Hỏa Lò (Tập Truyện – Nguyễn Chí Thiện) Truyện 5: Phùng Cung

Hỏa Lò (Tập Truyện – Nguyễn Chí Thiện) Truyện 5: Phùng Cung

HỎA LÒ
* Tập Truyện Nguyễn Chí Thiện
* Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông xuất bản (Virginia, 2001)
* Tủ Sách Tiếng Quê Hương & Người Việt tái bản (Virginia, 2019)

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học Truyện Ngắn & Bút Ký.

HỎA LÒ
TRUYỆN 5: PHÙNG CUNG

Tôi mến và phục Phùng Cung ngay từ khi được đọc truyện Con Ngựa Già Của Chúa Trịnh đăng trên báo Nhân Văn.

Trong tất cả các bài văn, bài thơ in trên tờ Nhân Văn, trong các tập giai phẩm Mùa Xuân, Mùa Thu, Mùa Đông, tôi thấy Con Ngựa Già Của Chúa Trịnh là đặc sắc nhất, về nghệ thuật cũng như về nội dung. Nó vừa thâm trầm, vừa tinh tế đúng như con người anh. Nó còn điểm đúng huyệt của Đảng.

Chính vì vậy, Đảng đã căm giận bỏ tù anh không xét xử hơn mười hai năm.

Nhiều người nhận định rằng truyện chĩa vào các văn nghệ sĩ có tài, nhưng vì đã ngoạm vào miếng đỉnh chung Đảng ban phát, nên chẳng những tài tận, mà nhân cách cũng diệt.

Điều đó đúng.

Nhưng nếu chỉ đả mấy anh văn sĩ, thi sĩ cô đầu, nhưng kẻ mà chính các “đồng chí bố” trong bụng cũng khinh rẻ, nhân dân cũng tởm lợm, thì Đảng đâu có cay cú đến thế.

Điều Đảng không thể không trừng trị nặng là anh đã dám nêu bật lên một sự thực nhục nhã: Văn nghệ sĩ, trí thức, toàn bộ dân tộc, giống như con ngựa già của Chúa Trịnh, bị Đảng gắn vào hai bên mắt hai cái lá đa bằng da, chỉ được nhìn thẳng một hướng hạn hẹp, trời mây, sông núi hoa lá không được thấy gì hết!

Cái cảnh con chiến mã Kim Bông dũng mãnh tung vó, phi nước đại, vất lại sau mông cả một vùng Sơn Nam Thượng, xông pha trăm trận, tung hoành là thế, mà khi thanh bình trở lại, nhàn nhã bước vào lâu đài cung điện Chúa, mới đặt chân lên nền đá xanh mát đã thấy bàng hoàng, rùng cả mình, chợt nghe tiếng chim hót trong trẻo trên các lùm cây xanh tươi mà hốt hoảng, ngơ ngác, Đảng cũng cho là chửi xỏ Đảng.

Thực ra, đó chỉ là sự tha hóa tầm thường của những kẻ thiếu Tâm, thiếu Đức, khi được vinh hoa, phú quý, lo lắng bảo vệ cho địa vị của mình.

Mùa đông năm 1970, tôi rời Yên Bái lúc bốn giờ sáng.

Sau 18 tiếng đồng hồ vừa đi ca nô, đi xe tải, xe lửa, chen chúc nhau trong một toa đen kín mít, nhầy nhụa phân lợn, tay bị khóa số 8 khóa từng cặp hai người một, đoàn tù chúng tôi tới trại Phong Quang khoảng mười giờ tối, người nào cũng nôn mửa rũ rượi, kiệt lực. Ngồi xếp hàng trên sân đất, dưới mưa bụi, gió buốt, nghe điểm danh, nghe cán bộ quát nạt, huấn thị, rồi giúp mấy anh tù tự giác khám xét hành lý toàn đồ giẻ rách, hôi hám.

Tới tận gần 12 giờ đêm, chúng tôi mới được phân chia vào các phòng.

Trong tất cả các cuộc trùng phùng trên thế gian này, khó có cuộc trùng phùng nào có thể vui mừng bằng những cuộc gặp lại nhau trong tù của những người bạn tù.

