Đồng Tiền Vạn Lịch (Tiểu Thuyết Tiền Chiến – TCHYA) Chương 5

Đồng Tiền Vạn Lịch (Tiểu Thuyết Tiền Chiến – TCHYA) Chương 5

ĐỒNG TIỀN VẠN LỊCH
* Tiểu Thuyết Tiền Chiến – TCHYA
* Nam Quan Xuất Bản Cục tái bản (Hà Nội, 1953)

* Tiếp theo truyện KHO VÀNG SẦM SƠN. Để đọc những phần đã đăng, xin vào khung Search this site (Tìm Kiếm) và gõ tên tác giả: TCHYA.

CHƯƠNG 5
ĐỒNG THIẾP

Nếu các anh các chị bảo em rằng không nên tin những sự dị đoan, em sẽ trả lời ngay: Không ở trong cảnh ngộ không tài nào biết chắc được. Em cũng biết văn minh ngày nay xu hướng về vật chất; nhưng điểm chân lý nào mà cách trí loài người chưa tìm được nguyên nhân, thiên hạ đều cho là giả cả. Nhân loại chỉ muốn đem triết lý và khoa học ra để phá tan tấm màn bí mật của Vũ trụ; vấn đề nào chưa giải quyết thì vẫn chưa tin là có, mà trái lại, còn muốn cãi cho là không có nữa.

Cũng như chị Tiên chả hạn. Chị mỉm cười nghe tôi nói đến chuyện mà chị lắc đầu chê tôi là tin bậy. Nếu chị là người Âu Mỹ, tôi không nói. Vì tín ngưỡng của chị là chỉ có cách trí mà thôi. Nhưng, chị, như tôi, như các anh đây, là người Á Đông, là kẻ đã có đọc qua Liễu Trai và Truyền Kỳ Mạn Lục, đã từng nghe các cụ già kể những chuyện rùng rợn gớm ghê, đã từng thấy các ông đồng bà cốt xuyên lình giài qua cổ họng!

Ông bà cha mẹ ta để lại cho ta một tín ngưỡng mà cách trí Tây phương không tài nào phá nổi. Hơn nữa, sự kinh nghiệm cho ta biết ông bà ta không phải vô lý mà tin là có quỷ thần. Nếu các anh các chị ở chỗ rừng thiêng nước độc trở về, em dám chắc các anh các chị không có bộ mặt hí hởn dửng dưng làm vậy.

Em, mắt em đã thấy, tai em đã nghe; mà em nói câu chuyện này, không phải không biết một tí gì về tinh thần học. Chính em, em đã để tâm sưu tập không thiếu báo tây, sách tây, chép những chuyện ly kỳ về ma quỷ, hoặc bàn tán về những vấn đề thần học cao siêu.

Càng thầm hiểu đạo lý bao nhiêu, tín ngưỡng của em càng mạnh. Cái ngày bắt đầu em có tín ngưỡng ấy, em mới mười lăm tuổi. Me em sở dĩ nghe em đón mời thầy phù thủy về nhà là bởi trong lòng cứ có một điều lo lắng ngấm ngầm không thể giải ra được. Điều lo lắng ấy tức là nỗi e ngại mắc phải vạ diệt môn. Trong khoảng hai năm, mười người trong tộc đảng nhà em lần lượt nối nhau chết cả. Nguyên do sự biến cố ấy có lẽ là thần trùng. Hoặc giả thầy em mất đúng giờ Tam Xà mà không ai biết? Bởi thế, me em mượn nhờ pháp sư đánh đồng thiếp xuống âm phủ hỏi thầy em cho rõ rệt, ngõ hầu tìm cách làm bùa trừ trùng sát quỷ để bảo tồn lấy giống nòi.

Thoạt đầu tiên, em chả hiểu đánh đồng thiếp là thế nào cả. Mà em thì không tin các sư dị đoan. Nghe các bạn gái nói đánh đồng thiếp có thể chuyện vãn với người chết được, em cũng muốn thử xem có đúng hay không. Sau nữa, thấy me em luôn luôn âu sầu vì nỗi thương chồng thương con, em có tính bày đặt ra sự cúng tế để me em bận rộn, họa chăng khuây khỏa chút nào. Bởi các lẽ ấy, lần đầu trong đời em, em được mục kích một cuộc đánh đồng thiếp. Sự đánh đồng thiếp, đứng ngoài mà nhìn, thì không có gì đặc biệt cả, nó cũng tầm thường như mọi sự cúng tế khác, chỉ là ở kết quả của nó mà thôi.

