Hỏa Lò (Tập Truyện – Nguyễn Chí Thiện) Truyện 3: Tạc Tượng (Tiếp theo)

Hỏa Lò (Tập Truyện – Nguyễn Chí Thiện) Truyện 3: Tạc Tượng (Tiếp theo)

HỎA LÒ
* Tập Truyện Nguyễn Chí Thiện
* Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông xuất bản (Virginia, 2001)
* Tủ Sách Tiếng Quê Hương & Người Việt tái bản (Virginia, 2019)

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học Truyện Ngắn & Bút Ký.

HỎA LÒ
TRUYỆN 3: TẠC TƯỢNG
(Tiếp theo)

Khi về tới chỗ, lão già lắc đầu:

– Nhất thiết phải sắp xếp lại, cho có một lối đi giữa nhà, rộng độ mươi phân, đủ đặt bàn chân. Chỉ cần thêm năm, sáu đứa “tạc tượng” là có một lối đi như thế. Để thế này, mỗi khi đi vào nhà mét thế nào cũng dẫm, cũng ngã lên những đứa nằm!

Trực trong thừa nhận:

– Cứ như thế này, đến em đi cũng không nổi. Đêm nay, đến phiên em thức gác. Thằng chủ ngân hàng ngủ đi! Hai giờ rưỡi sáng đến lượt mày.

– Sao! Phải có người thay phiên thức gác suốt đêm à?

Tù trưởng đã nằm trong màn, vén màn lên, thò đầu ra:

– Đại ca vào màn ngủ đi. Em nói cho đại ca rõ. Phòng này tuy đa số là lưu manh, ăn cắp vặt để sống. Nhưng cũng có một số tên anh chị sừng sỏ, ở ngoài chuyên trấn lột. Có cả những tên đã gây án mạng. Chúng là những tay đao búa, hung hãn. Nhiều tên từng là đặc công. Đảo chính, cướp chính quyền là điều chúng rất muốn. Nhất là trong cảnh cùng cực thế này! Em đã dùng đủ biện pháp ngăn chặn, phân hóa, không cho chúng tụ thành một khối. Hơi có mầm mống biến động là bị tiêu diệt ngay. Em tuy được đa số tâm phục, khẩu phục. Nhưng vẫn phải đề phòng. Không có người gác, lúc ngủ, chúng đến tấn công thì nguy! Chỉ cần một cái kim, một cái đinh, cũng đủ chọc mắt, chọc tiết. Chúng cất giấu, làm sao mà kiểm tra xuể! Vớ được thằng nào yểm những thứ đó, thì nó phải ăn đòn thừa sống thiếu chết. Các phòng khác thường xảy ra các cuộc tập kích đêm. “Cảnh giác cách mạng” là tốt nhất. Bất cứ thằng nào ban đêm mà bén mảng quá cái vạch kia là bị đánh gục ngay. Trừng phạt thích đáng. Tên gác trong giờ gác cấm không được rời vị trí, kể cả đi tiểu. Bọn nằm quanh đây đều được tuyển chọn kỹ, là lâu la của em cả. Giữ vững chính quyền không phải dễ, đại ca ạ. Em còn thiết lập cả một hệ thống điệp viên ngầm, theo dõi tình hình, rồi mật báo cho em kịp thời. Em tổ chức như một nhà nước độc tài. Thú thực, em cũng học được ở bọn cộng sản nhiều.

– Miễn là mày không hiếp đáp những đứa hiền lành. Không đánh người vô cớ là được. Cuộc sống ghê tởm này đúng là một trường tranh đấu, giành giật. Biết làm thế nào khác được! Tao bị cùm, nằm nhiều, xương cốt, mình mẩy nhức mỏi quá!

– Để em gọi một đứa tẩm quất cho đại ca. Kiến hiệu lắm. Em bây giờ đâm nghiền. Tối nào cũng phải làm một quả. Mấy hôm nay, nóng nực quá, nên tạm ngừng. Thằng này tẩm quất chuyên nghiệp. Tay nó sờ vào đâu là kêu răng rắc tới đó. Mỗi lần em cho nó hai vê thuốc lào, gấp đôi những đứa khác. Để em gọi nó.

