Hậu Chuyện Kể Năm 2000 (Tiểu Thuyết – Bùi Ngọc Tấn) Chương 6

Hậu Chuyện Kể Năm 2000 (Tiểu Thuyết – Bùi Ngọc Tấn) Chương 6

HẬU CHUYỆN KỂ NĂM 2000 THỜI BIẾN ĐỔI GIEN
* Tiểu Thuyết – Bùi Ngọc Tấn
* Tủ Sách Tiếng Quê Hương xuất bản (Virginia, Hoa Kỳ, 2015)

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục “Search this site” (Tìm kiếm) và gõ tên tác phẩm: Hậu Chuyện Kể Năm 2000.

CHƯƠNG 6

Trong quá trình biến những ý nghĩ thành ngôn từ, tôi tự nhủ: Hãy hoàn toàn tự do. Thế mà nhiều lúc người vô hình vẫn ám ảnh trong tiềm thức. Khi thấy ông ta xuất hiện, tôi kiên quyết gạt ông ta đi ngay. Bình tĩnh. Cứ viết. Viết không nhằm mục đích in. Không làm văn chương chữ nghĩa. Hãy viết thật chân thực, giản dị. Và cẩn thận. Đừng để bị đi tù một lần nữa. Bởi vậy hãy viết sao cho không ai cãi được. Để khi đọc người ta thấy ngay đây là sự thật, một sự thật không thể bác bỏ hay bắt bẻ. Để chính ngay quan tòa cũng không thể buộc tội được mình (*).

(*) Tôi nghĩ đến tòa án và cho rằng bây giờ nếu có bị bắt lần nữa chắc là được xử, và tôi sẽ đấu tranh để được ra tòa chứ không phải nhận một tội nhẹ chưa đến mức xử mà chỉ “ưu tiên tập trung cải tạo”.

Cho nên tôi không quan tâm đến hình thức mà người ta vẫn gọi là thi pháp của quyển tiểu thuyết và quên luôn những thứ trào lưu như hiện đại, hậu hiện đại, hiện sinh, hiện thực, hiện thực xã hội chủ nghĩa… và cả chủ nghĩa hiện thực huyền ảo đang rất được các nhà văn Việt Nam ngưỡng mộ. Với tôi, số một không phải là văn chương mà là một sự thật chuẩn xác, không bôi đen mà cũng chẳng tô hồng. Để những người hôm nay đọc, thấy mình trong đó. Để lớp con cháu sau này đọc, biết rằng đã có một thời như thế. Còn hình thức của quyển truyện, vẫn gọi là phần nghệ thuật, nó phụ thuộc vào nội dung. Nó phải chuyển tải được những điều tôi muốn nói với người đọc. Tôi nghĩ trong khi ở nhiều nước người ta chỉ nghĩ viết như thế nào thì chúng ta còn đang ở những bậc thang tít cùng bên dưới. Điều quan trọng nhất lại là viết về cái gì. Tôi không thể trông đợi trên cho phép tôi viết về cái gì, mà tự mình giải quyết điều sơ đẳng ấy, bởi tôi nghĩ tự do là do mình giành lấy, chứ không phải ngồi chờ ban phát. Còn về mặt cấu trúc, văn chương, chữ nghĩa… nó phụ thuộc vào chuyện viết về cái gì. Viết như thế nào luôn phụ thuộc vào viết về cái gì. Về nghệ thuật, tôi sẽ cố gắng hết mình, đạt tới cái trần của mình như một nhà thể thao chuyên nghiệp khi thi đấu.

Tôi đã quên. Khi cầm bút viết, tôi mới biết mình đã quên rất nhiều. Thì tôi vào đầu bằng câu: Có những việc tưởng không bao giờ quên. Thế rồi hắn quên...

Có sao viết vậy. Thế thôi. Ngay khi viết xong mấy câu đầu tiên, tôi cảm thấy mình có thể tiếp tục quyển tiểu thuyết với giọng điệu này và sẽ thành công.

Với tôi, câu mở đầu rất quan trọng. Nó quyết định toàn bộ cách kể, giọng điệu kể sau đó cho tới hết quyển truyện. Không những thế, nó còn định vị thời điểm kể, định vị bố cục câu chuyện, định vị thái độ, tình cảm người kể. Câu đầu tiên của tôi đã xuôi, những câu sau cứ theo cùng một giọng, giọng kể rủ rỉ tâm tình về một câu chuyện đã qua. Nó hợp với tính cách tôi, hợp với nội dung câu chuyện của tôi. Tôi đã mở được cánh cửa để những chi tiết theo nhau vào trang giấy.

