Hậu Chuyện Kể Năm 2000 (Tiểu Thuyết – Bùi Ngọc Tấn) Chương 7

Hậu Chuyện Kể Năm 2000 (Tiểu Thuyết – Bùi Ngọc Tấn) Chương 7

HẬU CHUYỆN KỂ NĂM 2000 THỜI BIẾN ĐỔI GIEN
* Tiểu Thuyết – Bùi Ngọc Tấn
* Tủ Sách Tiếng Quê Hương xuất bản (Virginia, Hoa Kỳ, 2015)

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục “Search this site” (Tìm kiếm) và gõ tên tác phẩm: Hậu Chuyện Kể Năm 2000.

CHƯƠNG 7

Viết văn là việc không thể giấu được, bí mật được hoàn toàn. Thế nào cũng phải thổ lộ với ai đó. Khoe với một người bạn thân về một chi tiết, một trang mới viết nào đó… Sự trao đổi ấy — một hình thức sáng tác miệng — trong khi cao hứng dễ thăng hoa và bất chợt nghĩ ra những chi tiết mới, vụt đến một ý, một sự phát triển, một cách giải quyết tuyệt vời mà khi bắt đầu ba hoa với bạn, anh chưa hề nghĩ tới. Rồi sự gợi ý của bạn bè. Chỉ nguyên việc lắng nghe, đôi mắt long lanh, nụ cười tán thưởng của bạn đã là nguồn động viên sáng tạo, nguồn sức mạnh để mình hăng lên, để mình tự tin, kiên nhẫn bò từng dòng từng chữ. Và những lời khuyên của bạn. Những lời khuyên và cả những chi tiết nữa. Hứa Văn Định bảo tôi:

– Phải viết được cái hỏng của những người tù khi đã được tự do.

Anh lấy tay vỗ vỗ lên đầu, nói tiếp: Hỏng cái này này!

Hoàng Ngọc Thanh, người anh con bà cô tôi còn cung cấp cho tôi các chi tiết về những tù nhân được tha bị hỏng cái đầu mà anh biết. Nguyễn Xuân Khánh đưa ra những lời khuyên mang tính chỉ đạo, quán triệt:

– Viết về tù khó đấy. Có hai đề tài khó viết vì người ta viết mãi rồi, viết quá nhiều rồi. Đó là tình yêu và nhà tù

Lê Bầu không khuyên tôi điều gì. Anh rất khoái những chi tiết của tôi. Hình như anh đã kể cho nhiều người nghe chuyện hút thuốc lào đêm trong tù. Anh tù báo cáo vu vơ: “Tôi Nguyễn Văn Tuấn số tù CR 880 dậy hút điếu thuốc” thì một anh tù khác đang nằm vùng dậy ngay “báo cáo tôi số tù… dậy bắt cái tóp của anh Tuấn”.

Tôi hình dung ra tiếng cười sảng khoái hồn nhiên của Bầu. Rồi tôi được nghe chính tiếng cười ấy về “vụ” hút thuốc lào đêm. Ấy là một lần tôi lên Hà Nội, đến nhà Bầu. Anh đang tiếp một người bạn. Vị này nhắc lại câu chuyện hút thuốc lào ấy với anh mà anh đã kể cho anh ta nghe như nhắc lại một chi tiết “rất sướng”. Bầu cười ngất và chỉ vào tôi: “Đây, chính ông bắt tóp đây. Ha ha ha…”

Có việc lên Hà Nội tôi cũng mang theo xếp giấy đang viết dở. Đến nhà Bầu, những lúc anh nấu cơm, tôi giở bản thảo ra sửa, viết và đọc cho anh nghe. Tuy chỉ nghe lõm bõm nhưng Lê Bầu đã khoe với nhiều người trong đó có nhà văn nữ Hoàng Ngọc Hà giám đốc nhà xuất bản Hà Nội và vì vậy tập sách suýt nữa được xuất bản từ năm 1994 (*).

(*) Cho đến khi bản thảo hoàn thành, Lê Bầu đọc và khuyên nên cắt bớt cái truyện ngắn Vợ Chồng Người Thợ Xóm Chiêu Thương đi cho đỡ dài, dễ xuất bản, tôi đã nghe theo, một việc sau này tôi thấy không nên làm, nên tôi đã khôi phục lại cùng với việc khôi phục bản gốc trong lần báo Người Việt (California) in feuilleton năm 2009, gửi cho dịch giả Tây Hà để ông dịch sang tiếng Pháp năm 2013, và đầu năm 2014 một fan của tôi (anh Nguyễn Chí Cư) bỏ tiền in 200 bản tuyệt đẹp chỉ để tôi tặng bạn đọc và những người thân.

