, hoặc đi chơi, không làm được việc gì cả.

Em sinh ra sau rốt, kém hai anh của em hàng 17, 18 tuổi: mẹ em sinh được ba người con đầu lòng (người thứ hai không nuôi được), thì tự nhiên nghỉ sinh sản trong một thời kỳ dài lắm.

Mãi đến năm thầy em ngoài năm mươi tuổi, bấy giờ lão bạng mới sinh châu; hòn châu đó tức là em vậy. Bởi thế, các cháu gọi em bằng cô, chúng đều suýt soát lớn bằng em hay hơn em cả.

Tám người thiếu niên ra Sầm Sơn hôm trước toàn là cháu em cả đó.

Bọn chúng em đi tìm đồng tiền vàng từ đã mấy năm nay; không phải chỉ có ngày hôm qua em mới biết của báu ấy hiện ở trong tay anh. Em biết trước đã non một tháng nay rồi! Duyên cớ xui em tuy hoài nghi mà vẫn phải tin ở đời có nhiều lẽ bí hiểm lý luận loài người không xét được. Em theo học chữ Pháp từ thuở còn bé xíu, nhưng học thì cứ học chứ thực ra em vẫn không chịu ảnh hưởng của nền tân văn hóa chút nào. Bề ngoài, em cử chỉ và hành động chả khác gì một người con gái Pháp, song bề trong, em hoàn toàn có những tín ngưỡng và tính tình của một thiếu nữ Á Đông. Gia dĩ, gia đình em vốn theo nền nếp cổ, em bị tập quán và truyền thống tiêm nhiễm rất sâu những mầm tư tưởng cũ vào trí não, hóa nên dù thế nào; em cũng không bỏ được những quan niệm của ông cha. Em lấy thờ phụng tổ tiên làm rất trọng, em tin lý số và ma quỷ, lại cho rằng những lá bùa, những câu thần chú chúng nó có một mãnh lực tối thiêng liêng. Cái đó, bởi một việc phi thường đã run rủi em mục kích một cảnh tượng không có môn khoa học nào xét được; lại bởi sau khi tự thí nghiệm lời nói của người đã chết em thấy lời ấy đúng với kết quả việc em làm. Thế thì, các anh và chị bảo em không tin ở Thượng Đế và ở linh hồn làm sao được?

Em là đàn bà, mà đàn bà nhẹ dạ dị đoan, cái đó đã hẳn. Song le, lúc con mắt mình từng thấy chín rõ mười, lỗ tai mình từng nghe mồn một những sự vật, những lời nói mà cả thiên hạ cũng cho là viển vông vô lý, mình có thể tự mình cũng cho là viển vông vô lý hay không? Đã không thể cãi với thiên hạ được, thì còn có việc là đem chôn sâu những cảm tưởng của mình trong tâm khảm rồi thờ mẩu tâm sự đó, bởi nó thiêng liêng, nó huyền bí kỳ dị, nó khác hẳn mối tâm sự tầm thường vô vị của mọi người.

Em xin kể lại các anh và chị nghe cái trường hợp đã cải em thành một người sùng đạo lý và tin ma quỷ. Trường hợp đó là một kỷ niệm rất đau đớn của em, của me em, của gia đình em cái chết của ông thân sinh ra em. Em đã nói thầy em vốn dòng dõi cựu nho, bởi thế cụ thích khảo cứu sách chữ nho lắm. Sách vở của các tổ tiên em để lại, có hằng mấy tủ, hiện còn chất cả nhà ở quê. Sinh thời thầy em, cụ thường đọc cả ngày cả đêm, không chán. Me em kể lại, khi em mới lên sáu tuổi là nghĩa cách đây 13, 14 năm nay, bảy năm trước khi thầy em phải bệnh mất, bỗng một đêm thầy em tự nhiên choàng tỉnh dậy, thắp đèn rõ sáng, rồi lục lọi hết cả các tủ sách trong nhà. Từ buổi ấy, cụ ra công soát lại các giấy má đến ba bốn ngày, bỏ cả ăn cả ngủ, lúc nào cũng cặm cụi tìm kiếm, như muốn đem ra ánh sáng một kỳ vật gì lâu ngày từng lãng quên đi. Mãi đến hôm thứ năm về buổi chiều mới thấy thầy em hớn hở, lôi trong đám giấy bụi bặm và mọt nát một tập gì không rõ, rồi đem nó lên bàn thờ tổ, thắp nén hương, làm lễ khấn khứa. Đến tối cơm nước xong xuôi, thầy em tắm rửa sạch sẽ, xong đốt trầm thắp nến, ngồi giở tập giấy cũ rích kia ra nghiên cứu. Suốt đêm ấy, cụ không ngủ, chỉ miên man trong sự đọc sách và ngồi suy nghĩ một mình.