Và Kiên ơi! Hẳn Kiên chẳng thể ngờ rằng trong khi viết, rất nhiều lần mình nhớ về nhà tù một cách tuyệt vọng. Mình khao khát làm sao, một khát khao được sống lại những ngày ấy, được lê bước từ Vườn – Ngoài trại QN ra suối tắm. Được sột sệt lá sắn non. Được nghe anh tù người Nghệ An hát ví dặm trong đêm sơ tán B.52 ngoài lán trại VQ. Được nhìn thấy Sơn đứng như trời trồng trước cửa nhà mét, mắt mở to thôi miên ngọn đèn dầu đặt trên bậu cửa, khói tỏa ám vào tường như một bó hoa đen mà nhớ đến một câu của Marx: “Vả lại không có hoa mầu đen trong các loài hoa” và lẩm bẩm một mình: “Marx hãy vào đây với tôi. Có hoa mầu đen đấy, Marx ạ. Đó là thứ hoa dành cho những người khốn nạn nhất trên thế gian này.

Hoặc chỉ một lần nhìn thấy đồi sắn lá héo nẫu, tôi bên này luống, Nguyễn Văn Phổ bên kia luống sắn xới xới băm băm. Nhìn thấy con đường vào trại QN, sát toán lò vôi, nơi ấy rẽ vào một chút, qua con suối là tới nghĩa địa tù, những chiều Thứ Bẩy người đi tiếp tế nườm nượp. Biết làm sao. Tôi đã là một ông già. Người già thường hay nhớ về tuổi trẻ của mình. Mà tôi chỉ có một tuổi trẻ ấy thôi.

Cũng phải nói thêm về cái nhân xưng ngôi thứ ba Hắn mà tôi viết. Nó đã có trong Người ở Cực Bên Kia in trên Văn Nghệ. Hình như trong văn học sau cách mạng, tôi và Nguyễn Minh Dậu là những người đầu tiên dùng từ Hắn và từ Thị không với ý khinh miệt, lên án, mà để nói về những người đáng thương kể cả đáng kính trọng, một nhân vật chính diện chứ không phải phản diện, không phải một kẻ thủ ác mà một nạn nhân. Có thể ai đó đã viết về Hắn trước tôi nhưng chắc chắn tôi là người triển khai Hắn một cách toàn diện nhất, Hắn với những người bạn của Hắn, những Hắn khác trên nhiều mặt bằng, khẳng định sự tồn tại của rất nhiều Hắn hình thành cả một tầng lớp Hắn trong xã hội vẫn được coi là không có bi kịch, ưu việt tốt đẹp nhất này. Sau này trong quyển tiểu thuyết tự sự Thượng Đế Thì Cười, Nguyễn Khải cũng dùng từ Hắn để nói về mình, tôi cứ nghĩ vơ vào rằng ông Khải đã bắt chước tôi.

Trí nhớ tiếp tục làm việc. Người, việc, ngày, tháng, năm tiếp tục kéo về. Cả những câu nói rất đặc trưng như một thành ngữ: Tù nói tội nghe. Cá nhân tác chiến cá nhân bành… Những câu này mang đến bàn viết của tôi cả một thế giới, kéo về cả một quãng đời, một không gian sống, làm tôi vừa sung sướng vừa nổi da gà như đang trong cơn sốt rét.

Và tiếng thở dài của rừng sâu. Tiếng thở dài ấy tôi nghe rõ lắm. Trong một buổi đi lấy lá làm phân xanh, tôi đứng núp sau một lùm cây ngoài bìa rừng, nhìn ra nghĩa địa tù. Đó là một gò nhỏ ven suối, trơ sỏi, mọc cằn cỗi mấy gốc mua. Những nấm đất con con – dấu vết còn lại của những mộ tù. Đi làm đồi, làm nương, chúng tôi vẫn đi qua, chẳng có gì đáng để ý. Nhưng hôm ấy đấy là nơi đặc biệt. Xìn Cắm (tôi giữ nguyên tên Xìn Cắm trong Chuyện Kể Năm 2000) – có bộ râu và nụ cười trẻ thơ giống hệt Hemingway trong bức tranh Thọ Vân vẽ tặng tôi trước khi tôi đi tù – người thợ lò bát Móng Cái, người Hoa mãi võ từng thí võ ở Hà Nội không chỉ tặng tôi cái nắp ca mà còn cho tôi một miếng cao đòn khi tập võ mầu xanh thẫm, óng ánh như có rắn rết bên trong để tôi dán vào ống chân bị đau khi khiêng đá đắp đập ngăn suối. Xìn Cắm “một người đôn hậu và tuyệt diệu” chết đã được mấy ngày.