Tôi vừa bước vào phòng thì bốn, năm ông đã ập tới, cười nói, hỏi han, nắm tay, nắm vai, đỡ hộ túi quần áo, mời nước, mời thuốc.

Tôi cũng vui không kém gì họ.

Thôi thì đủ thứ chuyện. Bao nhiêu mệt nhọc tan biến hết. Sức mạnh của tình cảm thực là kỳ diệu, không loại thuốc hồi sức nào sánh kịp!

Các anh nói Phùng Cung cũng ở trại này, đang nằm bệnh xá vì bị lao phổi.

Mắt tôi sáng lên.

May quá rồi, thế là tôi sắp được chuyện trò với anh, người tôi mến phục đã lâu mà chưa được biết mặt.

Vài hôm sau, tôi lảng vảng xuống bệnh xá tìm anh.

Đó là giờ tù đang chia cơm, chiều hôm ấy lại ăn tươi, có “mều ngạnh” [thịt trâu] nên việc chia bôi rất vất vả, mất nhiều thời gian. Thịt chia riêng, xương chia riêng, da chia riêng, nước đong từng thìa.

Tất cả đều phải cân bằng một loại cân tự tạo, nhưng độ nhậy có lẽ chẳng kém gì cân tiểu ly.

Chia xong lại phải viết tên từng người vào những mẩu giấy nhỏ, gập lại, trộn lẫn lộn, rồi đặt bên cạnh từng bát, mỗi phần không quá một lạng. Đọc đúng tên ai, người đó lấy bát đó.

Tù nhân đứng vòng trong, vòng ngoài, “góp ý” cho người được cử ra chia, thường là người có uy tín, trung thực, không lèm nhèm.

Mấy chục bệnh nhân ở bệnh xá cũng đương xúm xít tham dự công việc chia chác thiêng liêng đó, trừ mấy người hấp hối.

Tôi nhìn tất cả họ, từng khuôn mặt một.

Không ai có vẻ là Phùng Cung cả.

Tôi vòng ra phía sau bệnh xá.

Một người trung niên mặc áo bông, đứng trước cây ớt chỉ thiên, nhưng đầu lại ngẩng nhìn lên nền trời xám nặng, nét mặt xám nhợt, bất động.

Phùng Cung đây rồi!

Tôi đoán vậy, và bước lại gần, khẽ hỏi:

– Xin lỗi, có phải anh Cung không?

Phùng Cung nhìn mặt tôi một thoáng, rồi đáp:

– Vâng, sao anh biết?

Tôi cười:

– Tôi mới từ Yên Bái tới mấy hôm. Nghe anh Lê Quang Dũng nói anh ốm, tôi tới hỏi thăm. Tôi tù tất cả đã hơn tám năm rồi.

– Anh kém tôi hai năm. Nhưng tù về tội gì vậy?

– Cần gì tội mới tù! Bao nhiêu người ở đây, tội gì? Nhưng chúng nó bảo tôi làm thơ phản động.

Phùng Cung hững hờ, có vẻ trịch thượng:

– Làm thơ? Có thể đọc nghe vài câu không?

Sống dưới chế độ xã hội chủ nghĩa là phải hết sức thận trọng. Bao người chỉ vì mắc bệnh “ngứa họng” khi trà lá với bạn bè mà tan đời!

Trong tù càng phải kín miệng hơn.

Nhưng khi nhìn thấy Phùng Cung, tôi linh cảm anh không là người hại tôi.

Tuy vậy tôi vẫn phân vân. Tôi chọn một bài “vừa phải”, không quá “nặng dose”.

– Anh đang nằm bệnh xá. Tôi đọc một bài về cảnh bệnh xá trong tù cho anh nghe.

Mùa đông ập tới, đêm rừng giá
Gió bấc, mưa phùn lướt thướt qua
Củ khoai hà dím thành vô giá
Bệnh cũ âm thầm lại phát ra
Lũ tôi đã đoán bao người ngã
Trong vụ đông này khó đứng qua
Thân xác như hình nan, cốt mã
Mong cầu đông giá nới tay tha!

Tôi đọc hết bài, chờ đợi một câu phê bình.

Nhưng anh im lặng.

Một lúc, anh hỏi tôi:

– Anh ở toán nào?