Tôi viết. Và gần như không có thời gian nghỉ. Những năm 90 ấy, tôi còn duy trì được một năng lực làm việc khá tốt: Hoàn toàn tập trung vào công việc dù chung quanh có ồn đến mấy. Sự hoàn toàn tập trung nhiều khi kéo dài suốt buổi cho dù viết ngay ở xí nghiệp. Tôi cắm mặt viết. Mặt tôi nặng ra, máu dồn đỏ ửng, đến nỗi khi ngừng việc từ phòng công đoàn trở về phòng mình, ông chánh văn phòng, sếp trực tiếp của tôi tưởng tôi vừa uống bia ở căng-tin.

Tôi viết. Cực nhọc, say mê và khoẻ ra. Dù công việc hút toàn bộ tinh lực và tâm trí. Dù rất nhiều đêm tắt đèn rồi còn trằn trọc, còn vấn vương suy nghĩ cho tới gần sáng. Những gì vón cục trong óc, trong tim được trải trên những trang giấy đã có một độ dầy làm tôi nhẹ đi, yêu đời hơn (*).

(*) Tôi nghĩ nếu tôi còn sống được đến hôm nay khi đã 80 tuổi một phần là nhờ những ngày đó, tôi đã cố gắng viết xong tập tiểu thuyết của đời mình, nếu không, có thể tôi đã mắc bệnh ung thư di căn bởi cứ ôm mãi những oan trái trong lòng không được vợi bớt, không có người chia xẻ.

Tôi muốn hoàn thành nó càng nhanh càng tốt. Như người bắt đầu đặt chân lên con đường dài mà đích còn xa lơ xa lắc, ao ước nhìn thấy nơi kết thúc. Viết trang này chưa biết trang sau. Đang viết chương này cứ biết kéo cho xong đã. Tôi viết không có bố cục nào định trước. Viết và nhớ dần. Có khi hết một đoạn mà tôi đánh dấu bằng ba ngôi sao hay một khoảng cách, nghĩa là hoàn chỉnh một sự phát triển rồi, lúc ấy cái ý của chương sau mới đến.

Cũng có khi chương sau lấp ló sớm hơn, vào lúc còn ở giữa chừng, tôi mới chỉ nhìn thấy đoạn kết thúc của chương trước. Nó vụt đến kéo theo cả câu mở đầu. Câu mở đầu một chương quyết định nội dung, định vị thời gian và cách kể chương ấy như câu mở đầu quyển truyện định vị nội dung, thời gian và cách kể toàn bộ tập sách vậy. Thật thú vị bởi tôi thường viết xong câu mở đầu của chương tiếp theo rồi mới buông bút nghỉ. Thời gian nghỉ ấy — có thể là một vài ngày, một bữa bia hay chỉ một hai tiếng đồng hồ — tôi nghĩ thêm, nghiền ngẫm thêm, gọi về thêm những chi tiết khác. Chắc nhiều nhà văn giống tôi: Có những lúc đầu óc mụ mị, băn khoăn vật vã không thể viết tiếp thì bỗng một ý, một câu, một từ, một chi tiết không hề nghĩ tới loé sáng vụt đến, sang trọng, đúng chỗ, sâu sắc… khiến mình phải quẳng bút, ngồi lịm đi trong yên lặng, sung sướng như người vớ được… vàng.