Các anh các chị hãy tưởng tượng một gian phòng rộng rãi, thắp đèn sáng choang, chính giữa bày một chiếc bàn cao, trên bàn có ba chiếc mũ bằng giấy mã lóng lánh những mặt kính, tráng kim và các bông hoa sặc sỡ. Hai ngọn nến lớn thắp hai bên, trên hai con hạc, ở giữa, một mâm bông hoa quả đầy tràn. Từng dưới vài chiếc mũ con, một mâm xôi, một con gà, lư hương, đỉnh trầm và các đồ thất sự.

Dưới đất trên chiếc chiếu cạp đỏ, ông thầy cúng ngồi giữa một cái tráp và một cái cối đá to. Bên kia chiếu, một anh đạo tràng vừa ê a vừa ngồi gõ trống chuông inh ỏi. Giữa chiếu, ba tấm vải trắng giải hình chữ thập. Trong hai gian phòng hai bên, người nhà ngồi xem đông đúc, chả khác gì một dám hội hè.

Anh đạo tràng tay gõ mõ, tay gõ khánh, mồm đọc bài thỉnh chư vị thánh thần. Giọng đọc “ối à, ối a” nghe dài dằng dặc như hôm trời mưa dầm, buồn thỉu buồn thiu như cơm nguội. Chỉ thoáng nghe những tên Gia Cát Khổng Minh, Tề Thiên Đại Thánh, Phật Tổ Như Lai, Quan Âm Bồ Tát…

Trong lúc đạo tràng thỉnh thánh, pháp sư vẫn điềm nhiên ngồi vuốt râu mép, không nói năng gì. Khi thỉnh xong, ông từ từ đứng dậy, lấy vài nén hương cháy cầm trong tay, đoạn bước vào giữa chiếu. Ông cầm bó hương vẽ bùa, lại theo hình bát quái, lấy chân đạp các ngôi sao trên mấy tấm vải giải hình chữ thập; đi đến đâu ông vẽ bùa khoán đến đấy mà mồm thì đọc thần chú lâm râm.

Khi Pháp sư ở trong chiếu bước ra, một người khăn áo chỉnh tề bước vào ngồi chính giữa mấy tấm vải trải dọc ngang theo hình chữ thập. Mặt người đó phủ một vuông nhiễu đỏ, tay trái hắn buộc một lá cờ đỏ và một quả chuông. Đó là con đồng. Con đồng ấy vào ngồi thẳng thắn giữa chiếu nhìn lên bàn thờ. Ông thầy lúc bấy giờ ngẩng đầu, chăm chú trông vào mặt con đồng, hai tay ông vờn qua vờn lại trước mặt nó như con sư tử vờn quả cầu đùa bỡn. Nếu ta nhận kỹ, ta sẽ thấy tay trái ông bấm bản mệnh mà tay phải ông thì cầm một bó hương. Bấm bản mệnh nghĩa là tính đốt ngón tay lấy đốt chỉ tuổi con đồng, rồi ngón tay cái bấm chặt đốt ấy từ lúc bắt đầu phụ cho tới khi con đồng tỉnh hẳn mới được bỏ ra. Ông thầy nào nhãng ý quên bấm bản mệnh, có khi con đồng thiệt mạng, hoặc xảy ra nhiều chuyện bất tường.

Pháp sư trợn mắt nhìn người ngồi đồng một cách dữ dội, hình như đem hết nghị lực của tinh thần ra để thôi miên người đó. Ông ta vừa múa vừa đọc một bài văn để đánh ngã đồng. Giọng đọc vẫn như giọng chầu bà Chúa Thượng Ngàn, lơ lớ tiếng Mường, nghe lạ tai và hùng dũng.

Mồm tuy đọc văn nhưng tay thì chỉ vào mặt đồng, Pháp sư hết sức chú ý thôi miên, vỗ tay và bắt ấn để bắt đồng phải ngã.

Mùi hương bát ngát, mùi hoa dịu dàng, giọng hát Pháp sư lại khi khoan khi nhặt, con đồng bỗng đảo lia đảo lịa, còn ông thầy thì quỳ hẳn lên, bắt khoán mà hô rằng: “Đánh, đánh nữa, đánh nữa đi”. Một khắc sau, con đồng nằm thẳng cẳng trên chiếu giãy một lúc như người giãy chết, rồi nằm yên tựa tượng gỗ, cứng đờ. Nếu lúc đó, ta lại sờ người hắn ta sẽ lấy làm lạ vì người hắn lạnh buốt và thân thể hắn cũng đét như xác chết đã ba ngày.