Cách đấy non một năm, cả gia đình nhà em nhân vụ nghỉ hè, cùng ra Sầm Sơn nghỉ mát. Trong buổi đi cụ ra bờ biển, có đem theo một “lố” bảy tám đứa đầy tớ vừa gái vừa trai. Một ngày sau khi dọn dẹp đồ đạc xong, thầy em cho gọi cả con cái và người nhà, bảo rằng:

Năm trước, tao ra chơi đây, có đánh rơi trên mặt cát, gần chỗ đi tắm hay hơi xa một chút thì không rõ, một đồng kim tiền và một đồng ngân tiền cổ, của các cụ ngày xưa để lại. Trên mặt hai đồng tiền ấy đều có niên hiệu Vạn Lịch; đứa nào trong bọn chúng bay ra công tìm kiếm được, tao sẽ trả cho một số bạc rất to, vì hai đồng tiền ấy là bảo vật truyền thế của họ hàng nhà ta đó!

Bắt đầu từ buổi nghe lời dặn dò ấy, các con cháu cùng các gia nhân đều cố sức lục lạo hết mọi xó, xem hết nơi, mà vẫn không thấy gì cả. Phụ thân em bèn treo một giải thưởng năm trăm bạc khiến chúng ham của mà chịu khó quan tâm chú ý đến sự tìm tòi. Chúng kháo nhau bàn tán về số tiền thưởng to tát ấy, nên chẳng bao lâu tiếng đồn bay khắp Sầm Sơn.

Nhưng trước sau trong khoảng hai tháng trời không ai biết tung tích hai đồng tiền đâu cả. Chán nản, thầy em đã định tạm thu xếp về nhà. Bỗng một hôm về buổi sáng, một người nhà quê đen ròn và vạm vỡ, đi thẳng đến villa hỏi các con sen, đứa ở:

Có phải đây là nhà Quan lớn treo giải về đồng tiền Vạn Lịch đó không? Nếu đúng như thế, thí cho tôi vào hầu Ngài.

Người nhà dẫn bác nhà quê đó vào phòng khách. Tới nơi, hắn vái dài thầy em một cái rồi ngồi ngay xuống ghế ỷ, chả đợi ai mời mọc. An vị xong, bằng một giọng nói khàn khàn nhưng quả quyết, hắn bắt đầu câu chuyện:

Chúng tôi nghe đồn Quan lớn treo một giải thưởng rất to để chuộc một vật gia bảo, có phải quả như vậy không?

Thầy em rất ngạc nhiên về vẻ ngạo mạn của anh chàng quê kịch ấy, song thấy hắn có khí phách quật cường, ngang ngạnh, thì đoán chắc hắn không phải kẻ tầm thường, vậy nên dịu giọng trả lời rất ôn tồn khiêm tốn:

Vâng, quả thế!

Có phải bảo vật của gia đình Quan lớn là hai đồng tiền Vạn Lịch, một đồng bạc, một đồng vàng?

Phải

Vậy thì, muốn chiếm lại gia bảo đó, ngài treo giải thưởng bao nhiêu?

Năm trăm đồng.