Tôi viết theo kiểu cố lia cho xong cái phác hoạ. Giống người nặn tượng, với đống thạch cao nguyên liệu, anh ta phải tạo được một dáng hình tổng thể đã. Rồi ngắm nghía. Đến gần ngắm nghía. Lùi xa ngắm nghía. Tỉa tót, đắp đổi, thêm bớt. Tôi không thể viết trang nào được trang ấy, không xoá một chữ, xoá một chữ là phải chép lại cả trang như nhiều nhà văn khác. Bản thảo của tôi chữ rất tháu. Khi viết, những ý nghĩ cứ đến dồn dập trong đầu, ghi lại càng nhanh càng tốt. Sau hãy sửa. Sau hãy ngẫm ngợi thêm ý. Sau hãy tìm từ. Rất nhiều móc vòng lên vòng xuống. Nhằng nhịt quá đến mức chính tôi đọc cũng khó khăn và đành phải chép lại. Thường cứ mỗi trang bản thảo đầu, chữa xong, chép lại thành trang rưỡi, hai trang. Mà nào đã xong. Vẫn ngoằng, vẫn móc, vẫn chèn thêm vào giữa. Có khi phát triển thành hẳn một chương mới. Gọi là chương thôi, chứ bố cục của tôi cứ lẫn lộn quá khứ hiện tại và cả tương lai nữa đan xen, chỉ cách nhau bằng một khoảng cách hay những ngôi sao, lại có khi trộn như xôi đỗ, chẳng có khoảng cách nhỏ nào.

Khi đã viết được vài trăm trang, tôi tin chắc mình đã tìm được một cách kể, một cách bố cục, một giọng điệu thích hợp để chuyển tải nội dung câu chuyện và tôi bằng lòng với nó. Tôi nghĩ trước tôi có lẽ chưa ai viết truyện tù mà mở đầu lại là ngày anh tù được tha như tôi (Vũ Trọng Phụng có một di cảo là “Người Tù Được Tha” nhưng tôi chưa được đọc). Và cái nhà tù, những năm tháng tù đầy cứ bám lấy anh như hình với bóng, không chịu buông tha. Chính nhờ sự định vị thời gian ấy đã làm nên vẻ riêng biệt của quyển truyện của tôi mà sau này nhiều nhà phê bình gọi là phương pháp đồng hiện.

Viết xong bản thảo đầu tập một — chỉ dài khoảng 300 trang — tôi đưa cháu Hà Như Hải. Cháu Hải là một cháu gái, sinh viên đại học ngoại ngữ, con một người bạn tôi, đang tập đánh máy. Cả mẹ cháu, cô Vũ Thị Nhung, một thư ký đánh máy chuyên nghiệp, còn đang đi làm cũng tranh thủ trưa tối đánh máy cho tôi. Hai mẹ con cháu đọc được mọi trang bản thảo loằng ngoằng, dập xoá móc lên móc xuống của tôi.

Tôi biết mình còn phải sửa nhiều. Suy nghĩ về một tình huống, một ý, một từ với tôi là một việc thú vị. Lê Đạt nói anh là phu chữ chỉ để nhấn mạnh việc khổ công tìm chữ mà thôi. Anh còn một câu nói rất hay về chữ: “Chữ bầu lên nhà thơ”. (Chữ ở đây nên hiểu là từ, không phải chữ trong bảng chữ cái a,b,c…). Đọc anh tôi cũng muốn viết đôi dòng về chữ. Mỗi nhà văn có con đường đi tới chữ của mình, có thế giới chữ của mình. Chữ đến với tôi từ mặt biển giữa trưa nắng, bốn chung quanh bầu trời cong chụp xuống. Những con sóng bạc đầu, trên mỗi ngọn sóng lại xòe ra những chùm nước nhỏ, tất cả lưu giữ ánh mặt trời sáng lòa như một trận mưa bạc đang rơi. Một đàn cá chuồn bỗng xé nước bay lên vẽ trong không trung những vòng cung bạc, và nhanh chóng biến mất như một ảo ảnh. Rồi gió. Gió từ chân trời ngập tràn mặt biển. Gió ào đến bao bọc quấn quít lấy tôi đang đứng trên con tầu đè sóng tiếp tục cuộc hành trình. Trời, biển, gió ập vào tôi ý nghĩa được sống, được làm người và cảm giác — hơn thế — khát vọng tự do.

Chữ đến với tôi từ rừng đại ngàn hoang vắng, hầm hập nắng, không khí cây cối không một chuyển động, mồ hôi ròng ròng, cái đói cắn vào bụng, quẩy đôi thùng ghép bằng gỗ thông, lủi vào một gốc cây, đập quả dứa vỡ đôi, hai hàm răng chắc cắm phập vào mảnh dứa vỡ, gọn như một cú đớp của hàm chó sói. Khợp.