Vợ con Xìn Cắm đã vào trại từ tối hôm trước, ngủ ở nhà gặp mặt của trại. Khu nghĩa địa tù có một cái mả mới đắp vuông vức to lớn, đất núi đỏ au. Mộ của Xìn Cắm. Và bây giờ trước mắt tôi, vợ, con, cháu Xìn Cắm chít khăn tang đang bầy những mâm, những xôi, những thịt, những hoa quả lên mộ rồi thắp hương cắm lên mộ Xìn Cắm và cắm lên những mô đất xung quanh, những ngôi mộ hàng chục năm rồi không được một nhát cuốc sửa sang, đắp điếm, những mô đất như đang từ chối không chịu nhận mình là mộ. Rồi tất cả trở về ngồi quanh mộ Xìn Cắm, gục đầu yên lặng. Không một tiếng khóc. Chắc họ tuân theo những điều ông quản giáo đã dặn dò: Ra thăm mộ nhưng không được khóc!

Cho đến bây giờ tôi vẫn nhìn rõ cảnh ấy.

Cảnh một đám người bụi bậm, tơi tả, chít khăn tang gục đầu quanh ngôi mộ đỏ au, kể cả một cháu gái chừng sáu, bẩy tuổi mặc áo hoa đỏ cũng gục đầu im lặng rất lâu như người lớn. Ông quản giáo đi theo dường như không muốn nhìn cảnh ấy, bước tới ruộng lạc gần đấy, ngắm đất, ngắm trời vơ vẩn.

Tôi lắng nghe. Đúng là không một tiếng khóc nào phía trước mặt. Nhưng sau lưng tôi bỗng có tiếng thở dài. Tôi giật mình quay lại. Không có ai. Chỉ con suối hun hút trôi trong rừng rậm. Nhưng tiếng thở dài nghe thật rõ. Trầm. Là là mặt đất. Hun hút vào rừng. Tôi còn được nghe một lần nữa tiếng thở dài ấy của rừng. Trong buổi chiều một mình ở Vườn – khi nghe tiếng chim còn khổHắn đã nghe.

Những chi tiết ấy đột ngột đến, không hề nghĩ tới, bất chợt loé sáng, vút tới từ cõi mù mờ thẳm sâu của ký ức làm tôi sung sướng lạ lùng – đau khổ khi nó trở về với người tù, sung sướng khi nó trở về với người viết, và bây giờ tôi đang là người viết. Nó tiếp thêm niềm tin cho tôi, tiếp thêm quyết tâm cho tôi để tôi thức đêm, để tôi có thêm sức khoẻ ngồi bệt xuống sàn, còng lưng trên chiếc ghế xa-lông gỗ gõ tới hai, ba giờ đêm rồi sáng ra trở dậy, ăn vội mấy gắp mì gia công chua lòm hay lưng bát ngô xay rồi nghiêng người xách xe xuống thang, đạp tới xí nghiệp. Hơn thế, nó còn gọi theo những câu chuyện khác, những chi tiết khác về với cái đầu tham lam của tôi.

Tôi viết rất nhanh. Năm 1990 tôi còn đang đi làm. Công việc thi đua năm ấy khá nhàn. Nó có vẻ hơi khuya. Người ta không thiết thi đua nữa. Người ta gọi tôi là Nhà Thua Đi. Vả lại viết tin bảng đen và phát thanh tin tức trong xí nghiệp với tôi không phải là khó khăn. Tôi hay đọc thầm câu thơ Vladimir Mayakovsky mỗi khi ngồi bàn, lụi cụi viết tin thi đua: Những việc này con rận cũng làm xong.

Rỗi là tôi viết tiểu thuyết. Tôi có thể viết bất kỳ ở đâu. Ngay tại bàn làm việc của tôi mỗi khi vắng sếp. Lên phòng công đoàn. Phòng công đoàn bao giờ cũng có người đi cơ sở hay lên Liên Đoàn Lao Động thành phố. Nghĩa là bao giờ cũng có một cái bàn, một cái ghế trống và tôi có thể ngồi vào đó. Ai cũng tưởng tôi viết báo cáo thi đua, viết tin phát thanh hay đang chuẩn bị thay tin mới trên bảng đen. Chẳng ai nhòm vào xếp giấy trước mặt tôi xem tôi viết cái gì. Mọi người vốn ngại đọc. Cùng làm nghề phong trào, anh em công đoàn rất thông cảm với tôi. Lê Xuân Thủy, phó chủ tịch công đoàn biết tôi trốn lên viết văn, càng tỏ vẻ chăm sóc tôi hơn: Khi chén trà, khi điếu thuốc… Ở nhà, tôi viết về đêm, viết trong những ngày lễ, ngày chủ nhật. Như thời còn làm báo trước đây.