Con đồng vừa nằm xuống, Pháp sư vội vàng chộp ngực nó, rồi vội vã nâng cối đá lên cho nắm tay vào. Xong, ông đẩy cối đá xuống, lấy hương khoán cho một đạo bùa lên trên. Trong cối đá, bấy giờ, bảy phách của kẻ ngồi đồng bị bắt giam rồi đó. Lúc nhốt phách rồi, Pháp sư và đạo tràng lấy ba tấm vải hình chữ thập bó con đồng lại như liệm người đi chôn. Bó rõ chặt, buộc rõ cứng, rồi thiên hạ đem khiêng người chết giả đó bỏ xuống một cái hố đất vuông mới đào, trên có phủ chiếu uốn cong như tùm hum. Thực chả khác gì khăm liệm một cái thây ma rồi đem đi chôn vậy.

Công việc yên ổn, Pháp sư vào ngồi chễm chệ đốt vàng tạ thánh rồi bắt đầu sai đồng làm việc ở Âm ty. Bác đạo tràng lại phải “ồi à, ối a” ngồi hát nhăng hát cuội để ru hồn đi cho êm ái.

Con đồng nằm chết đứ đừ trong hồ đất, thế mà chả biết tại sao ngọn cờ buộc ở tay nó bắt đầu phe phẩy nhịp nhàng. Đó là hiệu của hồn trong lúc đi đường tìm một người mà Pháp sư sai đến hỏi chuyện.

Về phần Pháp sư, ông ngồi rất điềm tĩnh tự nhiên không lo lắng gì đến con đồng nằm cứng đơ trong ổ đất cả. Ban ngày ông đã dặn kỹ me em, nếu muốn hỏi thầy em chuyện gì, thì cứ việc biên chép câu hỏi vào một lá thơ, bằng chữ nho hay bằng quốc ngữ cũng được. Bấy giờ ông mang lá thơ ấy ra vẽ bùa lên trên, rồi đốt đi. Và luôn thể, đốt một tập vàng hồ lấy tiền làm lộ phí cho sứ giả.

Xong đâu đấy, ông lại ngồi yên trầm ngâm không nói gì. Thỉnh thoảng hút một điếu thuốc lào nhưng trong lúc cầm đóm lấy thuốc, ngón tay cái bấm bản mệnh cho con đồng vẫn bấm chặt xuống một đốt trên ngón tay trỏ, không hề buông ra lúc nào. Bởi lẽ, khi quên bấm bản mệnh, hồn con đồng sẽ lạc mất, không về nhập vào xác được; trong nghề gọi thế là “khê đồng” hay “cháy đồng”.

Lá cờ buộc ở tay người đạo tràng dùng làm vật thí nghiệm, từ lúc anh ta vừa bị đánh mê đi, đặt vào ổ đất, vẫn cứ phe phẩy, nhẹ nhàng. Song từ buổi đốt lá thư và vàng mạ, lá cờ ấy bỗng gõ ba tiếng (hiệu nhận được giấy) rồi tức thời phất rõ mạnh, rõ nhanh. Đó là hiệu của đồng khi xuất hành, đi tìm mộ. Xa đi lâu, gần đi nhanh, cũng như trên cõi dương gian. Tìm được mộ rồi, lúc tới nơi, lá cờ đứng lại, gõ một tiếng, xong, bặt đi, không rung chuyển nữa. Pháp sư ở trên này hiểu rõ là lúc ấy hồn đương nói chuyện với vong nhân. Nói chuyện xong, trở về, cờ lại phất mạnh như khi đi, cho tới khi về đến nhà thì gõ bảy tiếng, nghĩa là đến nơi rồi; chỉ cho nhập xác. Nếu có sự gì cản trở, hồn không đi được, cờ cũng đứng dừng. Pháp sư chỉ việc trông lá cờ là biết hiệu, làm phép, niệm chú và bắt quyết để giải thoát cho đồng. Nếu Pháp sư không cao tay, chẳng may để “khê đồng” mà không có cách gì cứu chữa, thì khó lòng người ngồi đồng sống sót được mà về.

Nghe bảy tiếng gõ của cán cờ nhịp nhàng nện trên sàn ván, Pháp sư chống tay ngồi vụt dậy giục bác đạo tràng ngồi thỉnh thánh và người nhà em vực con đồng ra để trên giường. Người ngồi đồng lúc ấy vẫn cứng đờ như người bị thôi miên trong thời kỳ “catalepsie”, Pháp sư phải đem dầu và quế bóp cho gân thịt hắn mềm lại, xong, cạy răng đổ nước gừng nóng vào mồm. Hồi lâu con đồng như chợt tỉnh sau một cơn ảo mộng rõ dài, dần dần mở mắt và cựa cậy. Anh ta ngồi dậy, chạy ra rửa mặt cho tỉnh táo, đoạn sửa khăn áo chỉnh tề, vào ngồi chững chạc giữa chiếu, bắt đầu kể lại những sự anh ta đã thấy dưới Âm ty.