Chữ của tôi là cô thôn nữ trong vườn vắng trèo lên cây bưởi hái hoa, bỗng thấy nụ tầm xuân nở ra xanh biếc khiến tôi xúc động. Là em bé mặt đỏ bừng, mồ hôi bết tóc đứng im lìm trước con chuồn chuồn ớt đỏ tươi đỗ trên cọc rào của tuổi thơ tôi. Là chuyến đi Ninh Bình khi hai mươi tuổi, ngơ ngác trước những con sóc đuôi xù dựng đứng bay từ cây nọ sang cây kia, rồi buổi tối họp chi đoàn, hát mẹ thương con có hay chăng chẳng nhìn ai nhưng cũng biết có những cặp mắt bồ câu đang hướng về mình, nghe bí thư chi đoàn hỏi người ngồi bên “đêm qua đi ngủ hến cắn hay sao mà ngáp thế” bỗng thấy mình giầu thêm một chút. Chữ như bụi vàng tôi cần mẫn nhặt nhạnh thu vén, tích cóp. Chữ như vỉa quặng còn tôi là người thợ mỏ đã bốc hàng trăm tấn đất đá vẫn chưa tìm thấy. Thật vất vả, đúng là phu chữ như Lê Đạt nói, và cũng như anh, tôi thích công việc phu phen. Khi đào bới tôi là người khai phá, là người sáng tạo. Chữ của nhà văn là cuộc sống, đúng hơn, cảm xúc trước cuộc sống anh thổi vào trong chữ. Cảm xúc ấy làm chữ có hồn, chiếm lĩnh người đọc khiến Gorki phải giơ trang sách lên trời soi xem có gì ở bên trong.

Chữ của tôi là tiếng thở dài của những người dưới đáy đến thẳng trái tim tôi, giản dị, âm thầm, khắc khoải, nặng trĩu. Là những chuyến đi biển dài ngày, lên bờ vẫn thấy mình đu đưa như còn trên sóng gọi là “say đất”, cộng với 5 năm tù dài hơn cả kiếp người, khi được tha nhìn ai cũng quen quen ngờ ngợ như gặp lại bạn tù trong trại, để rồi chiết xuất được hai tiếng “say tù”. Hai tiếng kết tinh tình yêu cuộc sống và nỗi trầm luân cay đắng của tôi. Nói rộng ra, tất cả sáng tác của tôi đều là hợp chất của hai thành tố ấy, càng đắm đuối càng cay đắng, càng cay đắng càng đắm đuối. Chữ là kinh nghiệm sống, là bầu khí quyển của tôi, tôi hít thở, ngụp lặn, nhấm nháp nghiền ngẫm. Giống Dương Tường, tôi ăn ngủ với chữ như với người tình một thuở. Tôi gọt giũa, lật lên lật xuống, vuốt ve ngắm nghía. Tôi ủ chữ trong tim, tôi ngậm chữ trong miệng, thì thầm với chữ và đọc to lên. Có những chữ như ảo ảnh, ẩn hiện trong sương, một dáng hình trong mơ, luôn giữ một khoảng cách không thể vượt qua. Nó làm tôi mất ăn, mất ngủ, ngơ ngẩn như người bị phụ tình. Lại có những chữ không hề nghĩ tới, vụt rơi vào trang giấy ngay trước mắt như một sự tự tìm đến hiến dâng, món quà ban tặng của Thượng Đế. Chữ với âm thanh trầm bổng — điều đặc biệt của tiếng Việt — lúc như viên chì lăn tròn vào lòng người, lúc trải rộng như cửa sông đổ ra biển cả, nhịp nhàng uốn lượn uyển chuyển như múa, như hát, một hòa thanh nhỏ cho từng câu và một tổng phổ trong cả tập truyện dài.

Chữ là khổ sai. Chữ là hạnh phúc. Không chỉ hạnh phúc, tôi còn là một kẻ quyền uy. Muôn ngàn chữ trước mặt, thỏa sức chọn lựa, đảo lên đảo xuống cho đúng chỗ. Một từ chính xác đặt đúng chỗ bỗng rũ hết bụi bậm sáo mòn, trở lại vẻ đẹp nguyên sơ. Cũng nói thêm, tôi không chủ tâm bịa ra những từ mới. Những từ bình thường nhất, phổ biến nhất đứng bên nhau bỗng lung linh một vẻ khác thường làm tôi run lên vì vui sướng. Chẳng hạn người vô hình, mùi của trẻ thơ, góa sống, chứng say tù, độc quyền yêu nước, độc quyền nhận sai lầm, tù ngoại trú mang bản quyền Bùi Ngọc Tấn trong văn học rất rõ ràng. Mà đâu chỉ là những cụm từ. Đó là những khái niệm sống.