– Khuya rồi, để mai. Chúng ta ngủ đi. Tây có câu “Ngủ thay ăn. Ngủ quên đói, quên buồn, quên giận, quên tất. Ngủ!

Nói thế, nhưng lão già có ngủ được đâu.

Lão nhắm mắt, nằm im, thở nhè nhẹ, cố giải phóng đầu óc khỏi mọi ý nghĩ, mong chợp đi được vài tiếng.

Nhưng đêm nào cũng vậy, như một ám ảnh, thường chập chờn tan, hiện trong mảnh hồn già nua của lão, bao hình ảnh tươi mát của một thời xa xưa lắm, thời lão còn là một chàng trai bừng bừng sức sống, hừng hực khát khao, cuộc đời như cuốn thần thoại thơm ngát, rộng mở những trang huy hoàng, tuyệt mỹ!

Ôi, cái thủa ngất ngây, không rượu mà say đó, ánh mắt sáng trong, nỗi lòng sôi động, chân trời lồng lộng, ảo mộng lung linh, đã héo, đã hắt, đã tàn, đã tắt từ lâu dưới bao dập vùi đen tối, sao cứ lấp lánh hiện về!

Trái tim bầm giập của lão không còn rớm máu trước mọi cảnh đời, dù là quá khứ, hiện tại, hay tương lai. Lão cố tôi luyện nó để bình thản đối phó với bao thảm cảnh đương diễn ra triền miên trong đời lão, trên quê hương, đất nước lão. Cuộc sống đầy hương sắc, tưng bừng như hoa, ngây ngất như rượu, đã trở thành xa lạ.

Lão muốn cho chìm hẳn, không muốn nó lởn vởn trở về. Mấy chục năm giam cầm, lão đã hoà nhập được cả tâm hồn lẫn thể xác vào thế giới tù ngục, một thế giới không có thời gian, không có không gian: Một hốc đen thăm thẳm, hun hút, thảm khốc chất chồng!

Bên cạnh, tù trưởng đã ngủ.

Bọn tự giác, bọn đầu gấu đã ngủ.

Có lẽ tất cả đã ngủ.

Phòng im phăng phắc.

Nghe rõ cả tiếng đàn muỗi bay vo vo.

Xa xa, tiếng giày của bọn công an võ trang đi tuần vọng lại, lộp bộp.

Mình mẩy ê ẩm, biết không ngủ được, lão ngồi dậy, vén màn, lê ra mép sàn ngồi.

Tên trực trong đương ngồi xếp bằng tròn, hai bàn tay để ngửa lên đùi, mắt lim dim.

Thấy lão, gã mở mắt:

– Nóng quá, đại ca không ngủ được phải không?

Lão già lấy tay vỗ vỗ vào lưng mình, nói:

– Tôi thường mất ngủ. Anh ngủ đi, tôi gác hộ cho.

Gã cười:

– Đại ca để mặc em. Em đang luyện Yoga. Luyện xong, đặt mình xuống là ngủ.

– Vậy tiếp tục luyện đi.

Lão già cũng ngồi xếp chân bằng tròn, thẳng người, dùng hai tay xoa đầu, xoa mặt, xoa ngực, theo phương pháp “Cốc Đại Phong” mà một bạn tù người Hoa đã dạy lão.

Lão ngồi xoa đều đặn, đúng lớp lang.

Máu huyết trong người như lưu thông tốt hơn.

Ngực đỡ đau. Lưng đỡ mỏi.

Tinh thần dần dần tỉnh táo.

Lão cứ ngồi xoa nhịp nhàng như vậy.

Không nghĩ ngợi gì. Đầu óc thư giãn, dịu lắng…

Đêm về khuya, Hỏa Lò như một nấm mồ câm lặng.

Xa xa, từ khu xà lim 3, một giọng nữ trầm bổng, ai oán, ngân nga một bài hát buồn.

Ờ, bài hát này đã lâu lắm rồi, từ hồi còn rất trẻ, lão đã nghe, đã mê.

