Hỏa Lò (Tập Truyện – Nguyễn Chí Thiện) Truyện 3: Tạc Tượng

Hỏa Lò (Tập Truyện – Nguyễn Chí Thiện) Truyện 3: Tạc Tượng

HỎA LÒ
* Tập Truyện Nguyễn Chí Thiện
* Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông xuất bản (Virginia, 2001)
* Tủ Sách Tiếng Quê Hương & Người Việt tái bản (Virginia, 2019)

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học Truyện Ngắn & Bút Ký.

HỎA LÒ
TRUYỆN 3: TẠC TƯỢNG

– Thu xếp nội vụ, chuyển buồng!

Lão già đứng dậy, lẳng lặng vơ bộ quần áo nhầu cũ, hoen ố những vết bẩn lão vẫn cuộn lại làm gối, ném vào cái bị nhỏ. Lão ném cái ca-men không nắp vào, vắt cái khăn mặt sờn rách lên vai, rồi đi ra khỏi buồng.

Nội vụ của lão chỉ có thế.

Tới cửa xà-lim, lão nói lớn:

– Chào tất cả các bạn! Bạn nào được về, chuyển hộ lời “thăm hỏi ân cần” của tôi tới đồng bào cả nước!

Cả xa-lim cười ầm lên. Mắt tên quản giáo nẩy lửa:

– Chỉ được cái bố láo! Anh tưởng anh là lãnh tụ à?

Lão không thèm trả lời.

Trong đời tù dằng dặc của lão, lão vẫn hay khôi hài, mỉa mai, đùa cợt bông lông như vậy. Bất cứ chuyện gì, lão cũng có thể biến thành chuyện cười.

Lão sống được dai dẳng qua nhiều trại tù mà chưa chết, một phần cũng vì cái tính hài hước đó. Đến nỗi bọn quản giáo đã đặt cho lão một biệt danh là “Lão già quai guốc”.

Tên quản giáo đi trước, lão đi sau.

Không ai nói với ai một câu. Ra tới sân trại, lão ngẩng đầu nhìn bầu trời xanh ngát, cao vút, hít mạnh không khí trong lành buổi sáng.

Một nỗi bùi ngùi, nhẫn nhục, chợt tới với lão.

Bầu trời xanh bất tận, bao la kia, không khí tươi mát này, hoàn toàn xa lạ, đâu phải của lão!

Tất cả đã cách biệt từ lâu lắm! Ngày gặp gỡ lại với thiên nhiên coi như không còn.

Phải rời xà lim, lão thấy tiếc, như rời một nơi êm ấm!

Lão biết rõ ra phòng chung ở với lưu manh, sẽ khổ gấp bội. Xà-lim trước kia, cách đây khoảng mươi năm thôi, còn là nơi chỉ giành để giam những tội phạm quan trọng, hoặc những phạm nhân vi phạm nội quy, mới bị tống vào kỷ luật cùm vài tuần.

Hồi đó, tù nhân coi ở xà-lim là cực lắm, như ở trong một nấm mồ bằng bê-tông, mùa hè thời nóng bức, ngột ngạt như một lò hấp, mùa đông thời lạnh toát thấu xương.

Ai cũng sợ.

Bây giờ, lượng chứa của Hỏa Lò vẫn y nguyên. Số người bị bắt cứ ùn ùn tăng lên gấp bội. Các buồng chung bị lèn như cá hộp.

Ở xà-lim, được nằm một mình trên một bệ xi măng rộng những sáu mươi phân. Thật là thiên đường!

Trừ những tội phạm bị đánh giá là cực kỳ nguy hại, tất cả ai muốn được ưu tiên nằm xà-lim đều phải quen biết với người của Bộ, của Sở. Và một điều không thể thiếu: Phải có tiền! Còn muốn được làm ăng-ten cho Ban Chấp Pháp thì bắt buộc phải là phạm nhân đảng viên.

Loanh quanh rẽ phải, rẽ trái, vài phút thì tới cửa phòng 14. Tên quản giáo dừng lại, bước vào một căn phòng nhỏ, phía trước trống toang, không tường, không cửa. Ở giữa trơ trọi một bàn mộc, một ghế mây.

Đó là nơi làm việc của quản giáo phụ trách. Tù gọi là “quán gió”, vì chiếc quạt trần lúc nào cũng quay ào ào như giông bão.

Hai tên quản giáo nói nhỏ với nhau một lúc, rồi tên quản giáo phụ trách xà-lim bỏ đi.

Ba tên tù tự giác đương khám đồ tiếp tế của dăm người tù vừa được gia đình gửi vào. Chúng đổ các túi quà ra sân, soát từng món một.

Bánh nếp, bánh tẻ, bánh giò, chúng giở tung ra, lấy dao cắt dọc, cắt ngang. Đường, muối vừng, thịt, cá, chúng đổ ra những bát men. Kẹo, chúng bóc ra từng cái.