Mùa hè năm 1990 ấy thời tiết rất nóng. Một mùa hè nóng bỏng. Tôi phải lấy nước mát trong tủ lạnh – cái tủ lạnh của vợ chồng Hải Yến chuyển vào sinh sống tại Sài Gòn chưa mang đi được – hoặc hòa những viên đá với nước lã trong xô rẩy lên sàn nhà, rẩy lên bàn ghế một lúc rồi mới lau. Không làm như vậy, chẳng thể chạm vào thứ đồ gỗ nào trong buồng. Chạm vào là rụt tay lại.

Thời ấy điện là thứ xa xỉ. Chỉ có một tí vào buổi tối nhưng cũng cách nhật. Điện hầu như chỉ thực hiện một chức năng nhiệm vụ để mọi người không quên xử dụng công-tắc – như cách nói của Nguyên Bình. Và làm người ta nhức nhối thần kinh khi từ nhà mình quạt nan phì phạch tối thui mồ hôi ròng ròng, con khóc ời ợi, muỗi vo ve bên tai, nhìn sang những nhà ưu tiên có điện sáng trưng quạt máy vù vù, cát-xét oang oang, fi-dơ làm đá chạy suốt ngày đêm như nhìn sang một hành tinh khác, chứng kiến cuộc sống một loài sinh vật cao đẳng dù họ chỉ là một cán bộ ủy ban, một chủ tiệm giải khát hay một hộ làm nghề uốn tóc, một anh làm tòa án, một anh thuộc Sở Điện Năng vẫn thường được mọi người gọi bằng cái tên đầy “tình cảm”: Sở Điên Nặng.

Tôi thắp đèn dầu ngồi viết. Sáng ra rửa mặt, ngoáy mũi, khăn mặt đen sì vì khói dầu. Không điện nghĩa là không quạt. Mồ hôi rỏ giọt xuống bản thảo. Chân tay dính bết. Không sao. Tôi không phe phẩy chiếc quạt nan mà ngồi lì cả tiếng đồng hồ trên sàn trước ngọn đèn dầu và xếp giấy trắng. Viết văn với tôi giống một công việc khổ sai. Lại cũng giống như thi đấu thể thao. Phải căng hết sức ra luyện tập. Kiên trì ngày này sang ngày khác. Không được lười. Có đến một vạn lý do để tặc lưỡi gác công việc lại. Thành tích là từ những nỗ lực rất nhỏ. Không phải tự nhiên mà đạt được tới cái trần của mình. Ở xí nghiệp, tôi có bàn để viết. Còn về nhà, bàn viết của tôi là cái ghế xa lông gỗ gõ tôi gửi anh em tầu cá mua từ Hố Nai chở ra, niềm tự hào một thời của gia đình tôi, nó làm sáng cả căn buồng. Tôi ngồi bệt xuống sàn lim. Tôi thó vài chục tờ giấy Bãi Bằng của xí nghiệp đem về nhà. Tôi viết bằng bút bi – cũng của xí nghiệp phát. Tôi miệt mài cặm cụi tới khuya. Vợ tôi buông màn nằm ngủ dưới sàn ngay sau lưng tôi. Khi thức, phe phẩy quạt cho tôi. Rồi thiếp đi. Nửa đêm chợt tỉnh, thấy tôi vẫn lụi cụi cắm mặt vào xếp giấy, vừa quạt cho tôi vừa cằn nhằn:

– Đi ngủ thôi bố nó. Mai còn đi làm.

Cũng có lúc còn bực bội vì lo cho sức khoẻ của tôi:

– Viết gì mà lắm thế. Còn chưa đủ hay sao.

Với chúng tôi, viết văn là đại hoạ. Thực tế đã xẩy ra như vậy. Giờ đây cho dù đã có nhiều thay đổi nhưng vẫn còn đó bao hiểm nguy bất trắc khôn lường.