“Bẩm Cụ lớn, các cô cùng các cậu, khi chúng con vào ngồi đồng thì thấy dần dần đầu váng nặng rồi tâm thần hóa ra bất định, cứ từ từ mê man đi. Bấy giờ hồn phiêu diêu thoát khỏi thần thế, bán âm bán dương không được thấy gì là rõ rệt. Một lúc, thấy mình đứng ở ngõ nhà, có hai ông sứ giả mặc áo vàng, người rất cao to, đẩy vào vai bảo đi. Đi thì cứ biết đi, song không tài nào biết được mặt ông sứ giả nào cả. Chỉ nom thấy tà áo hai ông bay phất phới ra mé trước, áo màu vàng, chỉ cảm thấy hai ông cao lắm, to lắm; thế mà muốn quay lại, thì cứ hình như bị một mãnh lực gì đẩy về mé trước không cho ngoảnh đầu trông lại phía sau lưng.

Lúc ra đi, nhìn phong cảnh lờ mờ như dưới bóng trăng non, có nhiều người đi lại, gồng gánh ngang đường như ở trên dương thế. Họ đi nhẹ nhàng như chân không bén đất; muốn dừng lại nói chuyện với họ thì hai ông sứ giả cứ đẩy đi, mà muốn nắm áo họ thì họ lọt tay mình như mây như khói, không làm sao nắm được. Chỉ thấy thoáng xa xa bóng thướt tha kiều diễm của mười hai cô nàng rất xinh, ăn mặc rất mỹ lệ. Các cô vận quần áo thượng du, sặc sỡ đủ màu, trông đẹp mắt lắm. Đó là thập nhị tiên nương, đi trước đưa đường. Đạo của Pháp sư dạy là đạo Sơn Trang thờ thần muông. Bởi thế, bao giờ cũng có 12 nàng dẫn lối.

Trong khi đi, có lúc qua đồng qua áng, có khi lần suối trèo đèo, qua đền qua phủ. Qua đền hoặc phủ lại phải dừng trình giấy thông hành, một lúc mới được đi. Đi mãi một hồi lâu, mới tới một chốn phồn thịnh đông đúc như thành thị. Dưới âm thì trông thấy nhà cửa vui vẻ chi chít, song trên trần chính là một bãi tha ma. Nhà cửa đó là mả người chết. Có nhà to nhà bé, nhà ngói, nhà gianh, có nhà cao to vững vàng, có nhà lụp xụp đổ nát. Nhà nào có vẻ đẹp đó là ngôi mộ ấy được đất, vong nhân có con cháu thờ phụng đốt vàng đốt mã cho luôn. Nhà nào trông tiều tụy, tức là vong hồn không có ai thờ tự. Nhà nào lụp xụp vắng vẻ không có người, tức là vong hồn đã đầu thai. Kẻ kia theo đạo Gia-tô, thì thấy mặc toàn đồ trắng.

Bẩm Cụ lớn cùng các cô các cậu, bấy giờ thập nhị tiên nương đưa con đến một tòa nhà tây to lớn, vững chải, mé ngoài có đề bốn chữ: “Quý bạch biệt viện”. Tới nơi, sử giả gọi cửa, rồi đẩy con đi vào. Qua một thửa vườn rộng bát ngát, con mới bước tới một cái thềm bằng cẩm thạch, trèo mãi, trèo mãi, rồi mới giáp mặt cụ lớn ông. Cụ ngồi trên một chiếc sập sơn son thiếp vàng, giữa một phòng khách trang hoàng rất mỹ lệ. Cụ trông trạc thất tuần, râu tóc ngài bạc phơ như sương tuyết, song người còn quắc thước anh vĩ lắm. Hai mắt ngài sáng quắc như điện. Ngài mặc một chiếc áo lương, trông rất nho nhã. Sau lưng ngài, có hai người đứng hầu, một người gầy đen, ngoài 40 tuổi, một người trắng trẻo và linh lợi, trạc 20 tuổi. Lúc con vào đến nơi, thấy Cụ gọi:

Lâm! Châm thuốc!