Nhưng sao đêm nay, trong cái tịch mịch âm u của đêm tù, sau gần ba mươi năm trời mới được nghe lại, lão thấy xao động cả cõi lòng! Sao âm điệu nó não nề, thổn thức thế! Cô gái xà-lim hình như trút hết tâm tình, nỗi niềm vào lời ca. Tâm hồn lão như theo tiếng hát bay ngược giòng thời gian, trở lại thuở xa xưa, tình người thơm thảo, mầu đời xanh hồng, óng ả, trăng nước mơ màng, diễm ảo…

Đêm năm xưa, tương tư người hò khoan
Âu yếm nâng tà quạt
Hôn gió đưa về thuyền…

Tiếng hát theo gió, chơi vơi trên sông nước, mênh mang niềm tiếc hận khôn nguôi…

Rót nước vào, chợt thấy bóng Trương lang
Quanh chén trà, thuyền trôi theo tiếng đàn
Đã thấy tàn, đời không bóng Xuân về…

Lão già chợt thấy hiển hiện cả một chuỗi năm tháng đen xì, vùi dập cuộc đời lão.

Lão ngồi thần người, tay nắm chòm râu bạc.

Đúng, đúng là “đã thấy tàn, đời không bóng Xuân về“.

Cổ lão nghèn nghẹn, mắt lão cay cay…

Lão rùng người.

Không, không thể để cho sự ủy mị thâm nhập!

Phải cứng rắn sống với thực tế! Lão vùng đứng thẳng dậy, mặt sa sầm, nhìn suốt phòng.

Mấy trăm bộ xương da khẳng khiu, lở loét ngập tràn, nằm ôm cứng lấy nhau, la liệt phủ kín sàn nhà.

Mùi tanh tưởi lộn mửa của máu mủ, của mồ hôi, quện với mùi nhà mét bốc lên lan tỏa…

Một so sánh chợt tới với lão.

Đúng, đúng là một nấm mồ tập thể lộ thiên, chưa lấp đất! Lão đứng dưới đáy huyệt khổng lổ đó, buông thõng hai tay, nhìn trừng trừng vào những xác chết, nhìn vào bóng bộ xương của lão in dài trên mấy bộ xương nằm dưới, nghĩ tới sức sống dai đẳng, bền bỉ phi thường của giống người.

Người quả là một sinh vật thích ứng với mọi hoàn cảnh!

Trâu, bò, gà, lợn mà cho chúng đói khát thế này, nhốt lèn chúng thế này, liệu chúng sống nổi không?

Chắc chắn là không! Chúng sẽ giầy xéo nhau, cắn xé nhau mà chết.

Giòi bọ mang tiếng là sống nhung nhúc, chúng cũng còn no đủ, còn có một khoảng không gian sinh tồn để bò ngang, bò dọc!

Lão tưởng tượng tới mười con người đương nằm ngồi ngổn ngang, ngủ vật, ngủ vờ trong một cầu tiêu rộng ba thước vuông, ngập ngụa phân, nước tiểu, khai thối tới ngạt thở! Lão thấy sống thế, thà chết luôn còn hơn!

Mấy hôm trước, bọn quản giáo trầm trồ kháo nhau về thành tích của hai nhà du hành vũ trụ Xô Viết đã sống và làm việc được hơn ba tháng trên con tầu vũ trụ bay quanh trái đất. Một kỷ lục thế giới!

Lão cười nhạt, thầm hỏi liệu những anh hùng vũ trụ đó có sống nổi ba ngày trong căn nhà mét này?

Nhất định là không! Họ làm sao có thể sánh nổi với mười nhà du hành vũ trụ Việt Nam đương ngủ khò khò trong cầu-tiêu-con-tầu-vũ-trụ-của-nước-Cộng-Hòa-Xã-Hội-Chủ-Nghĩa-Việt-Nam! Mười nhà du hành này mới thực xứng đáng mang danh hiệu Anh Hùng Vũ Trụ!

– Dậy, dậy, hai giờ rưỡi rồi. Đến lượt mày gác!

Tên trực trong vừa gọi, vừa lôi cẳng tên “chủ ngân hàng”.

Tên này ngồi dậy, chui ra khỏi màn, hoác miệng ngáp một cái gần sái quai hàm, giọng còn ngái ngủ:

– Làm gì mà nhặng lên thế! Đưa đồng hồ đây, xem đúng giờ không.

Hắn nhìn chiếc đồng hồ quả quít cổ lỗ sĩ tên trực trong đưa cho hắn, miệng lầm bầm:

– Mới có 2 giờ 25. Có năm phút mà cũng phải gian lận.