Tôi chỉ cười bảo vợ tôi cứ ngủ đi và vẫn ngồi viết. Thấy vợ thở đều đều, tôi yên tâm. Tôi viết mà luôn nghĩ chỉ vì cái công việc hâm hâm này, gia đình tôi đã chịu biết bao tai họa. Tôi viết mà luôn nghĩ rằng mình là người có lỗi. Thật đúng nghiệp chướng mình đã trót mang. Cũng may, Sở Công An không cho người đến thăm hỏi lục vấn tôi về chuyện tôi sáng tác nữa. Ngày tôi mới đi làm được ít lâu – một việc ông Trần Đông và Sở Công An quyết ngăn cản nhưng không được vì sau lưng tôi là ông Hoàng Hữu Nhân – rất nhiều lần các ông công an trên sở, trên quận và cả anh hộ tịch nữa đến tận nhà thăm sức khoẻ tôi, hỏi tôi bằng một giọng rất khó diễn đạt. Như thân mật, bỗ bã, lại như hăm doạ:

– Anh sắp viết tiểu thuyết phải không?

Tôi sợ hãi chối đây đẩy. Như  người ta đang ném bã rượu lậu, ném thuốc phiện vào nhà mình.

Người ta sợ tôi viết văn lắm.

Cái thời tôi còn đi tù, vợ tôi bị gọi lên tra hỏi, và ông Quang – còn có tên gọi là Quang Diệm – trưởng phòng bảo vệ văn hóa Sở Công An đã nhiều lần nói thẳng với vợ tôi như thế này:

– Chị đừng tưởng anh Tấn nhà chị còn được cầm bút viết văn nữa! Đừng mơ hồ như vậy! Không ai cho anh ấy viết! Chị hãy tin lời tôi. Hãy nhớ lấy điều ấy!

Câu ấy đồng nghĩa với câu: “Anh Tấn nhà chị được sống đã là tốt lắm rồi!”. Đó là phán quyết của Cách Mạng, của Sắt Thép, của Đảng, của Thượng Đế, là tiếng nói của quyền sinh quyền sát. Đâu phải hăm doạ. Là lời Đấng toàn năng, là sức nặng của toàn bộ bộ máy chuyên chính vô sản đè lên thân phận một kiếp giun dế nhỏ mọn đang quằn quại. Là số phận đã được định đoạt, là sự thật được báo trước và chỉ có một con đường quy phục.

Vợ chồng tôi đều thích nghe những lời thẳng thắn. Con dao hãy gọi là con dao. Đừng gọi là thập toàn đại bổ. Tôi nghĩ khi nói những câu ấy, ông Quang tin là trật tự xã hội của các ông sẽ tồn tại mãi mãi. Một trật tự xã hội của các ông, những ông Trần Đông, ông Quang, ông An Mặt Ngựa và rất nhiều ông khác có toàn quyền cho ai sống người ấy được sống, bắt ai chết người ấy phải chết, các ông an nhiên sống trong quyền lực vô biên cho đến hết đời, cho đến vĩnh viễn mà không ai dám đụng đến lông chân, ngay khi những cái lông chân của các ông đã biến thành cát bụi.

Chả cứ người nắm giữ quyền lực như ông Trần Đông, ông Quang, ông An cùng với quan thầy của các ông. Ngay những người bị các ông giầy xéo đầy đọa, chúng tôi cũng nghĩ như vậy. Lòng đầy phẫn uất nhưng nhìn vào cả một hệ thống các bầu trời, chúng tôi tự nhủ thôi thì cố chịu đựng cho qua một kiếp. Kiếp này không thay đổi thì kiếp sau sẽ phải thay đổi.

Các ông – và cả chúng tôi nữa – đâu ngờ cuộc đời rồi cũng đã thay đổi, hơn nữa, thay đổi bất ngờ đến thế. Và cái ông Quang Diệm ấy đã nói về những việc ông ta làm với tôi như thế này khi thời thế đổi thay, khi Chuyện Kể Năm 2000 đã được nhiều người đọc dù đã có quyết định thu hồi tiêu hủy:

– Dạo ấy không làm thế tôi cũng chết.

Cứ cho là như vậy. Mà đúng là như vậy.

Cái dạ dày bắt ông phải làm. Nhưng sao ngày ấy ông – cũng như ông An, ông Trần Đông – hãm hại tôi, khủng bố tôi khi tôi đã ra tù, khi tôi đã được đi làm, một cách mẫn cán, tỉ mỉ và quyết liệt thế? Cũng may hôm nay ông chỉ thanh minh cho tội ác, chứ không khoe mình từng có những tư tưởng dân chủ tiên phong và nâng cấp mình lên bậc nạn nhân.