Khám xong, mấy người bê quà ra bên cạnh, ngồi phệt xuống đất, thành hàng ngang, mỗi người cách nhau một thước, theo đúng quy định

Một tên tự giác ra lệnh:

– Cấm không được trao đổi, hoặc cho nhau. Vi phạm, tịch thu toàn bộ!

Mấy người tù chết đói dở, bắt đầu tấn công ăn.

Họ vục mặt xuống, nhồm nhoàm, ngấu nghiến, quyết đánh tan cơn thèm khát. Họ tập trung toàn bộ tinh thần vào việc nhai nuốt. Mọi sự trên đời quên hết.

Những bàn tay lở loét, sưng vù, bốc xôi, bốc thịt, bốc bánh, đưa lên mồm, tới tấp, liên tục.

Lão già đứng nhìn, lắc đầu.

Tên quản giáo vẫn ngồi uống trà, phì phèo điếu thuốc trên miệng, chưa buồn ngó tới lão.

Lão vất cái bị cói xuống thềm, uể oải ngồi xuống.

Mấy tên tự giác đứng canh bọn tù ngồi ăn, đợi lệnh.

Lão già chẳng bao giờ để ý tới bọn quản giáo. Nhiều năm ở tù rồi, lão thấy bọn chúng: dù trẻ, dù trung niên, dù già, dù gầy, dù béo, dù cao, dù thấp, dù da trắng, da ngăm ngăm, dù mắt lồi, mắt sâu, mắt sếch, mắt lươn, mắt lé… đa số đều có một điểm chung là nhìn bọn tù lừ lừ, khinh miệt, thù hận, mê muội.

– Thằng nào vừa gặp gia đình?

Tiếng tên quản giáo, hỗng hách, đầy quyền uy.

– Thưa ông, cháu.

Một tên đương ăn vội vã đứng lên, lụng bụng đáp lại. Tên quản giáo hất hàm cho mấy tên tự giác:

– Khám!

Hai tên tự giác xăm xăm tới:

– Cởi áo ra!

Hai bàn tay gã tù lở loét, bê bết xôi, nhầy nhụa mỡ thịt, loay hoay cởi khuy.

Một tên tự giác sờ nắn, rũ rũ chiếc áo.

Tên tự giác khác bắt gã tù giơ hai tay lên cao, quay trước, quay sau.

– Cởi quần ra!

Gã tù trút bỏ chiếc quần ni-lông ra. Lại sờ nắn, rũ rũ.

– Báo cáo ông, không có gì.

Tên quản giáo nhăn mặt, nhíu mũi khi nhìn thân hình ghẻ lở, loang lổ mủ máu. Thấy dáng điệu gã có vẻ hồi hộp, hắn quát:

– Cởi quần đùi ra!

Gã tù lom khom cởi nốt chiếc quần đùi, mặt tái nhợt, hai tay úp che hạ bộ.

– Bắt nó chổng mông lên! Nhìn lỗ đít nó xem có gì không!

Hai tên tự giác ấn gã tù chổng mông. Rồi một tên ngồi xuống, lấy hai tay vạch hậu môn, nhìn vào.

Phát hiện thấy có vật gì trong đó, hắn quát:

– Rặn mạnh ra!

Loay hoay một lúc, hắn lôi ra một cục ni-lông tròn, dài.

– Báo cáo ông, thuốc lào!

Tên quản giáo đắc ý:

– Mày qua mắt ông nội mày thế nào được! Con muỗi bay qua, ông cũng phân biệt được con nào là con đực, con nào là con cái. Nhìn cái điệu của mày, ông đã biết thể nào cũng có vấn đề. Mày ở ngoài là nhà báo, mày không đọc được nội quy sao?

– Thưa ông, giải quyết thằng này thế nào?

Một tên tự giác khúm núm hỏi.

– Tịch thu toàn bộ quà. Bắt nó nuốt chỗ thuốc lào ấy! Mày nhét vào lỗ đít, tưởng qua mắt nổi ông. Bây giờ ông nhét vào lỗ mồm này!

Một tên tự giác nhanh như cắt, bưng ngay chỗ quà vào buồng. Gã tù hoảng sợ, van lạy:

– Xin ông tha cho lần này. Lâu lắm cháu mới được vợ gửi cho ít quà. Lần này cháu chót dại. Cháu xin thề không bao giờ dám vi phạm nữa. Ông phạt cháu nuốt chỗ thuốc lào. Cháu xin tuân lệnh nuốt ngay.

– Lệnh thu là thu. Nhét chỗ thuốc lào vào mõm nó!

Lão già đứng lên, ôn tồn:

– Báo cáo cán bộ! Nuốt hết chỗ thuốc lào ấy, anh ta có thể chết vì ngộ độc ni-cô-tin.