– Đồng hồ này chậm năm phút. Gian lận cái gì?

Tên trực trong giật lại, rồi chui vào màn.

Lão già muốn đi tiểu, nhưng thấy không thể vượt qua đống người, đành cố nhịn, nhẹ nhàng chui vào màn.

Tù trưởng vẫn ngủ mê mệt.

Tuổi trẻ lợi hại thực!

Lão nghĩ tới những năm tháng, những gian lao, đày ải lão đã chịu đựng. Nếu không có tuổi trẻ đầy sức sống, đầy ý chí, làm sao vượt qua nổi mấy chục năm kiếp người mà phải sống kiếp khỉ đó!

Bây giờ lão già rồi. Thể xác, tinh thần đều mòn mỏi, cùn nhụt, chùng nhão, mất hết sức bật. Chặng đường trước mắt nghĩ tới mà khủng khiếp! Biết sức tàn, từ mấy năm nay, lão sống bằng thiền.

Mọi việc ngang trái, bất công bỏ ngoài tai. Trước những cảnh điêu trá, tàn bạo, hạ nhục con người, lão chỉ thở dài, không còn lên tiếng phản đối như trước.

Lao động trí óc, lão cũng ngừng.

Tử thần luôn vờn quanh, giơ lưỡi hái, dọa dẫm.

Lão không sợ chết. Chết đối với lão là một sự giải thoát. Lòng đất nâu là chiếc giường muôn thủa.

Hai tay buông xuôi, mắt nhắm, nằm đó, là tịch diệt mọi phiền não, khổ lụy cõi hồng trần.

Nhưng lão muốn sống, dù sống dưới trăm cay, ngàn đắng, sống trong sự tra tấn từng phút, từng giờ của cơ hàn, tủi nhục, uất hận. Lão cố sống. Lão không được phép sợ sống! Công việc của lão còn dở dang.

Lão phải sống. Sống để giương đôi mắt đỏ ngầu quan sát cuộc đời xám xịt trùng trùng vây bủa đất nước lão, đồng bào lão. Nhiều đợt suy kiệt quá, muốn đổ, lão phải mượn của Trời, Phật, chút sức mạnh để vững trụ.

Qua nhiều lần thoát hiểm, lão đâm ra tin ở Trời, ở số mệnh. Niềm tin này đã đóng góp một phần không nhỏ vào sự trường tồn của lão.

Suy nghĩ miên man, lão thiếp đi lúc nào không biết…

– Cho tôi cốc nước cam… Làm ơn, làm phúc cho tôi bát cháo… hừ hừ… cháo gà ấy… hừ… hừ…

Tiếng rên rỉ, tiếng kêu xin khắc khoải, mê loạn, lập đi, lập lại nhiều lần, làm lão già thức giấc.

– Sao em không tiếp tế cho anh… hừ hừ… nước chanh đá… cháo… hừ hừ…

Lão ngồi hẳn dậy, vén màn bò ra, nhìn về phía nhà mét.

Một tên tù gần đấy đứng dậy, lò rò đi tiểu.

Tới gần nhà mét, hắn dừng lại, lấy chân đá mạnh vào một tên đương nằm:

– Đ… mẹ mày. Điên à, nước cam với cháo gà, kêu mãi làm bố mất ngủ. Không câm họng, bố đạp chết!

Lão già len qua dẫy màn, tìm can nước của tự giác.

Lão nhấc chiếc can nhựa 20 lít lên, lắc lắc.

Không còn một giọt.

– Đại ca uống nước à?

Tù trưởng vừa thức giấc, hỏi lão.

– Không, tao định xem còn nước không, để cho thằng đang rên uống một hớp. Nhưng hết nhẵn cả rồi.

– Đại ca ngủ đi. Mới khoảng 5 giờ sáng. Hai tiếng nữa, cửa mở ra rửa mặt, nó sẽ uống. Đêm nào chả có thằng ngủ mê kêu la.

Tiếng rên rỉ phía nhà mét lại vọng tới, yếu ớt:

– Ối mẹ ơi… cho con nước cam… xôi, chuối, thịt… hừ hừ… thịt mỡ luộc ấy… hừ hừ… mẹ ơi… ối…

Tù trưởng lắc đầu:

– Đói khát quá, mê sảng toàn mê ăn mê uống!