– Tôi ở toán đan, gần ngay đây, toán mà lưu manh gọi đùa là “Mầm non của nghĩa địa”. Tôi cũng lao như anh, thỉnh thoảng lại ho ra máu, ít đi làm lắm. Hôm nào hứng, anh tới phòng tôi chơi. Vào ngày thường, đi làm hết, chuyện trò tiện hơn.

Đã bắt đầu đọc tên lấy thịt.

Tôi bắt tay anh Cung:

– Anh vào ăn đi. Hôm khác chúng ta gặp nhau. À, tôi là Thiện, Chí Thiện thiền sư. Au revoir!

Tôi không phải chờ lâu.

Hai hôm sau, vào buổi sáng, khi trại đi lao động hết, vắng ngắt. Phùng Cung vào phòng tôi.

Tôi mời anh leo lên sàn trên, chỗ tôi nằm.

Anh vừa leo, vừa nói:

– Ốm yếu sao không nằm dưới, đỡ leo trèo vất vả?

– Cái gì cũng có lý do của nó cả. Nằm sàn trên đun nấu đỡ bị lộ, đỡ bụi hơn, mùa đông lại ấm hơn nằm phía dưới.

Anh Cung ngồi xuống chiếu, móc trong túi ra một gói con con:

– Dũng nó bảo anh nghiện trà nặng lắm. Hôm nay mới tới gặp anh là vì còn phải kiếm trà.

– Trà lúc nào tôi chẳng có, nhưng toàn là trà gói ba hào loại bét, chua loét.

Tôi mở gói trà của Phùng Cung ra, kêu lên: Trà búp, loại ngon!

Tôi đổ tất cả vào cái ca tráng men, lấy dăm cái đóm cật, đun độ hai phút là sôi, lấy miếng giẻ ướt lau sạch ca, lau tới đâu trắng tới đó. Tôi giải thích:

– Phải lau ngay khi đun xong, ca còn nóng bỏng mới sạch trắng được. Để nguội, cọ bằng cát cũng mệt mới trắng. Quản giáo mà thấy ca đen thì cùm. Cái gì cũng phải đánh nhanh, rút gọn! Bây giờ mình ngồi uống ung dung. Trời lại mưa, không sợ gì nữa.

Tôi lấy hai cái chén, tiện bằng ống nứa, rót trà vào.

Chúng tôi đưa ly trà lên miệng, tận hưởng hương trà thơm ngát, rồi nhấp một hớp nhỏ.

Khoan khoái, tỉnh táo hẳn.

Tôi hỏi anh Cung:

– Anh có biết tại sao lại kiến hiệu đến thế không? Trà ngon không cần phải vào tới dạ dầy, xuống ruột, thẩm thấu vào máu, rồi mới tác động tới chúng ta. Nó đi thẳng từ khứu giác, vị giác lên thần kinh não, nên vừa mới nhấp một tí đã sảng khoái cả người rồi!

Chúng tôi mỗi người hút một điếu thuốc lào, uống một ly trà nữa, cho ấm người lên, rồi mới bắt đầu vào chuyện muốn nói:

– Anh tù đã 10 năm rồi, anh sáng tác được nhiều không?

Anh Cung lắc đầu:

– Mấy năm đầu rầu rĩ, lo nghĩ về vợ con, không làm gì được. Sau đó có viết một số truyện ngắn trong đầu, nhưng không nhớ nổi. Đành chuyển sang thơ. Làm cũng được ít thôi, độ vài chục bài. Hôm nọ nghe anh đọc bài thơ về bệnh xá, tôi cứ ngẫm nghĩ mãi. Tôi nằm bệnh xá nhiều. Những cảnh, những tâm trạng bi đát tôi thấy hàng ngày, sao tôi không làm được bài nào? Hiện giờ, chúng tôi đã đoán trước được có ba người sẽ không qua khỏi mùa đông này. Nhìn thấy chết đến từ từ mà không cứu được! Khoai sắn còn chẳng đủ, thuốc men thì vớ vẩn, kiệt dần, rồi gục. Mùa đông như một vị hung thần, chỉ biết cầu mong nó đỡ rét, nó nới tay buông tha. Thơ anh thực lắm!