Tên quản giáo nhìn lão từ đầu tới chân, đằng đằng sát khí:

– Không phải việc của anh, im mồm! Phải xác định rõ vị trí của anh! Anh là một thằng tù!

– Tôi lúc nào cũng xác định ranh giới. Tôi là tù, ông là người coi tù. Chỉ vì tôi sợ ông gây ra án mạng nên mới nói.

– Chuyện gì vậy?

Một tên công an tuổi chạc ngũ tuần, đeo hàm thiếu tá, bộ quần áo ka-ki vàng là thẳng nếp, giày đen bóng loáng, vừa bước tới, vừa hỏi.

Mấy tên tự giác cung kính:

– Chào Ban ạ, chào Ban ạ.

Tên quản giáo thay đổi hẳn nét mặt, lễ phép:

– Báo cáo thủ trưởng, tên phạm này ra gặp gia đình, lén lút mang thuốc lào vào…

– Cắt bốn tháng không cho nhận quà, gặp gia đình. Còn thuốc lào, ném xuống cống!

Tên chánh giám thị Hỏa Lò bước vào phòng.

Tên quản giáo nhanh nhẹn kéo ghế:

– Mời thủ trưởng ngồi.

Y không nói gì, ngồi xuống, nhìn về phía lão già:

– Anh kia vào đây!

Lão già lẳng lặng, xách bị bước vào, đứng cách tên chánh giám thị chừng ba thước, theo đúng quy định.

Tên chánh giám thị nhìn vào cái bị con của lão, hỏi:

– Đồ đạc của anh chỉ có thế?

Lão già mặt lạnh như tiền:

– Tôi là vô sản, vô sản quốc tế. Ngoài hai bộ đồ che thân, không có gì khác. Không vợ con. Không tiếp tế. Không ngày về. Ba không.

Tên chánh giám thị gật gù:

– Anh xác định thế là tốt. Anh có hiểu tại sao anh chuyển từ xà-lim ra đây không?

– Đời tù, việc chuyển buồng, chuyển trại là chuyện bình thường. Tôi không tìm hiểu lý do.

– Tôi được báo cáo là anh thường xuyên kích động bọn tử tù hò reo, hoan hô Hoàng Văn Hoan, hoan hô đại quân Trung Quốc tiến sang giải phóng Việt Nam. Anh có biết tội đó có thể đem truy tố?

– Hoàn toàn sai sự thật. Hoàng Văn Hoan, ngay cả lúc nó còn là một tên đứng thứ năm trong Bộ Chính Trị, đầy quyền lực, tôi đã coi nó chẳng ra gì. Khi làm cách mạng, nó toàn sống ở Tầu, ở Thái Lan, không hề bị Pháp bỏ tù ngày nào. Bây giờ phản cách mạng, cũng lại trốn sang Bắc Kinh mới phản. Còn lũ Tầu, thời cả Tầu Tưởng tôi cũng không ưa. Tầu Mao thời tôi càng kinh tởm. Trước kia, tôi chưa bao giờ tặng hoa, ôm hôn thắm thiết chúng cả. Bây giờ, tại sao tôi lại phải kích động bọn tử tù hoan hô lũ đó? Hơn nữa, chúng hò reo, rung cùm ầm ầm, cả xà-lim mất ngủ. Mọi người, kể cả tôi, can ngăn nhiều lần không được. Ông có thể hỏi tất cả xà-lim, xem có đúng như tôi nói không.

Tên chánh giám thị có vẻ suy nghĩ.

Một lúc, hắn nói:

– Các đồng chí trên Bộ đã cho tôi biết về anh. Tóm lại, tôi chỉ khuyên anh là đã vào đây thì đừng chống đối nữa. Như thế có lợi cho anh. Đừng để cho chúng tôi phải xuống tay. Các cán bộ báo cáo với tôi là anh bướng lắm. Anh phải biết rằng vào Hỏa Lò này đến thép cũng chảy!

Lão già giọng dắn dỏi:

– Tôi chống đối là chống đối chủ nghĩa Mác-Lê, chống đối cái chế độ xây dựng trên chủ nghĩa ấy. Đó chỉ là một sự bất đồng về quan điểm chính trị. Ở một xã hội dân chủ bình thường, tôi không thể bị bắt giam. Mục tiêu của tôi là thế. Chứ không phải là vào cái Hỏa Lò này để chống lại mấy ông quản lý trại giam. Tôi ở đây đã gần ba năm, chưa bao giờ vi phạm nội quy, chưa bao giờ có lời nói hoặc thái độ nào coi thường các cán bộ. Có thể chỉ vì tôi không xưng cháu với các ông ấy, nên bị coi là bướng bỉnh. Hôm nay, nhân gặp ông đây, tôi xin nói thẳng. Mục đích cải tạo là để tội phạm trở thành người tốt, có nhân cách. Phạm nhân luôn xưng cháu với các cán bộ có khi còn ít tuổi hơn họ nhiều, là họ đã tự bỏ mất nhân cách của họ. Cần phải cấm, không cho họ xưng hô quỵ lụy như thế. Nghĩa là bắt họ phải tự trọng, giữ lấy tư cách làm người. Sau đó mới cải tạo những thói hư, tật xấu của họ được.