Ít lắm! Ít lắm! Của quý thường tìm người quý, bởi thế tôi không sợ đường đột lại thăm ngài. Nhưng thực quả bán hai đồng tiền có lấy năm trăm đồng thì rõ ràng là coi rẻ hai đồng tiền ấy quá! Nếu Quan lớn chịu trả gấp đôi, năm trăm đồng một, may ra còn có kẻ để lại hầu Ngài của gia bảo mà Ngài đánh mất. Chớ chỉ treo có mỗi một giải thưởng nhỏ nhặt kia, thì đừng nói đến ai, cứ tôi đây, tôi cũng chẳng chịu hạ mình bán rẻ thế bao giờ!

Thầy em cúi đầu ngẫm nghĩ hồi lâu, rồi nhìn người khách lạ, hỏi:

Quý khách đặt giá như thế, hẳn là có bắt được gia bảo của tôi. Nhưng ngài có đủ cả hai đồng vàng bạc hay không, hay là chỉ có một trong hai đồng đó?

Chúng tôi chỉ có một đồng, mà đồng ấy Quan lớn phải cho ít ra là năm trăm đồng mới được! Phí số tiền lớn đó, không khi nào tôi chịu để hầu Ngài!

Thế ra đồng tiền của tiên sinh là đồng tiền bạc! Duyên cớ thế nào tiên sinh lại bắt được nó, xin làm ơn kể rõ tôi nghe.

Đồng tiền của chúng tôi là đồng tiền bạc nhưng trên mặt nó có bốn chữ vàng. Cái duyên làm chủ nó rất lạ lùng kỳ quặc, riêng tôi, thực quả tôi cũng bán tín bán nghi. Nhưng đến ngày nay thì tôi không thể nghi ngờ được nữa! Chẳng hay Quan lớn Ngài có bằng lòng mua nó bằng giá tiền tôi đã định hay chăng?

Nói đến đây, người nhà quê móc túi lấy ra một gói bằng vải nâu, mở gói trao cho thầy em một đồng tiền bằng bạc to bằng miệng chén tống trên có khắc niên hiệu Vạn Lịch bằng chữ vàng rực rỡ. Thầy em kính cẩn đỡ lấy bảo vật đó, xem đi xét lại rất kỹ càng rồi nói:

Tiên sinh đã dạy, tôi cũng xin vâng: Xin đưa hầu Ngài năm trăm để chuộc lấy gia bảo truyền thế này. Phải, giòng họ tôi vẫn coi đồng tiền cũ kỹ đây như có quan hệ rất mật thiết với cuộc sinh tồn của chúng tôi vậy. Nó còn, chúng tôi thấy mỗi ngày thêm vẻ vang thịnh vượng, mà giờ nào nó mất tức là bắt đầu từ giờ ấy, chúng tôi bị nạn tiêu diệt suy vong. Bởi thế, dù đắt rẻ thế nào, tôi cũng phải chuộc nó cho kỳ được. Nhất là có cả hai thì hay lắm, bằng không hãy tạm mua một đồng, đồng kia thế nào cũng sẽ trở về hợp với đồng này cho trọn vẹn.

Thầy em nói xong, gọi người nhà lấy tiền trả bác nhà quê. Nhưng bác ta bỗng đứng dậy, giơ tay ra hiệu bảo thầy em hãy thong thả, rồi hỏi rằng:

Quên, tôi quên! Tôi còn có một điều này chưa hỏi Quan lớn: Ngài cho tôi được biết cao danh quý tính đã, lúc bấy giờ có bán hay không, tôi sẽ xin thưa rõ ngài nghe.

Tôi họ Võ húy Văn Hoàn, tiểu tự là Quí Bạch Chẳng hay tiên sinh có bằng lòng bán lại cho tôi đồng ngân tiền này hay không?

Quan lớn họ Võ? Nếu vậy hay! Nếu vậy hay. Tôi có thể để hầu Ngài được. Xin ngài trao cho tôi cái số năm trăm đồng…

Tiền một chốc đem ra, thầy em sai để trên bàn, trước mặt người khách. Hắn ta giở từng tờ một, kiểm điểm rất kỹ càng, đoạn, mở khăn gói bỏ vào buộc gói lại chặt chẽ. Công việc ấy vừa làm xong, hắn đứng dậy cáo từ.