– Thật ra, lượng không quan trọng. Cuộc đời một thi sĩ mà có được vài trăm câu thơ hay đã là thành công lắm rồi. Truyện Kiều hơn 3200 câu, những câu thực hay cũng chỉ ở con số trên 200 là cùng. Nhưng Việt Nam mình chưa ai bằng Nguyễn Du cả. Anh đọc nghe vài bài của anh đi.

Ngồi hút thuốc lào, uống trà ngon, nghe thơ, đó là những giờ phút hạnh phúc nhất trong tù.

Hạnh phúc vì chúng tôi quên hẳn chúng tôi đang tù tội, ốm yếu, quên hẳn mọi ô trọc cuộc đời.

Chúng tôi chìm đắm, hay đúng hơn, bay bổng trong say sưa: say trà, say thuốc, say thơ.

Anh Cung đọc liền một lúc ba, bốn bài: giọng trầm nhẹ, nghe rất rõ.

Càng nghe, tôi càng ngạc nhiên, càng bị cuốn hút vào dòng thơ anh. Tôi chưa từng được đọc thơ nào như thế. Nó mới tinh. Mới về ý, về tình, về ngôn ngữ, và nhất là về hình tượng, âm điệu.

Thơ anh thực là đẹp.

Anh đọc tới đâu, tôi thấm tới đó.

Thơ đẹp, cũng như mọi vẻ đẹp trên thế gian này, đâu cần phải nghiên cứu nát óc mới thấy.

Nó đi thẳng vào tim, vào óc ngay.

Tôi biết anh tốn nhiều tâm huyết lắm mới tạo được những câu thơ như thế. Anh tìm tòi nhiều về chữ nghĩa, nhưng không mắc “ngữ bệnh” như Âu Dương Tu hàng ngàn năm trước đã than phiền.

Anh tìm tòi nhiều về hình tượng, về âm điệu nhưng không trở thành cầu kỳ, quái gở, thậm chí tới mức ngớ ngẩn như một số người!

Càng đọc nhiều thơ, tôi càng nể các vị thâm nho ngày xưa. Các vị đó nhận xét ngắn gọn, như muốn cô đúc chân lý vào một câu.

Sau này gần Phùng Cung nhiều, thấy anh làm thơ quá khó nhọc, tôi thấm thía câu nói của Lục Du: “Cái tận cùng của công phu là sự bình dị.

Khi anh Cung ngừng đọc, tôi hút thêm một hơi thuốc lào, nhả khói ra mù mịt, hãm một hớp trà, rồi đặt tay lên đùi anh:

– Anh quả là có tài, kỳ diệu lắm! Bài Biển Cả của anh có thể là một bài dạy về đạo lý làm người cho các vị đế vương. Tôi không bốc anh đâu. Mà bốc cũng chẳng được. Hay dở nó rành rành ra đấy. Khen chê lung tung, người ta khinh! Nhiều câu thơ của anh tuyệt vời! Thí dụ như:

…Trước mắt trẻ thơ, tinh cầu chỉ là chấm nhỏ
Càng tối đen, càng nhìn rõ xa xanh.
…Mắt phàm tục đăm đăm vương chút lệ
Chút lệ này xuất hành từ trí tuệ con người.
…Hỡi biển cả,
Diện tuy rộng, nhưng thiếu những giác quan cần thiết
Lòng tuy sâu, mà chứa đầy mầu xanh mặn chát!
Bỏ mất mênh mông, chuốc lấy ồn ào
Tự thao túng cái thói hư nộ cuồng sóng vỗ
Trống trải, bơ vơ, chiều quả phụ
Bình minh vô vọng phương mờ…
Ôi, bao im lặng thanh cao
Đều chìm lăn trong thét gào man rợ!
…Vậy dẫu có vô cùng lớn lao gì đó
Ta chỉ yêu cầu phải hài hòa với vô cùng bé nhỏ mà thôi!

Chỉ một bài Biển Cả đã nhiều câu hay thế rồi, tôi đâu có nói quá!

Anh Cung xúc động, nắm tay tôi:

– Cảm ơn, anh đã khích lệ tôi nhiều lắm.

Có tiếng mở cửa. Chúng tôi im lặng.

Thiếu úy Võ, cán bộ trực trại đi vào phòng.