Người ta sợ tôi viết. Không chỉ sợ tôi viết truyện ngắn truyện dài, mà sợ tôi viết bất cứ thể loại nào. Đâu phải chỉ chuyện tù. Ai dám nghĩ  đến viết chuyện tù vào những năm 70, 80, khi tất cả vẫn được vận hành theo một nếp từ Việt Nam cho tới Trung Quốc, Liên Xô, Hung, Tiệp, Lỗ…, tới tận bức tường Berlin. Riêng với tôi, viết cái gì cũng là không được. Dù viết ngợi ca cũng là sự hồi sinh của một xác chết. Nó phải chết hẳn. Nó không được sống lại. Nó sống lại thì lôi thôi lắm. Vì nó nhắc mọi người đến cái chết bất đắc kỳ tử của nó. Không biết khi đã gượng ngồi dậy, khi bước được những bước loạng choạng đầu tiên rồi, nó sẽ còn bước tới đâu. Mà chỉ riêng chuyện tôi viết trở lại thôi cũng là điều có thể ảnh hưởng tới uy tín, sự sáng suốt công minh của những Đấng rồi. Không chỉ một Đấng. Nhiều Đấng lắm. Đấng nhỏ, Đấng to, Đấng trung, Đấng đại, Đấng toàn năng là tất cả nhưng không là ai cả. Nhất là việc tôi viết ngợi ca. Ngợi ca chứ không chửi bới bất mãn. Chửi bới bất mãn lại tốt. Dễ vạch mặt. Dễ nói là thằng ấy phản động từ trong bản chất. Bắt nó là hoàn toàn chính xác. Đã có rất nhiều cái mũ chờ sẵn để úp lên đầu tôi. Ngợi ca, ca ngợi mới phiền… Đích thị là cái cớ để người ta bàn tán về tôi, nhắc tới tôi, và từ đó nhắc đến những ngày gian lao của tôi.

Thế nhưng trong những năm tháng ngặt nghèo và đói nghèo ấy, những năm 70, 80 ấy tôi vẫn viết. Tất nhiên viết bí mật, viết chui, ký tên khác. Một vài cái bút ký về xí nghiệp tôi. Còn chủ yếu là viết tin. Gửi báo Hải Phòng, cơ quan cũ của tôi. Bởi vì bộ tứ (*) xí nghiệp – giám đốc, đảng ủy, công đoàn, thanh niên, gọi tắt là Đảng, Chính, Công, Thanh – ai cũng biết tôi đã làm báo và giao nhiệm vụ cho tôi, ngoài tin tức nội bộ phải viết tin thi đua gửi đăng báo.

(*) Tôi yêu cái tên “bộ tứ” này lắm vì nó là sản phẩm của một thời, một chế độ, một chủ nghĩa, một đường lối quản lý con người, vận hành xã hội, nó bám chặt và in dấu chàm lên cuộc đời mỗi chúng ta.

Tôi viết tin về các tầu đánh cá khắc phục khó khăn hoàn thành vượt mức chuyến biển, về anh em công nhân sửa chữa tầu, về phòng cung tiêu chạy vật tư và tiêu thụ sản phẩm. Ký Đào Công Ty, tên người trưởng phòng của tôi, một người từng làm cơ yếu nhiều năm, tính tình cực kỳ chất phác. Vì cũng phải có một cái tên tác giả. Để còn ra bưu điện lĩnh nhuận bút. Mà ông trưởng phòng Đào Công Ty rất đứng đắn đáng tin, không lo ông ấy nẫng tay trên (nhuận bút ít thôi, một đồng rưỡi một tin, nhưng mười tin đã là mười lăm đồng rồi). Đấy là chưa kể cứ có tên Đào Công Ty trên báo là tất cả các vị trong bộ tứ biết ngay rằng tin đó tôi viết. Tôi đã hoàn thành nhiệm vụ. Giảm độ khắt khe trong cái nhìn đối với tôi nhất là khi tôi xuống tầu xin cá.

Thế mà cái việc viết tin đăng báo ký Đào Công Ty của tôi cũng xẩy ra hai chuyện bất ngờ. Tôi những tưởng mình không bao giờ còn bất ngờ về việc gì nữa. Đã có những bất ngờ nghĩ là tận cùng rồi nhưng vẫn còn những bất ngờ khác, những bất ngờ bất ngờ hơn thế chờ đợi mình. Đời luôn là những bất ngờ. Vậy thì hãy sẵn sàng chờ đợi những bất ngờ mới sắp đến, sẽ đến. Bởi cuộc sống này không bao giờ hết bất ngờ, cuộc sống này luôn xảy ra những điều vượt xa sức tưởng tượng của con người.