Thầy em thấy cử chỉ của hắn tối lạ lùng, lấy làm ngạc nhiên lắm, không hiểu duyên do ra làm sao cả. Lại thấy hắn hỏi tên rồi mới chịu bán, càng đâm ra kinh dị, bồn chồn. Hằng ngày Cụ rất điềm đạm, thản nhiên, thế mà lúc ấy cũng không khỏi ngại ngùng bối rối.

Cụ bèn đứng dậy, cản người nhà quê lại, không cho về vội, hỏi rằng:

Tiên sinh vừa nói chuyện lúc nãy sở dĩ Ngài bắt được đồng tiền bạc này, là do một trường hợp rất lạ lùng bí hiểm. Vậy Ngài có thể làm ơn kể lại câu chuyện đó cho tôi nghe không? Và có thể bảo tôi biết vì sao Ngài cần hỏi tên họ tôi trước khi bán đồng ngân tiền Vạn Lịch.

Người nhà quê không hề từ chối, lại ngồi ngay xuống ghế nói:

Được, được. Quan lớn đã muốn nghe, tôi xin kể lại. Chuyện này lạ lắm, lạ lắm tôi càng kinh nghiệm bao nhiêu lại càng sợ hãi bấy nhiêu. Thế mới biết duyên nghiệp của người ta thực không phải là câu chuyện viển vông vậy! Nguyên do như thế này: Cách đây đã hơn hai mươi năm, ông thân sinh ra tôi trước có làm thủ chỉ ở làng này, một hôm nhân đi xem dân chài kéo vó, được mục kích một sự rất khủng khiếp dị kỳ. Một bọn đinh tráng chở mảng ra khơi đánh cá kéo lên được một con ngư quái hình đáng rất lạ, chưa ai được thấy bao giờ. Con quái ấy có một cái đầu giống hệt như ông lão, trắng mà trụi không có một sợi tóc nào. Da thì nhẵn thín mà xám, mắt trong tựa như mắt người, có mồm có mũi, nhưng hai mắt rất nhỏ. Thân thì là thân cá, nhưng không có một cái vẩy nào. Lúc bắt lên đến thuyền, mồm nó mấp máy như muốn nói, mắt thì hé mở rồi nhắm lại, hai hàng lệ rơi xuống ròng ròng. Các ngư phủ đều muốn giết chết. Ông thân tôi cản họ nói rằng: ‘Ta nghe nói dưới bể có thứ cá ông lão, hẳn con vật này đây. Đó là một thứ thần vật thiêng lắm, ai bắt được thì có phúc, không nên giết, chỉ nên đem thả xuống nước là hơn’.

Tất cả bọn đều cho lời thầy tôi là phải, bèn tha cho con quái ấy

Thầy tôi về nhà cũng chỉ qua loa kể chuyện lại, rồi không nghĩ đến nữa. Bỗng đêm ấy, về gần sáng, thầy tôi đương thiếp ngủ, chợt nghe có tiếng động, ngoảnh ra sân thì thấy một ông cụ già, râu tóc bạc phơ, khăn nhiễu áo lượt, bước vào chào hỏi. Ông lão, không đợi thầy tôi mời, vái thầy tôi rồi ngồi xuống kỷ, nói:

Ngày hôm nay cụ có từ tâm sinh phúc cho đứa con dại dột của tôi, vậy tôi xin lên đây tạ lại cụ. Tôi không có quà gì quý để báo đáp tấm lòng của cụ, chỉ có đồng tiền nhỏ này. Ngày mai đúng giờ Ngọ, cụ ra chơi bờ biển, tôi xin đem đồng tiền ấy lại dâng cụ, cụ vui lòng nhận cho. Nó là một của quý lắm, cụ nên giữ lấy. Về sau, nếu có ông quý nhân nào đi ngang qua vùng này, đòi mua nó, cụ sẽ đổi cho ông ta mà lấy năm trăm bạc. Chỉ nên lấy bấy nhiêu, không nên đòi hơn nữa. Song cốt nhất, nếu phải một người họ Võ mua thì hãy bán! Thôi cụ nghỉ nhé! Tôi là thần Hà Bá ở vùng này.

