Đồng Tiền Vạn Lịch (Tiểu Thuyết Tiền Chiến – TCHYA) Chương 5 (Tiếp theo)

Đồng Tiền Vạn Lịch (Tiểu Thuyết Tiền Chiến – TCHYA) Chương 5 (Tiếp theo)

ĐỒNG TIỀN VẠN LỊCH
* Tiểu Thuyết Tiền Chiến – TCHYA
* Nam Quan Xuất Bản Cục tái bản (Hà Nội, 1953)

* Tiếp theo truyện KHO VÀNG SẦM SƠN. Để đọc những phần đã đăng, xin vào khung Search this site (Tìm Kiếm) và gõ tên tác giả: TCHYA.

CHƯƠNG 5
ĐỒNG THIẾP
(Tiếp theo)

Sự kỳ dị ấy khiến em hết sức ngạc nhiên cả đêm không làm sao ngủ được. Em cứ trằn trọc cựa mình suốt sáng, vừa thức vừa nghĩ ngợi thấm thía về lời nói của con đồng. Trong lòng em bán tin bán nghi, em cố moi óc em ra những thuyết đã từng học để cắt nghĩa nguyên nhân vụ đánh đồng thiếp. Nhưng, cắt nghĩa làm sao được. Em đành suy tính vẩn vơ không kết quả gì.

Có một điều làm cho em bứt rứt hơn hết là lời dặn cuối cùng của thầy em: “có điều gì quan trọng, sau này tôi sẽ bảo con em”… Thế ra thầy em có một chuyện muốn cho em rõ mà chưa tiện nói? Hai anh và các cháu em lại ngỏ lời cho em biết ở dưới Âm nhớ em lắm song không tiện dịp trở về. Nay nhân dịp sẵn thầy phù thủy, tự mình có thể ngồi đồng để xuống Âm phủ thăm cha, anh, cô, bác và các cháu, cớ sao em không liều làm thí nghiệm một chuyến, để xét xem hư thực thế nào? Đó sẽ là một cơ hội hiếm có để em có thể xét đoán một cách xác đáng về linh hồn được. Linh hồn quả có hay không?

Nghĩ đi nghĩ lại, em nhất định nói với me em xin vào ngồi đồng thiếp. Me em sợ lắm, nhứt là khi mục kích con đồng phải nằm chết cứng trong ổ đất, nên lại càng không nỡ để em chịu khổ sở như thế, cố sức cản ngăn, không cho em được như nguyện.

Em kêu gào than khóc, dọa đâm cổ tự tử, me em bất đắc dĩ phải chiều lòng. Em bèn năn nỉ ông thầy làm cho em được giáp mặt thầy em. Ông không ngần ngại gì cả, bằng lòng ngay, nhưng dặn em rất kỹ lưỡng rằng một khi đã nói chuyện với người chết xong rồi, không nên quấn quít ở chơi dưới cõi U Minh một phút nào cả, có theo đứng như lời ấy ông mới chịu cho em ngồi đồng, bằng không ông không đảm đương một việc hệ trọng đến tính mệnh một người con gái. Em nhất nhất xin vâng cả.

Tối hôm ấy, em tắm rửa sạch sẽ, ăn chay cẩn thận rồi vào ngồi giữa chiếu thờ.

Pháp sư cũng hát, cũng múa, cũng niệm thần chú như đêm hôm trước. Lúc đầu, em vẫn tỉnh táo như thường, thần trí vẫn định, không thấy gì cả. Nhưng dần dần, mũi ngửi mùi hương nồng hắc, tai nghe giọng hát buồn tênh, em đâm ra buồn ngủ. Lúc ấy, tâm thần hình như rối loạn, hai mắt nặng nề muốn nhắm lại, mở không được, đầu cũng choáng váng, tê mê. Em đảo lia đảo lịa, rồi ngã lăn ra, không biết gì nữa. Pháp sư khâm liệm em như khâm liệm người đạo tràng ngồi đồng hôm qua, cho khiêng em bỏ vào hồ đất, rồi ngồi bắt quyết, sai đồng.

Nhưng, chưa quen làm việc ở cõi Âm, tối đầu, hồn em cứ mù mịt, không biết đi đâu cả. Một chốc, không thấy cờ phất, Pháp sư lại giải cho em hồi lại. Em như đã ngủ một giấc no nê. Chung quy, vẫn không được việc gì cả. Em hỏi Pháp sư duyên cớ làm sao lại thế, ông nói:

Phàm giả người mới ngồi đồng, có khi phải thiếp đi đến năm sáu tối mới quen, lúc bấy giờ có gặp vong nhân nói chuyện mới rõ ràng, khi tỉnh dậy không quên gì cả. Cũng có kẻ ngay buổi đầu đi tới nơi tới chốn, nhưng khi về bị quên lú cả đi, cứ nhớ từng quãng một như sau khi tỉnh một giấc mê không tiền khoáng hậu.