Chữ với tôi như duyên nợ từ kiếp trước. Chữ, người bạn chung thủy không bao giờ rời bỏ tôi. Khi tôi bị bắt nhốt xà lim, chữ cũng theo vào. Ngoài chữ của Tolstoi trong tập Anna Karenina mà Dương Tường tặng, còn chữ của tôi, những chữ vô hình, những chữ hoài thai trong ngục tối, trong lao động khổ sai để rồi sinh nở trên giấy trắng mấy chục năm sau đó, một cuộc hoài thai kéo dài hơn nửa kiếp người. Chữ trò chuyện cùng tôi, động viên tôi vượt qua cái chết lâm sàng, an ủi tôi mỗi khi tôi tuyệt vọng. Tôi mang ơn chữ, luôn cố gắng để khỏi phụ tình cảm ấy của chữ, nhưng vẫn còn một khoảng cách quá xa giữa mong muốn với hiện thực, và hiểu rõ một điều mình là người bất lực.

Nhận bản đánh máy của hai mẹ con cháu Hà Như Hải, tôi vẫn chữa. Nhiều đoạn phải đánh máy lần thứ hai, lần thứ ba. Hai mẹ con chẳng nề hà. Lại còn thích. Nhất là cháu Hải. Vì có văn bản mà gõ mà tập. Hơn nữa cái văn bản này không khô khan mà lại hấp dẫn. Hai mẹ con cháu là những độc giả đầu tiên của quyển tiểu thuyết của tôi. Những độc giả này yêu nó, xúc động với nó.

Tôi cố gắng viết chân thực còn vì một lẽ: lâu lắm rồi sự chân thực thiếu vắng, gần như biệt tăm trong các sáng tác — cho tới lúc ấy, đầu năm 1990.

Tôi vẫn nhớ thời gian bốn tháng vào thành phố Hồ Chí Minh với Hải Yến con gái tôi. Thành phố này có khá nhiều người làm nghệ thuật tôi quen, nhưng tôi không thể đến với vị thế một người đã bị quên lãng, một con số âm mon men nhận quen biết, bạn bè với những người nổi tiếng. Ban ngày vợ chồng Hải Yến đi làm. Chỉ một mình tôi ở nhà. Quanh quẩn như cái bóng. Như một thứ xà lim. Đến nỗi tôi hay nghĩ đến và hoàn toàn cảm thông với những ông già bà già người Việt mình sống bên nước Mỹ. Buồn không chịu nổi. Tôi tìm trong tủ sách của Hải Yến và bắt gặp một tập tiểu thuyết dầy dặn. Một quyển tiểu thuyết nổi tiếng của một nhà văn nổi tiếng đã được nhiều tờ báo có uy tín khen ngợi. Tôi đọc. Được mươi trang định bỏ. Nhưng không còn việc gì ngoài việc giết nhện trên trần nhà. Nhện lớn nhện bé đã bị tôi tận diệt. Lại phải giở sách ra đọc. Rồi tự đề ra kỷ luật phải đọc cho hết tập tiểu thuyết thời thượng này để xem bây giờ người ta viết như thế nào. Người ta ca ngợi những tập sách như thế nào. Người ta khuyến khích những kiểu viết như thế nào. Tôi chấp hành kỷ luật của mình hết sức nghiêm túc: Đọc. Dù thế nào cũng đọc. Và các bạn hãy hiểu rằng chỉ có một mình tôi trong căn nhà hai tầng cửa đóng kín của con gái, tôi đọc mà cứ đỏ rừ cả mặt vì xấu hổ. Xấu hổ cho sự bịa đặt, khiên cưỡng, tinh vi, uốn éo, son phấn, giả một cách có nghề đến thế. Tôi ngượng cho người viết. Đã thế bìa 4 lại in ảnh ông tác giả với nụ cười đầy mãn nguyện. Tôi bỗng nhớ đến một câu tục ngữ của các cụ: Người dại để lồn, người khôn xấu hổ!

Sự chân thật của tôi đã mang lại hiệu quả.