Nói xong, đã không thấy đâu nữa. Giờ Ngọ hôm sau, thầy tôi ra bờ bể, đương thơ thẩn, bỗng thấy một làn sóng to tát mạnh vào chân, ướt cả quần áo. Khi sóng rút xuống, trông trên mặt cát, thấy một đồng tiền bằng bạc nằm chơ vơ giữa đống bọt đục ngầu.

Cho đến ngày thầy tôi mất, di vật này vẫn giữ kỹ trong nhà. Trong khi hấp hối, thầy tôi dặn lại những nhời thần báo mộng. Tôi không tin, nhưng vẫn giữ vật báu này làm chút kỷ niệm của vong nhân. Tôi không muốn bán nó đi, dầu rằng túng thiếu, song le, chưa bao giờ tôi túng quá đến nỗi phải mang đồng tiền đi cầm cố: mà dù có cầm, cũng chả ai biết giá mà mua. Đến ngày nay, một sự tình cờ bắt tôi phải lìa bỏ kỷ vật của cha tôi để lại. Cách đây bốn tháng, cũng bởi một lúc rủi ro, nóng máu, tôi lâm vào vòng cờ bạc, thua mất hơn ba trăm, làm giấy vay nợ trả làm năm. Quá hẹn, không trả được: thu vét bòn mót trong nhà, còn độ vài trăm là cùng. Chỉ có cách cuối cùng là đem bán cái nhà gạch của cha mẹ tôi để lại từ thuở xưa, họa may mới yên ổn. Nhưng mà như thế thì nhục nhã quá: tôi là người có tai mắt trong hàng tổng hàng xã, lại có chút chức tước, bán nhà không khỏi trăm nghìn người trông vào, rồi dị nghị, rồi mai mỉa đến phải bỏ xử mà đi.

Tôi đương lo nghĩ băn khoăn, thì, may sao, ắt là tại trời run rủi, hoặc thần nhân tìm cơ hội, trả ơn cũ cho gia đinh tôi, con bé đĩ nhà tôi nó soạn rương hòm, bỗng thấy một đồng bạc văng ra, rơi xuống đất. Nó chưa từng thấy quý vật ấy bao giờ, vội vàng đưa ra hỏi tôi.

Tôi vừa kịp cầm lấy đồng tiền, còn đang ngắm nghía, ông cụ Hảo bạn của cha tôi thuở trước, ở đâu xồng xộc chạy đến, hớt hơ hớt hải, phều phào gọi tôi, bảo rằng: “Này, ông đội! Lão vừa nghe họ đồn trên phố có ông quan treo giải thưởng mua đồng tiền Vạn Lịch. Ngày còn sống, hình như ông Cai nhà ta sau thầy tôi làm Cai tổng có bắt được đồng tiền mô đó, có phải đồng ấy không? Nếu phải, thì đi ngay đi mà xem, còn đợi chi nữa!”

Tôi như người tỉnh ngộ, chợt nghĩ đến lời cha tôi dặn khi tắt nghỉ, mặc áo vấn khăn đi thẳng lên đây. Hỏi rõ các gia nhân của Ngài, mới biết, Ngài họ Võ. Tôi mừng lắm xin vào gặp Ngài ngay, song muốn biết chắc chắn là tôi không lầm chỗ bán, cho đúng lời dặn của Thần nhân, tôi phải hỏi lại đại danh cho kỹ lưỡng.

Tôi rất lấy làm lạ vì chuyện này tuần tự xảy ra như đã có Trời định trước, mà nhất là bởi hiện giờ, số tiền tôi cần, quả nhiên đúng năm trăm đồng như lời ông thần bể đã dặn. Bởi thế, tôi tin rằng cái duyên của Quan lớn và của tôi, thực không phải sự tình cờ tạo ra được! Thôi, xin lạy Quan lớn.