– Chúng tôi không ai bắt họ phải xưng như thế cả. Trong nội quy cũng không có điều lệ này. Thôi được, dịp khác, tôi sẽ nói chuyện nhiều với anh.

Nói xong, tên chánh giám thị rời khỏi buồng.

Mấy tên tự giác xun xoe:

– Chào Ban ạ, chào Ban ạ.

Tên quản giáo, mặt hầm hầm, quát mấy tên tự giác:

– Khám đồ của nó, rồi tống vào phòng. Cho nó chung thân nằm “nhà mét” [nhà vệ sinh].

Dứt lời, hắn đùng đùng bỏ đi.

Khám xét xong, một tên tự giác dẫn lão già vào phòng.

Vừa bước vào khỏi cửa, một tên tù đã ôm chầm lấy lão:

– Trời, đại ca! Bảy năm rồi, bây giờ mới được gặp lại đại ca! Đại ca còn nhớ em không?

Lão già ngạc nhiên, vui mừng:

– Ủa, mày lại vào tù nữa! Đúng tù là nhà!

Gã tù nắm lấy hai vai lão, lắc lắc:

– Đại ca trông già đi nhiều, râu tóc bạc cả. Nhưng tác phong vẫn như xưa. Ung dung, đàng hoàng. Ăn nói đâu ra đó. Tên chánh giám thị cũng phải nể. Người khác thì đời đã ra nước với nó rồi!

Một tên tù đứng bên, trầm trồ:

– Cháu ở tù bao năm chưa thấy ai dám nói như ông chú cả. Chúng cháu trong này nghe sướng cả lỗ tai! Lão chánh giám thị khét tiếng là bạo chúa ở Hỏa Lò này, ai cũng khiếp sợ. Thế mà ông chú xem khinh. Nể ông chú thật!

– Thôi, chúng mày lui ra hết, để đại ca tao nghỉ ngơi. Đại ca có muốn tắm không? Em bảo bọn tự giác xách vào một thùng nước.

Lão già lắc đầu:

– Hậu xét, hậu xét. Có thuốc lào không? Tao ghiền quá! Bao lâu nay không được “hơi” nào!

Gã đàn em  quay sang bảo một tên tù khác đương đứng nhìn lão chăm chăm:

– Cuộn một vê thật to. Nhanh lên!

Tên tù vội vàng chạy vào nhà mét. Một lúc sau gã đem ra một điếu xâu kèn cuộn bằng giấy báo.

Gã tù đàn em trỏ một tên:

– Ra cửa ngó. Có gì báo động ngay. Còn đại ca theo em. Thuốc lào Vĩnh Bảo chính hiệu đấy!

Gã đưa lão vào nhà mét.

Đó là một khoảng rộng độ ba thước vuông. Có tường ngăn, không có cửa. Tuy vừa cọ rửa xong, nhưng vẫn nồng nặc một mùi tanh buồn nôn.

– Đại ca dựa vào tường. Lâu không hút, sẽ kềnh đấy!

Một tên tù khác đi vào, tay cầm một mẩu nhựa bẻ từ cán một bàn chải đánh răng, một mảnh giấy xi măng dùng làm đóm, một mẩu bông xé tơi.

Hắn cúi xuống, lấy ở xó tường, một mảnh thủy tinh con. Hắn để miếng bông lên bệ cầu tiêu, dùng mảnh thủy tinh bật vào miếng nhựa có gắn một viên đá lửa. Tia lửa bật ra, bén vào miếng bông, bùng cháy. Nhanh như cắt, hắn châm mảnh giấy vào lửa, đưa lên miệng lão già.

Lão hít một hơi dài,  lảo đảo…

– Đại ca để em đỡ. Cứ đứng yên.

Mắt lão nhắm lại.

Người lão nhẹ lâng, bồng bềnh trên những đợt sóng không khí, rung rinh, tối xầm. Mồ hôi trên trán lấm tấm. Mắt lờ đờ, dại đi. Miệng lắp bắp: “Say… Say… Say…”

Hai gã tù cười thích thú:

– Đúng là “đưa hồn say về tận cuối trời quên!”

Vài phút sau, lão trở về với thực tại, lảo đảo bước ra khỏi nhà mét.

(Còn tiếp Truyện 3: Tạc Tượng)

Share this post