Người trắng trẻo vội đánh diêm hầu điếu, trông khi người gầy đen đương quạt, dừng tay lại, đứng chờ. Trong phòng khách thấy nhiều người lắm. Mấy người đó đều ngồi ở các ghế ỷ bật sát tường, chỉ có hai người ngồi trên ghế bành kê giữa nhà, mé ngoài sập hai bên án thư. Hai người đó, một người bận âu phục màu xám, một người mặc áo sa đeo thẻ ngà. Người mặc tây vẻ mặt tuấn tú khôi ngô, mới độ non 30 tuổi; người đeo thẻ ngà hình dáng nhã nhặn, ăn nói dịu dàng, trông chừng 40 tuổi.

Con vào hầu Cụ ông, đưa trình lá thư. Cụ mở thư ra đọc, rồi trao cho ông mặc áo sa. Đoạn, Cụ vuốt râu cười ha hả, nói bằng một giọng sang sảng:

Mẹ chúng mày rõ lắm chuyện, việc gì cũng lo lắng, để tâm. Đến số thì về, chứ ma quỷ nào bắt nổi!

Rồi cụ quay sang phía con:

Thầy làm ơn về bảo với bà nhà nó rằng chỉ do một duyên nghiệp rất huyền diệu mà trong họ Võ nhà tôi mười cái tang liên tiếp nhau xảy ra. Đó không có gì lạ cả, cũng không phải tại Thần trùng đâu, đừng nghĩ xằng như vậy. Bao nhiêu con cháu tôi, chết đi, lại được tụ họp vui vẻ ở dưới này, cha con ông cháu gặp nhau, không sót mặt nào cả. Đây, thằng cả nhà tôi, làm Tri huyện, và thằng hai nhà tôi, thi đỗ bằng Bác sĩ y khoa. Hai cháu cùng theo tôi xuống đây, cả lũ này nữa là cháu gọi tôi bằng ông. Còn đây là em gái tôi, lấy chồng ở miền duyên hải, đây là bà chị tôi…

Cụ ông nói chưa dứt lời thì ông Cả, người mặc áo sa, đeo thẻ ngà, đứng dậy đi lại phía tôi:

Bác về trên ấy, xin nói giùm với me chúng tôi rằng dưới này vô sự, yên ổn cả. Me tôi đừng nên suy nghĩ vẩn vơ mà hao tổn tinh thần. Đợi khi nào đúng ngày đúng giờ, anh em chúng tôi và các cháu sẽ lên đón me tôi cùng về luôn thể. Bác lại làm ơn báo em tôi rằng nên cố gắng thờ mẹ cho có hiếu, bọn anh em tôi trông cả vào cô đó. Thầy và hai anh nhớ cô lắm, song ít khi có dịp về thăm được.

Ông cả nói xong, lại về ngồi trên ghế. Con kính cẩn hỏi Cụ ông:

Bẩm lạy Cụ lớn, thế Cụ có nhắn gì nữa về cho Cụ bà hay không ạ?

Cụ ông ngẫm nghĩ một lúc, truyền rằng:

Kể ra, thì cũng có một lời nhắn gửi bà nhà nó. Nhưng thôi. Thầy cứ về nói rằng tôi không có chuyện gì dặn cả; nếu có điều gì quan trọng, sau này tôi sẽ bảo con em…

Bẩm Cụ lớn, các cô và các cậu, con nghe đến đây thì cáo từ lui gót theo hai ông sứ giả trở về. Trong khoảnh khắc đã về tới nhà. Đến ngõ bỗng thấy tối tăm mù mịt, rồi lại mê muội đi, không nhận rõ hai ông sứ giả nữa, cũng không có cảm giác gì nữa. Lúc hồi tỉnh lại, đã thấy mình nằm trên giường, lộn về dương thế”.

Người ngồi đồng nói xong đứng dậy. Câu chuyện đồng thiếp đến đây là hết. Me em sai đưa ra một bức ảnh toàn gia cho người ấy xem, anh ta nhận đúng được mặt thầy em, hai anh em và các cháu em, toàn những người đã khuất, không sai một ai cả. Em lấy làm kinh dị lắm, kinh dị nhất khi nghe con đồng kể rõ được tên từng người một, từ tên mấy đứa cháu con anh Cả anh Hai em cho đến tên thằng Lâm, thằng Trúc, là những đứa ở chết từ mười mấy năm rồi. Theo lời anh ta nói, anh ta đã được thầy em giới thiệu cho từng người một, trong khi hầu chuyện ông Cụ ở dưới Âm.

(Còn tiếp Chương 5)

Share this post