Bất ngờ thứ nhất là báo Hải Phòng không đăng bất cứ tin nào tôi viết nữa. Dù ký Đào Công Ty hay ký tên nào khác. Dù Nguyên Bình, khi ấy còn làm phóng viên báo, đã cẩn thận chép lại những tin tôi gửi rồi mới đem nộp biên tập, nhưng ông tổng biên tập chắc là do bỗng thấy xuất hiện một thông tín viên mới toe ở xí nghiệp đánh cá, viết tin đều đặn, có chất lượng, hội đủ yếu tố cấu tạo tin tức, rồi lại biết tôi được về xí nghiệp đánh cá làm thi đua, hoặc vì một lý do nào khác mà tôi không biết – chẳng hạn như Sở Công An có ý kiến sang – ông bảo Nguyên Bình cho xem bản gốc. Ông nhận ra chữ tôi – trước đây ông ta với tôi cùng làm phóng viên với nhau. Tin tôi viết không được dùng nữa.

Bất ngờ thứ hai từ ông Quang – vẫn ông Quang – trưởng phòng bảo vệ văn hóa và từ mấy ông công an khác (*).

(*) Thời gian này ông Quang đã cho con trai vượt biên sang Mỹ và tôi cho rằng đây là việc làm đáng khen duy nhất trong cuộc đời ông. Đáng khen ở chỗ ông chửi Mỹ rất ghê, và việc ông cho con vượt biên sang Mỹ chứng tỏ ông thành thật: Ông yêu Mỹ. Không được sống ở Mỹ thì ông cho con ông vượt biên sang Mỹ. Ông chẳng mấy tin ở cái chế độ mà ông là một hàng chức sắc, đang hưởng lộc và ra sức bảo vệ.

Ông Quang và các cán bộ của ông nói với rất nhiều người về tôi: Thằng Tấn vẫn bất mãn lắm. Nó ký Đào Công Ty. Có nghĩa là Đì Công Tao.

Tôi không kêu trời nữa. Chỉ ngơ ngác tự hỏi: Sao các vị ấy không viết tiểu thuyết nhỉ. Một phẩm chất của người viết tiểu thuyết là trí tưởng tượng. Những vị ấy là bậc thầy về trí tưởng tượng, những người mang trí tưởng tượng siêu phàm. Có những tác giả mang một trí tưởng tượng bất kham (chữ của Paustovsky) như vậy chắc chắn nền tiểu thuyết của chúng ta sẽ sang trang. Các vị không viết tiểu thuyết mà lại làm công an là tổn thất lớn cho văn học nước nhà. Một tổn thất không gì bù đắp nổi.

Chưa hết. Vẫn còn một chuyện. Hôm ấy là Chủ Nhật. Tôi có việc phải đi làm ở xí nghiệp. Trèo lên trèo xuống mấy mái nhà sắp bị phá đi xây lại, để mắc lại loa truyền thanh. Lê Xuân Thủy, phó chủ tịch công đoàn trực xí nghiệp hay bận việc gì đó cũng có mặt, dường như thấy tôi mồ hôi mồ kê leo trèo vất vả, động lòng thương, đã rỉ tai cho tôi biết một dư luận về tôi:

– Em nói với bác chuyện này. Bác phải tuyệt đối bí mật, không được nói với bất kỳ ai. Trên an ninh làm việc với lãnh đạo xí nghiệp về bác. Họ bảo bác lập ra Nhóm thơ Xa Lông. Cho nên bác phải hết sức cẩn thận.

Tôi choáng. Vã mồ hôi. Đứng lặng. Gáy lạnh. Đây mới thực là điều nguy hiểm đến tính mạng. Tôi có thể vào lại nhà tù bất kỳ lúc nào về cái nhóm thơ Xa Lông này. Nhóm thơ Xa Lông là một tổ chức rồi. Một tổ chức có tên gọi hẳn hòi rồi. Giống như “Nhóm chống Đảng” mà ông Lê Đức Thọ nói khi ông cho bắt các ông Đặng Kim Giang, Vũ Đình Huỳnh, Hoàng Minh Chính… cùng với mấy người bạn tôi: “Từ bất mãn cá nhân, chúng đi đến bất mãn với Đảng. Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã, bọn chúng tìm đến nhau. Thế là có tổ chức mà không có tổ chức, không có tổ chức mà lại là có tổ chức. Tinh vi lắm. Nhưng không che mắt nổi nhân dân đâu!” (*)

(*) Tôi đã đưa vào Chuyện Kể Năm 2000 (tập 2) lời nói khủng khiếp này của ông Lê Đức Thọ trong hội nghị cán bộ trung cao cấp giải thích việc bắt các ông Vũ Đình Huỳnh, Hoàng Minh Chính, Đặng Kim Giang… một câu nói khóa miệng mọi người, một câu nói khiến ai cũng cảm thấy mình là người tù dự bị, có thể bị bắt bất cứ lúc nào.