Sau này Hữu Mười, một đạo diễn trẻ không quen, mới ở Moscow về và trong lúc Boris Yeltsin trèo lên ngồi trên xe tăng đang bao vây tòa nhà Quốc Hội Nga, cái đêm lịch sử ấy, anh cũng lang thang ngoài phố.

Hữu Mười tìm đến nhà tôi và nói:

– Anh có biết vì sao chúng em thích quyển tiểu thuyết của anh không? Vì nó thật. Trước đó gần như toàn của giả. Viết giả. Khen giả. Chê giả.

Tôi viết chân thật còn vì một ý nghĩ có vẻ như thô sơ này nữa: Không cần bịa đặt, những gì mày biết cũng đủ hay rồi. Hãy nói hết những gì mày biết, nói bằng nghệ thuật và nói một cách khách quan giản dị để ai đọc cũng hiểu. Với lại tôi đã hơi cao tuổi. Năm ấy đã gần sáu mươi. Trí tưởng tượng bị những nhát búa của cuộc sống mấy mươi năm giáng vào liên tiếp không còn như thời tuổi trẻ “viết không biết sợ” nữa. Tuổi tác và quá nhiều điều vượt xa tưởng tượng, quá nhiều điều cố quên đi nhưng cứ nằm lỳ trong tim óc như đã biến thành tim óc, chẳng cần bịa đặt đòi được viết ra.

Nguyễn Xuân Khánh nói đúng. Viết về tù quả khó. Nhất là tù ở nước ta thời những năm 60 đó. Không có những pha gay cấn. Không có cảnh tra tấn tù nhân khủng khiếp. Ai đã đọc Henri Charrière — Papillon — đều bị cuốn hút bởi những tình tiết ly kỳ. Chuyện những tù nhân cho tiền vào ống kim loại đút vào hậu môn, gọi là đạn. Cảnh tù đâm chém nhau. Cảnh đồng tính luyến ái. Cảnh Papillon vượt ngục tới đảo hủi, anh hủi bưng cho ca nước, một ngón tay anh hủi rụng dính vào ca, nhưng Papillon vẫn thản nhiên uống ngon lành.

Tù ở nước ta — trong thời gian tôi bị tù — không có những chuyện như vậy. Không sự kiện gì nổi bật. Nó xam xám nhờ nhờ. Như thứ ánh sáng lọt vào xà lim qua cửa thông hơi từ trên cao buổi chiều tà. Anh tù một vạn ngày cũng như anh tù mười ngày. Một hiện tượng buồn tẻ đơn điệu lặp đi lặp lại. Không có cái gì để nói. Chính xác hơn là rất khó nói, rất khó viết. Một đặc điểm nữa là không ai cởi mở cùng ai. Không ai tin ai. Hoặc gần như vậy. Hai người nằm cạnh nhau, cùng quê, vợ anh A lên tiếp tế, anh B được ăn cơm nếp của anh A, mẹ anh B lên gặp mặt, anh A được ăn vừng của anh B, tạt được củ su hào nắm rau muống cũng ăn chung, nhưng không than thở, tâm sự cùng nhau. Không ai tin ai. Bụng cứ liền rốn. Thật khó viết. Rất dễ nhạt. Chẳng lôi cuốn.

Chắc hẳn tôi chưa diễn đạt được điều ghê sợ khó viết ấy trong cuốn tiểu thuyết của tôi. Với lại tôi đâu chỉ viết chuyện tù đầy. Tôi viết về khát vọng sống của cả một lớp người, về những mong muốn được làm việc, được cống hiến, sẵn sàng quên mình để biến ước mơ thành hiện thực của một thế hệ bị đánh tráo khái niệm… Tôi viết và bên cạnh nỗi nhớ tuyệt vọng tuổi trẻ đã qua đi trong các nhà tù, tôi còn nhớ đến quãng đời của chúng tôi trước đó. Thời gian tôi và vợ tôi yêu nhau. Nàng lúc đó mới mười chín tuổi (*). Một thuở bình minh trong trẻo mà không biết rằng đen tối đã phục sẵn từ ngày ấy, đã chờ quá lâu rồi.
(*) Trích: Chuyện Kể Năm 2000.

Sau này khi quyển tiểu thuyết được in ra, có người nói: Đây còn là quyển tiểu thuyết của tình yêu. Đó là một nhận xét làm kẻ viết ra nó nở gan nở ruột.

(Hết Chương 7)

Share this post