Trực trong quát lớn:

– Thằng nào còn lảm nhảm, bố cho năm chân giò bây giờ!

Tiếng rên tắt hẳn có lẽ vì sợ ăn chân giò.

Lão già lấy khăn lau mồ hôi:

– Mới hơn 5 giờ sáng mà đã nóng thế này. Ngày hôm nay xem ra còn nóng dữ hơn hôm qua. Nóng liền một tuần rồi. Thế nào cũng nổi giông bão. Mày thấy không ngủ được nữa, thì bỏ màn ra cho thoáng.

Tù trưởng đứng dậy tháo màn:

– Em ngủ đủ rồi. Buông màn thì đỡ khai thối một chút, nhưng nóng hơn. Em ở đây bó cẳng lắm. Chỉ mong được đi trại.

– Tao thấy nhiều thằng ở trại lại mong về Hỏa Lò. Tâm lý con người vốn thích thay đổi. Mày cũng biết rồi đấy. Những quả đồi mênh mông, mả tù san sát như bát úp, đủ hiểu cuộc sống trên trại như thế nào. Phải an tâm mà sống. Đừng đứng núi này trông núi nọ. Số phận tới đâu hay đó.

– Nhưng sống mãi ở một nơi cũng chán. Gặp đại ca là em vui lắm. Đại ca này, không hiểu tù đế quốc có khá không?

Lão già trầm ngâm:

– Nhà tù thực dân, đế quốc, hiệu quả kém lắm. Bọn cộng sản không sợ. Chúng coi nhà tù là một trường học. Mà là trường học thật! Nhiều tên vào không biết tiếng Pháp. Ra tù, đã đọc được sách báo tiếng Pháp. Chúng còn có cả tổ chức đảng, kết nạp cả đảng viên trong tù. Chúng mở lớp huấn luyện chính trị, học tập văn hóa. Ăn uống đầy đủ, sách báo không thiếu. Mày cứ đọc những cuốn hồi ký của chính mấy lãnh tụ cộng sản kể lại sinh hoạt trong tù của họ thì rõ. Thời Nga Hoàng, Lê Nin bị đi đầy ba năm ở Si-bê-ri. Y đọc sách, viết sách, câu cá, săn bắn, cưới cả vợ! Vì thế có ra tù, vào tù, chúng cũng không sợ. Lại nổi tiếng là anh hùng cách mạng! Rút kinh nghiệm đó, cộng sản xây dựng một hệ thống trại tù kinh hồn, táng đởm, tiêu diệt mọi sinh lực, tiêu diệt mọi ý chí. Thực chất là những trường bắn im lìm, không tiếng súng. Những lò thiêu không cần lửa điện. Thằng nào sống sót ra được, mười năm sau, ngủ ở nhà với vợ vẫn còn thấy ác mộng!

Tù  trưởng trợn mắt:

– Phải công nhận chúng chơi độc! Nhưng nếu không đứng vững, sập tiệm thì bỏ mẹ. Dân sẽ băm nát chúng! Hút một điếu, chúc chúng mau sập tiệm! Thằng khói lửa đâu, chuẩn bị bắn một phát, khai mạc ngày mới!

Tất cả bọn tự giác, bọn đầu gấu, tháo màn, gấp lại. Sau khi bắn một hơi say sưa, trực trong ra lệnh:

– Tất cả dậy! Những thằng nhà mét ra ngoài!

Mười tên trong nhà mét lóp ngóp đi ra.

Hàng chục tên xếp hàng đợi vào đại tiện, tiểu tiện.

Đột nhiên, một tiếng kêu hốt hoảng:

– Báo cáo trưởng phòng, có người chết!

– Thằng nằm cạnh em, nó chết rồi!

Những tiếng ồn ào nổi lên, nhộn nhạo.

Trưởng phòng đứng dậy, quát:

–Tất cả dẹp sang hai bên! Im lặng, giữ trật tự!

Trưởng phòng, trực trong, tù trưởng, lão già đi tới cửa nhà mét. Một thanh niên đầu trọc, cởi trần, mặc quần đùi, nằm ngoẹo đầu sang một bên, mắt trừng trừng.