Không chỉ vậy, tôi còn là người đứng đầu tổ chức vì tôi là người lập ra. Mà nhóm thơ của tôi chắc chắn bao gồm toàn những kẻ bất mãn mã tầm mã ngưu tầm ngưu, gặp nhau để đọc thơ chửi chế độ. Chao ơi! Tôi hiểu. Lơ lửng trên đầu tôi là thanh gươm Damoclès. Từ ngày được ông Hoàng Hữu Nhân cải tử hoàn sinh, cho về Quốc Doanh Đánh Cá Hạ Long làm thi đua, tôi có đọc thơ bao giờ đâu. Ở đây làm gì có bạn thơ. Mà cũng quên tiệt thơ rồi. Về đây gần gũi những người hằng ngày phải đối mặt với khó khăn về thời tiết, về áp thấp nhiệt đới, về bão, về gió mùa, về thiếu phụ tùng sửa chữa, không có dầu đốt dù chỉ tiêu của mình còn, ammoniac cũng thiếu, cá nục lại chưa thấy xuất hiện, về những chuyến đi biển dài ngày, ngắn ngày vừa kết thúc, tôi chỉ nghĩ làm sao xin được cân cá và mang lọt ra khỏi cổng bảo vệ, chứ đâu có nghĩ đến chuyện đọc thơ. Lại càng không thể có một nhóm thơ xa lông trong xí nghiệp. Nhóm xin cá văn phòng thì có. Chúng tôi hay đi xin cá theo từng nhóm cho đỡ ngượng! Xin cá. Và hỏi chuyện. Để viết tin. Rồi với thói đam mê nghề cũ giờ đây có đất sống đã thoi thóp lại, hỏi chuyện đời, chuyện nghề sông nước. Hỏi và ghi chép. Cũng cựa quậy trong đầu một quyển tiểu thuyết hiện thực xã hội chủ nghĩa ngợi ca đấy. Nhưng thơ thì không. Xin thề với ông Trần Đông (*), xin thề với ông Quang Diệm, ông An Mặt Ngựa, với các ông công an là không. Tuyệt đối không.

(*) Ông này cũng họ Bùi với tôi đấy, Trần Đông chỉ là bí danh thôi, theo cái mốt ai cũng có bí danh của những năm đầu cách mạng tháng Tám. Từ đấy tôi mới có một định đề là: Giết một thằng họ Bùi phải là thằng họ Bùi, hại một cha Nghệ Tĩnh phải là dân Nghệ Tĩnh.

Nhưng biết thanh minh với ai bây giờ? Gặp ai? Gặp ai để giải tỏa mối hiểm nguy này? Thôi! Thây kệ! Sự thật thế nào mọi người đều biết. Tôi có một cố bệnh là tin vào sự thật. Đến chết tôi cũng vẫn tin vào sức mạnh của sự thật. Nhưng buồn. Rất buồn. Vì người ta nhất quyết đẩy mình sang hàng ngũ “tội phạm phải đặc biệt theo dõi” với những thủ đoạn vu cáo, bịa đặt nham nhở trắng trợn, bẩn thỉu đê hèn, ngậm máu phun người như vậy.

Đấy là chuyện đã qua. Ngày hôm nay đã khác. Những người theo dõi tôi là những người mới. Một thế hệ mới.

Viết đến đây tôi thấy rợn hết cả người khi nghĩ đã có mấy thế hệ theo dõi tôi, săn đuổi tôi, vu cáo tôi. Họ đã già đi. Đã về nghỉ, hưu trí an nhàn. Nhiều người đã chết. Một thế hệ khác tiếp tục việc theo dõi. Rồi một thế hệ tiếp theo nữa. Đời này sang đời khác. Tất cả đều là Gia-ve. Những Gia-ve với lòng dạ đen tối, không phải tìm sự thật mà chỉ nhăm nhăm hãm hại người lương thiện.

(Hết Chương 6)

Share this post