Nghe nói thế, em cũng vững tâm, lại xin ngồi một đêm nữa. Me em, thấy em ngủ đi tỉnh dậy như thường, không xảy ra việc gì đáng ngại, nên đỡ lo, để mặc em tự chủ, không cấm như trước.

Tối sau, em lại thiếp đi, nhưng vô công hiệu. Đến tối thứ ba, em mới lờ mờ thấy phảng phất có người, có cảnh: hồn em hình như đã hơi quen với cõi U Minh. Nhưng cũng chả đi được bao xa, lại về ngay, nhập vào thân thể. Như thế đến sáu tối, em thực rất kiên tâm, mới đạt được sở nguyện.

Quả nhiên cứ dần dần, mỗi đêm sáng suốt thêm lên một ít, rồi đêm sau cùng, nhận rõ thấy mười hai cô nàng, hai ông sứ giả, cùng là cảnh vật xung quanh mình. Nhưng sự em được trông thấy thực quái lạ, nó đúng như lời người đạo tràng đã kể lại hôm xưa. Em cũng chả thấy mặt ông sứ giả bao giờ, mà cứ bị ông đẩy đi hoài đi hủy. Thấy kẻ qua đường bên mình, cố ý nắm họ lại không bao giờ được, thực là hết sức lạ lùng.

Tối hôm đó, rõ ràng em được thấy thầy em và những kẻ thân yêu của em đã thác. Em cảm động không sao kể xiết. Cha con, cô cháu, anh em, đương bị minh dương chia rẽ, mà bỗng chốc được trùng phùng, em mừng quá hóa tủi, ôm chặt lấy thầy em mà khóc. Hồi lâu, em mới gạt lệ, buông thầy em ra, xung quanh mình em em nhận được đủ mặt: Nào là bác Hàn, cô Phủ, nào là anh Huyện, anh Đốc, cùng các cháu em như thằng Hải, thằng Long, thằng Vân, thằng Thịnh, thằng Túc, thằng Tường, cho đến mấy đứa đầy tớ đã lâu ngày như thằng Lâm, thằng Trúc, bõ Bảo, u Vân. Cả nhà đoàn tụ một nơi vui vẻ quá. Em tung tăng chạy hết chỗ này sang chỗ nọ, nói chuyện với cả mọi người, chẳng biết mỏi mệt chút nào. Đợi khi hàn huyên đã chán chê, mãn nguyện rồi, thầy em mới gọi em lại, bảo ngồi trên ghế ỷ, bên cạnh anh Huyện, anh Đốc của em, rồi Cụ thong thả phán rằng:

Lúc thầy về, vì vội quá, có một câu chuyện quan hệ định dặn me con, mà không kịp trối trăng. Đã bao lần thầy định báo mộng cho me con hoặc con, mà vẫn chưa có cơ hội. Nay nhân con xuống thăm thầy, thầy tiện dịp chỉ rõ cho con biết, bởi câu chuyện này nó có liên lạc rất mật thiết, rất quan trọng với đời con. Con nên ghi nhớ. Khi thầy còn sống, ông có báo mộng cho thầy khiến thầy tìm trong hòm sách cũ được một tập gia phả của tổ tiên để lại từ sáu bảy đời về trước. Tập gia phả ấy có chép rõ sự tích của một bà cô chín đời họ Võ nhà ta, lấy chồng họ Nguyễn, chả may bị tình duyên trắc trở, nên thất vọng tự trầm mình xuống bể, ở Sầm Sơn. Bà cô đó, sau khi thác, làm chủ cai quản một kho vàng rất lớn bị chìm nơi bờ bể ấy. Được mười năm, ông chồng bà, họ Nguyễn, cũng theo bà nhảy xuống nước để được cùng bà vợ quý, lấy đáy biển làm mồ chung. Trước khi tự tử, ông có nguyện một câu rất linh thiêng ứng nghiệm: Ngày sau, ai có duyên, tìm được hai đồng tiền Vạn Lịch mà hai ông bà thủa trước vẫn đeo, đem ghép lại hai đồng ấy làm một ở trên tay, rồi đọc bài thơ tuyệt mệnh của ông, thì vong hồn cả hai ông bà sẽ hóa ra sóng lớn, đội kho vàng, giạt nó vào bờ bể cho mà lấy. Bởi thế, năm xưa, thầy có cho tìm kiếm hai đồng tiền Vạn Lịch. Thầy chỉ tìm ra được đồng bạc mà thôi, còn đồng vàng vẫn chưa thấy. Số thầy không được hưởng gia sản to lớn đó hóa nên thầy vội mất đi. Hai anh con cũng vậy. Gia tài ấy là phần con, con nên cố gắng lùng cho ra cả hai đồng tiền Vạn Lịch. Hai đồng tiền ấy tức là chùm chìa khóa mở cửa cho con để vào lấy kho vàng. Quyển gia phả và đồng tiền bạc, lúc thầy còn sống, thầy giấu kỹ lắm. Con về nhà, nên đào ở mé chân giường thầy nằm khi xưa, lật hòn gạch thứ năm về phía bên trái, rồi moi sâu xuống một thước ta, sẽ tìm thấy một hộp bích-qui con. Hộp đó đựng hai thứ bảo vật mà thầy để dành cho con đó. Nhưng cốt nhất con phải theo hai lời này: một là rất nên kín đáo, đừng nói cho ai biết cả, ngoài em con; hai là phải một niềm kính cẩn tin ở mãnh lực thiêng liêng của hai đồng tiền Vạn Lịch. Con không bao giờ nên phỉ báng thần thánh, không ngạo nghễ bắt chước những tụi trẻ ranh vô ý thức của giao thời. Con phải có tín ngưỡng vững vàng mới được! Sau khi con đã tìm được cả hai đồng tiền, con nên giở quyển gia phả ra mà xem con nhớ đừng đưa tập giấy ấy cho ai đọc cả con sẽ thấy một bài thơ ngũ ngôn. Bài thơ ấy, thầy đã thân chép ra chữ quốc ngữ cho con đó. Đời con sẽ vì đồng tiền Vạn Lịch mà có một kết quả hay, con phải cố ăn ở cho phải đạo, cho nhân đức, đừng nên làm những sự ám muội, vô lương. Đạo trời huyền bí lắm, thầy nói thế là đủ, sau này con nghiệm thấy sẽ biết. Có một điều cuối cùng thầy cần dặn con: Là khi đã bắt được cả hai đồng tiền rồi, ví như kho vàng dễ lấy, con hãy nên gắng sức mà tải lên; nhược bằng có sự gì cản trở, biết rằng khó chiếm được gia sản vĩ đại ấy, thì cũng không nên tiếc. Thôi con về đi. Thầy đã nói hết lời rồi đó! Con ở dưới này cũng khá lâu rồi, không nên chậm trễ nữa, nên về ngay đi kẻo muộn!

Thầy em vừa nói dứt lời, thì, phút chốc, em như bị một cái màng che mắt, mịt mờ không thấy gì nữa. Chỉ cảm thấy, lờ mờ xung quanh mình, sự vật như đã đổi thay mà hồn mình như đang phiêu diêu theo sứ giả vùn vụt trở về.

Lúc em hồi tỉnh lại, thấy trong người mỏi mệt lắm, bụng hình như đầy đầy mà cổ thì khô khan, khát nước lắm. Đầu sao nặng quá, mắt mở mà không cựa được. Me em và người nhà phải xoa dầu bóp thuốc mãi, em mới dễ chịu dần dần. Hỏi ra, em thiếp đi đã một ngày một đêm, Pháp sư và me em những tưởng “cháy đồng”, ai nấy đều cuống cuồng lo sợ. Pháp sư làm hết các thứ phép vẫn vô công hiệu, ông đã đinh ninh phen này ắt phải ở tù. Me em thì khóc ngấm khóc ngầm song không dám làm rầm lên, sợ rối lòng ông thầy, ông sẽ bỏ trốn thì nguy. May sao, đêm hôm sau, vào khoảng 11 giờ, lá cờ trên tay em bỗng thấy phe phẩy, rồi gõ bảy tiếng. Pháp sư cùng hai đạo tràng mừng rú lên, hú vía mãi; me em cũng mừng đến khóc; cả nhà đều xúm lại lôi em ra, rồi nào xoa, nào bóp, nào để thuốc, nào đánh gió, nào sát gừng, tưng bừng túi bụi cả lên. Nhờ thế, em sống lại.