Lão già ngồi xuống, để tay lên mũi hắn, rồi bò ra, áp tai vào ngực.

Lão đứng dậy nói với trưởng phòng:

– Thì ra lúc nó mê sảng, rên rỉ, là lúc nó đang hấp hối. Chúng ta hãy khiêng nó để nằm một nơi khác…

Hai tên tự giác khiêng xác để lên sàn, sát tường nhà mét. Trực trong chạy ra cửa, kêu lớn:

– Báo cáo cán bộ! Phòng 14 có người chết!

Hắn kêu hàng chục lần. Không ai trả lời.

Phía cuối phòng xôn xao, bàn tán:

– Nó mới vào có hơn một tuần thôi.

– Quê nó ở Bất Bạt, Sơn Tây.

– Nó là bộ đội giải ngũ đấy.

– Nó nói nó chửi chủ nhiệm hợp tác tham ô, nên mới bị bắt.

– Nó vợ con gì chưa?

– Hôm kia nó khai ốm, xin thuốc, y sĩ còn tát nó, bảo nó ốm vờ.

Ngoài sân, một gã nhà bếp đi tới cửa phòng lấy thùng nước như thường lệ mỗi sáng.

Trực trong chạy ra nhờ:

– Anh báo hộ với cán bộ là phòng 14 có người chết.

Tên nhà bếp bình thản:

– Chưa thấy bóng ông nào cả. Nếu thấy, tôi sẽ báo.

Nói xong, hắn lẳng lặng xách thùng, bỏ đi.

Từ nẫy, lão già vẫn ngồi lặng thinh. Như chợt nhớ ra điều gì, lão gọi trưởng phòng tới, bảo:

– Anh xem quần áo của nó đâu, cho người mặc vào cho nó.

Trưởng phòng đi về phía cuối phòng, hỏi:

– Quần áo của thằng chết đâu?

Một tên thọt chân, tập tễnh đứng dậy:

– Báo cáo anh, nó chỉ có cái áo. Quần nó đã xé ra chùi đít rồi. Còn có một mảnh này thôi.

Tên thọt giơ cái áo và cái quần dài chỉ còn một ống lên.

– Mặc áo cho nó.

Tên thọt tới bên xác chết, dựng ngồi dậy. Gã “hồ hỏng, hồ vỡ” sốt sắng tới giúp một tay.

– Em muốn mặc cho nó cái quần của em, có được không?

– Mày thừa quần? Mày quen nó ở ngoài à?

Tên thọt, mặt rầu rầu:

– Em không quen nó. Nhưng nó với em nằm cạnh nhau hơn một tuần rồi, cũng coi như bạn.

– Được, mặc nốt cho nó.

Có tiếng lọc xọc mở khoá.

Trưởng phòng vội chạy ra cửa:

– Báo cáo cán bộ, có một thằng chết.

Hai tên quản giáo đeo khẩu trang, bước vào phòng:

– Nó nằm đâu?

– Báo cáo cán bộ, ở góc kia.

Tất cả bọn tù đứng dạt ra, im phăng phắc.

Một tên cán bộ lấy máy ảnh, chụp xác chết.

Lách tách 3 cái liền.

– Khiêng nó để ra sân!

Hai tên tự giác, thằng cầm hai vai, thằng cầm hai chân, khiêng tên chết đi ra ngoài. Gã “hồ hỏng, hồ vỡ” vừa cởi áo, vừa chạy theo:

– Các anh lấy cái áo này phủ lên mặt nó!

Tù trưởng mắng:

– Có một cái áo độc nhất. Đi trại, mày cởi trần đi à? Đây, lấy cái màn này phủ cho nó.

Tù trưởng quẳng cái màn của mình cho một tên tự giác.

Xác chết được đặt ở giữa sân.

Chiếc màn mầu cháo lòng phủ kín toàn thân.

– Khẩn trương lên, vào!

Mấy tên tự giác hấp tấp chạy vào phòng, kéo cửa đóng lại. Một tên quản giáo bấm khóa.

Rồi cả hai lột khẩu trang ra, bỏ đi.