Người nhà quê, khi kể xong câu chuyện của anh, vội vã cáo biệt. Thầy em được đồng tiền bạc mừng lắm, đêm ngày không lúc nào không ngắm đi ngắm lại mà vẫn mải miết như thường. Cụ sai thợ làm một cái hộp nhỏ, lót nhung, bỏ quý vật ấy vào. Lại sai người nhà đi lục lọi mọi nơi, để lục cho kỳ được đồng tiền vàng còn thiếu. Nhưng tìm tòi khắp các vùng các xứ, trong ngót năm năm trời mà tâm tích đồng tiền đó vẫn không ai biết ở đâu. Thầy em dần dần cũng đâm ra buồn rầu chán nản. Câu chuyện đồng tiền, về sau chả ai nói đến nữa. Trong gia đình em, không người nào hiểu một tí gì về hành tung của thầy em cả; ai ai đều tưởng đồng tiền Vạn Lịch mua những năm trăm bạc kia chắc là của gia bảo; còn ngoài ra, nó có quan hệ gì mật thiết hoặc liên lạc gì thiêng liêng đối với cuộc sinh tồn của gia tộc nhà em, đến em em cũng không rõ, hai anh của em cũng vậy. Và, về mấy năm cuối cùng của đời thầy em, không thấy Cụ đá động đến câu chuyện đồng tiền nữa. Đã không hiểu đồng tiền ấy là thế nào, lại không thấy thầy em chú ý đến nó, cả nhà em quên bẵng hẳn nó đi. Rồi sau này, không ai nhớ rằng, một buổi sáng mùa hè, trong gia đình nhà họ Võ, một đồng tiền Vạn Lịch bằng bạc đã xen vào, ghi một dấu lịch sử cũ kỹ giữa một cuộc sinh hoạt bằng phẳng vô vị, lạnh lùng.

Thế rồi một buổi chiều kia tự nhiên chả bị bệnh tật gì, thầy em nằm thiếp đi, không bao giờ dậy nữa, từ giã hẳn cõi đời, chưa kịp trối trăng một lời nào cho vợ con cả. Vận đen rủi, bắt đầu từ ngày ấy, hình như theo đuổi giòng họ nhà em. Me em không biết thầy em mất đích vào giờ nào, chỉ e mất nhằm vào ngày xấu, giờ Tam Xà, nên sợ lắm. Lại thấy trong nhà sinh ra nhiều sự quái gở, me em càng tin rằng thầy em chết giữa giờ ‘hung’. Thầy em mất đi rồi, tập giấy chữ nho cụ tìm được ngày xưa, cùng là đồng tiền Vạn Lịch cũ mua được, tuyệt nhiên không thấy đâu, nó lẫn lộn trong những pho sách mọt hay bị thất lạc đi, cũng chả rõ. Trong khi tang trở; mẹ em có tâm nào nghĩ đến nó nữa! Còn em? Em lúc ấy đương ngây dại, chỉ biết cắm đầu, chăm học và khâu vá, ngoài ra, chưa chú ý đến một sự gì.

Nỗi đau đớn mất chồng, mất cha, me con em đương ngày đêm hoài bão, thì bỗng đâu, như những nhát búa nặng nề bổ xuống, liên tiếp nhau vất vào gia đình em không biết bao nhiêu tai nạn bất ngờ. Trong khoảng hai năm sau buổi thân phụ em tạ thế, hai anh em, rồi ba bốn đứa cháu em, rồi cô em, rồi bác em đều lần lượt quy tiên. Một cái tang chính đèo thêm đến chín mười cái tang phụ. Khăn trắng vấn đến mấy năm cũng chưa hết trở, nếu những nghiệt trái kia cứ tuần tự xảy ra. Nước mắt em, lúc ấy, không đủ để em khóc những kẻ thân yêu nhất của em, một sớm bị chôn vùi dưới đất. Em khóc lóc thương tiếc, tuy vậy, chưa lấy gì làm bi thiết; me em, đối với những thảm trang chôn con chôn cháu, còn héo gan héo ruột gấp mười em. Bởi lẽ rất thông thường là me em đã già, bị sự thống khổ nào thì cứ ngấm ngầm đau xót mãi; em thì còn trẻ, khóc một hồi nguôi ngoai cơn sầu não rồi quên phứt đi ngay.