Tỉnh rồi thấy trong người hơi dễ chịu, em bèn vùng dậy, chạy thẳng vào buồng đóng cửa lại. Cả nhà đều ngạc nhiên, song thấy em vô sự ai nấy đều mừng rỡ, còn mê mải bàn bạc trò chuyện để mặc em tự làm gì thì làm; họ ngồi chờ đợi xem em kể lại làm sao. Một mình một ngọn đèn, công việc của em là chép lại rõ ràng những sự em đã thấy và cốt nhất ghi những lời thầy em dặn. Xong đâu đấy, em cất kỹ giấy má đi, rồi trở ra. Em đòi ăn cháo cho đỡ đói. Bụng em, bị lạnh những hai hôm nhiễm khí đất, căng trướng lên. Em phải uống quế nó mới hạ xuống. Ăn cháo uống quế xong, em ngồi bịa ra một vài câu chuyện nói cho cả nhà nghe. Được biết họ hàng dưới Âm yên ổn cả, ai cũng vui vẻ. Em thuật lại những câu nhắn nhe của cô em, bác em và của hai anh em, còn câu chuyện gia phả và đồng tiền, thì tuyệt nhiên em không đá động đến.

Tối hôm ấy một mình với me em giữa một gian phòng tịch mịch, em mới tỉ tê nói rõ ràng từng li từng tí cho me em được tỏ tường. Rồi không đợi đến sáng mai, hai me con trở dậy, kì kạch lật hòn gạch thứ năm về bên trái ở dưới chân giường thầy em nằm khi còn sống, đoạn đào đất lên để tìm hộp bích-qui. Quả nhiên, lúc đào sâu độ một thước, mũi con dao đụng phải vỏ hộp. Từ buổi ấy, bao nhiêu lý thuyết khoa học các bà giáo chỉ cho em lúc trước, trong khoảng khắc, chúng nó tự nhiên biến mất hẳn, nhường chỗ cho tín ngưỡng đến hùng cứ tâm hồn em, đến làm chủ duy nhất của thần trí em.

Đấy, các anh các chị thử ngẫm xem: sau khi đã được kinh nghiệm một việc lạ lùng như thế, em tài nào không tin ở sự bất hủ bất diệt của linh hồn? Em tài nào còn tin được những thuyết lý vu vơ của mấy nhà khoa học Tây phương không có phúc hiểu được môn lý số?

Câu chuyện của em đến đây là hết, có bao nhiêu, em đã thực tình kể rõ bấy nhiêu cho hai anh và chị được nghe. Ngày nay hai anh vui lòng để lại cho em đồng tiền Vạn Lịch bằng vàng; thực cũng như trút đỡ cho em khối nặng đang đè nén lòng em, đạp đổ hộ em một sự khó khăn mà riêng em không biết bao giờ phá được, gánh đỡ giúp em biết bao công việc nặng nề. Hai anh đã làm cho em một sớm, chẳng tốn chút sức nào, nghiễm nhiên lên địa vị chủ nhân của cả hai đồng tiền Vạn Lịch, em nỡ nào còn tiếc rẻ khối tâm sự của em không cho nó ra ánh sáng, dìm mãi nó trong đáy gầm ký ức của em?

Hai anh đã giúp em việc tối cần, em rất cảm phục nên tạ lại bằng câu chuyện kín nhất của đời em đó! Đợi ngày được làm một “cô triệu phú”, em sẽ đền ơn hai anh một số tiền to. Khi nào em lại quên ơn, phụ lòng, các anh cho được?

Suzanne nói xong, tỏ ra vẻ tươi vui, mãn nguyện. Nguyễn Hữu Tề cũng cười hớn hở, lộ ra một thái độ rất lịch thiệp, tựa hồ anh mừng hộ cho Suzanne. Anh vồn vã hỏi nàng:

Nhưng, còn một sự cô chưa cho tôi biết. Là tại sao cô đeo tên “Số Một”, mà cô Tuyết Tiên lại “Số Hai”?

Suzanne cười ngạt nghẽo, nửa sung sướng, nửa lẳng lơ:

– Nào có sự gì lạ mà các anh phải quan tâm quá thế? Cách hai năm trước, có một cuộc chợ phiên ở bờ bể, hội đồng tổ chức treo giải thưởng, thi sắc đẹp, thi Ping Pong phụ nữ và thi cả áo tắm. Trong ba kỳ thi ấy, em may được chiếm giải nhất cả, còn chị Tiên thì chiếm giải nhì. Các chị khác, có chị được giải này, có chị được giải khác, nhưng không được ba lần trúng cả như hai em. Bởi thế, ở Sầm Sơn, ai ai cũng quen gọi em là “Số Một”. Nhân đó, chị Tiên được gọi là “Số Hai”. Dùng hai tên ấy để kỷ niệm cuộc vui năm trước. Em vẫn lấy thế làm tự hào lắm, nghĩ ra cũng trơ thật, nhưng thiên hạ đã bầu mình là một “hoa khôi” đẹp nhất, thì tội gì mà chả nhận, hả các anh?

(Hết Chương 5)

Share this post