Lão già nói với tù trưởng, vẻ xúc động:

– Cuộc đời cơ cực, tàn bạo này, tình người vẫn còn, chưa mất hẳn. Từ nay nên ưu tiên một chút cho tên “hồ hỏng, hồ vỡ” với tên thọt.

– Xin chấp hành lệnh của đại ca! Thằng “khói lửa” đâu, làm một phát xua tan cái tử khí ở phòng này đi!

Cả bọn lại quây thành hình vòng tròn. Nghi lễ khai hỏa long trọng tiến hành.

– Thằng thọt, thằng “hồ hỏng, hồ vỡ” lại đây!

Nghe tù trưởng quát gọi, hai tên lập cập tới, sợ hãi:

– Chúng em có vi phạm gì đâu!

– Ngồi xuống sàn. Hôm nay phải phạt chúng mày!

Hai gã run rẩy ngồi xuống lòng sàn, van xin:

– Chúng em có điều gì sai, anh tha cho!

Tù trưởng cười ha hả:

– Không tha được! Hôm nay phạt chúng mày, mỗi đứa phải kéo một hơi tới lăn đùng ra!

Tưởng là họa. Đột nhiên lại chuyển sang phúc.

Hai gã mặt mày rạng rỡ:

– Cảm ơn anh, cảm ơn anh.

Tên “khói lửa” cắm vào mồm mỗi đứa một điếu sâu kèn, ra lệnh:

– Kéo cho hết!

Toàn phòng nhìn chằm chằm, không chớp mắt, vào hai điếu thuốc rực hồng, lem lém cháy.

Hai gã kéo xong một hơi dài, lăn quay ra sàn, mắt lờ đờ, dớt dãi chảy ra mép.

Thấy cả phòng ngồi nhìn, thèm khát cực độ, tù trưởng tuyên bố:

– Tối nay, cho tất cả bọn bay mỗi đứa bắn một phát!

Tất cả ồ lên, nhao nhao:

– Hoan hô tù trưởng! Hoan hô tù trưởng!

Một tên khoái quá, la lớn:

– Tù trưởng muôn năm!

Tù trưởng mắng:

– Muôn năm ở đây để bỏ mẹ tao à! Chúc đéo gì lại chúc kiểu ấy!

Cả phòng cười ầm lên, vui vẻ. Bẩy giờ sáng, cửa phòng mở. Lại bắt đầu một ngày như muôn ngày khác.

Trực trong cho từng nhóm hai mươi tên ra rửa mặt ở bể nước con. Mỗi đứa được đúng hai bát men.

Hai tên tự giác đi lấy một chiếc cáng, đặt xác chết lên khiêng ra ngoài. Qua phòng thường trực, tới dưới giàn nho, chúng đặt cáng xuống cạnh một xác chết khác. Trong phòng thường trực, dưới chân dung Hồ Chủ Tịch, bốn chữ “Trị Bệnh Cứu Người, to tướng, đỏ sậm.

Một nữ y tá công an cười tình với tên công an trực ban:

– Chúng nó chết tự bao giờ thế anh?

– Chúng như bầy heo chồng chất lên nhau, chết lúc nào, ai mà biết được!

Hai gã tự giác được lệnh khiêng hai xác chết lên chiếc xe tù. Tên chánh giám thị tươi tỉnh, trong chiếc sơ mi cộc tay màu xanh da trời, ném mẩu thuốc lá xuống sân gạch, hỏi tên y sĩ:

– Hôm kia, đồng chí đã đưa mấy thằng chết tới bệnh viện nào?

– Báo cáo thủ trưởng, tới bệnh viện Saint Paul, bệnh viện 108.

– Hôm nay đưa tới bệnh viện Bạch Mai, bệnh viện Việt Đức. Nhớ đưa tản ra các bệnh viện ở Hà Nội. Con số tử vong phải mật!

– Báo cáo thủ trưởng, tôi vẫn phân tán như vậy.

Nói xong, hắn leo lên xe, ngồi cạnh gã tài xế, để hai bìa hồ sơ lên đùi. Hai tên tự giác bị đuổi về phòng.

Chiếc xe từ từ lăn bánh, chở hai tên tù đã được “trị hết mọi thứ bệnh” ra khỏi Hỏa Lò…

(Còn tiếp – Hỏa Lò)

Share this post