Trời bẩm sinh ra em tánh vui vẻ, ưa hát xướng, cười đùa, em không thể tự ép lòng mếu máo một cách giả dối cho thiên hạ khen mình là người chí hiếu chí đễ được. Trông thấy me bao giờ cũng rầu rầu nét mặt, không hề nhích môi cười mỉm dù trong một cuộc vui, em đã khổ tâm lắm lắm. Huống hồ còn bắt em luôn luôn phải tạo lấy bộ mặt đám ma; không được hí hởn, tươi tỉnh, thì em còn khổ biết chừng nào! Nhưng may cho em, me em không phải là người hủ lậu. Cụ đau đớn bao nhiêu, đành chịu lẻ loi ôm riêng sự cay đắng của mình, không muốn cho ai, dẫu là con gái thân yêu, được chia sẻ nỗi cay đắng ấy. Có thế mà thôi đâu! Me em còn cố vui cho em vui, hết sức tận tụy mua cho em những khắc vui, để mặc em được tự do sinh hoạt, chả cấm đoán tí gì cả. Em mới hiểu lòng mẹ thương con gái, thực nó không còn bờ bến giới hạn nào. Hiểu như vậy em càng thương me, đêm ngày nghĩ kế làm cho cụ vui lòng, nhưng đều vô hiệu.

Bỗng, một ngày, ở trường học ra về, em được nghe một câu chuyện lạ. Một người bạn gái ngỏ cho em biết nhà chị có đón một ông thầy phù thủy cao tay về làm bùa yếm và đánh đồng thiếp. Em vội chạy một mạch đến nhà, tìm me em rồi hớt hơ hớt hải:

Me ơi! Đằng nhà chị Thanh có một ông thầy phù thủy biết đánh đồng thiếp. Hay me cho mời ông ta về mà cúng và để đánh đồng xuống hỏi thầy vì làm sao trong nhà ta lại sinh ra lắm biến cố tự nhiên. Me đón về, me nhá!

Nghe em nói, me em không trả lời ra làm sao cả, chỉ buồn rầu vuốt tóc em, ôn tồn nhủ rằng:

Được! Con cứ để yên me liệu.

Trong khi em đi học vắng, chả biết me em có đi hỏi dò ai về sự đánh đồng thiếp hay không em không rõ. Nhưng hai hôm sau, em vừa ở trường học về buổi chiều đã thấy bày la liệt ở giữa nhà khách một cái hương án trên bày các lễ vật và những mũ giấy.

Pháp sư là một ông già gần năm mươi tuổi, đầu hói, mắt sáng, ngồi chễm chệ giữa sập, trong phòng khách, bên cạnh hai người đạo tràng còn trẻ trạc hai mươi.

Đời em, từ trước đến nay, nó vẫn chạy theo một dịp nhẹ nhàng, êm ái. Em như muôn vàn người con gái khác theo học chữ Tây, không có tín ngưỡng gì cả. Nhưng bắt đầu từ ngày ông Pháp sư kia dắt hai đồ đệ của ông tới nhà em, bắt đầu từ ngày ấy, cuộc đời em bỗng biến hẳn, bỗng trôi theo một dịp mạnh mẽ và hoạt động; cho đến tính tình em cũng thay đổi, em hóa ra một kẻ tôn sùng Thần Phật ít ai bằng. Không phải em vừa nghe những thuyết không đâu mà đã vội tin ma quỷ; em sở dĩ ngày nay có một tín ngưỡng không mãnh lực nào lay chuyển được, là bởi, nhờ phù phép của ông thầy phù thủy cao tay kia em đã từng trải qua một cảnh ngộ tối lạ lùng bí hiểm, một cảnh ngộ không thực mà có, không hiện mà rõ, một cảnh ngộ vô lý mà bắt người khán giả phải tin, tóm lại, một cảnh ngộ không ở tại dương gian, mà ở chốn U Minh mờ ám.

Em xin kể rõ trường hợp kỳ dị ấy cho các anh các chị cùng nghe…

(Hết Chương 4)

Share this post