Nhìn lên sàn, thấy chúng tôi, hắn quát:

– Ốm đau nghỉ nhà, lại tụ tập trà lá, văn thơ chửi chế độ. Ai cho phép đun nấu? Tôi cùm cổ các anh lại!

Hắn đi cả giầy đầy bùn ướt, leo lên chiếu tôi:

– Đưa cái ca đây!

Tôi ôn tồn trình bày:

– Tôi xin nước sôi ở nhà bếp, không đun nấu. Anh Cung với tôi biết nhau từ ngoài xã hội. Anh đem cho tôi ít thuốc lào. Trời mưa rét, chúng tôi uống tí trà cho đỡ lạnh. Ho lao sắp chết cả, thơ văn gì nữa.

Võ trợn mắt:

– Im, không được chối. Tôi đứng ngoài nghe hết cả rồi!

Anh em ở trại đã cho tôi biết cán bộ Võ, người miền Nam tập kết đã nhiều tuổi, nghiện trà cực nặng, không ác, chỉ phải tính hay nạt nộ nhưng lại thích người khác nói nhẹ nhàng.

Tôi chống chế:

– Cán bộ ở ngoài nghe thì đã rõ là chúng tôi không nói xấu chế độ. Anh Cung theo Đảng chống Pháp từ 16 tuổi, nhất thời lệch lạc về tư tưởng, Đảng chỉ cho vào đây “uốn nắn” lại. Đời nào anh ấy nói xấu Đảng.

Võ trợn mắt nhìn anh Cung, quát to hơn:

– Về ngay bệnh xá!

Rồi quay sang tôi:

– Chiều đi làm ngay!

Thế là chúng tôi hết bay bổng. Rơi tõm xuống thực tại.

Từ đó chúng tôi thỉnh thoảng gặp nhau.

Khi có trà, khi không. Toàn nói về thơ.

Mấy tháng sau, anh Cung ra khỏi bệnh xá, vào toán đan lát. Cùng một toán, chúng tôi ở cùng một phòng, tha hồ chuyện trò.

Anh em tù cũng xếp Phùng Cung vào loại “phạm binh, phạm cán”, nghĩa là những kẻ “Hồng Kỳ sinh, Hồng Kỳ dưỡng, lạc điệu một chút, bị Đảng tống vào trại giam, nhưng vẫn còn tương đối “vững lập trường“, vẫn “cách mạng. Lúc đầu họ tưởng họ chỉ cải tạo ngắn hạn rồi Đảng sẽ “xét lại” cho về.

Họ cũng ăn, ở, làm, y hệt chúng tôi, nhưng họ vẫn tự hào tuyên bố là họ “tù khác!”, làm tôi phì cười.

Số phạm binh, phạm cán này khá nhiều, Ban Giám Thị không ưu tiên hết được. Chỉ một số nhỏ được làm văn hóa, trật tự, trực phòng, toán trưởng các toán…

Những năm đầu, chúng tôi khổ với họ.

Những cuộc họp trong toán thường do họ điều khiển.

Những phương pháp kiểm điểm, phê bình, tố giác, chụp mũ họ xử dụng thô bỉ, đểu cáng hơn ngoài xã hội nhiều! Nhưng rồi ba năm, sáu năm, chín năm…

Ăn hết “lệnh” này tới “lệnh” khác, vẫn tù – lệnh là “lệnh tập trung”, ba năm một lệnh.

Họ uất ức, lên án chế độ thậm tệ, và… đi cùm, tỉnh dần dần.

Công bằng mà nói, cũng có một số phạm binh, phạm cán có tư cách, không cáo cò, không hành hạ bạn tù, mà thông cảm với số phận oan khổ của mọi người. Họ nhận thức được họ cũng cùng một kiếp, cũng là nạn nhân cả, không có “tù khác” gì hết!

Làm ăng-ten – mà tù miền Bắc chúng tôi gọi là béc-giê – thành phần nào cũng có: Tư sản, địa chủ, công nông, sĩ quan, binh lính, viên chức thời chính phủ quốc gia Bảo Đại, trí thức…

Chỉ riêng những người Công giáo, Phật giáo, những linh mục, tu sĩ, nhà sư là rất hãn hữu.

Điều này chứng tỏ tôn giáo vô cùng hữu dụng trong việc duy trì nhân phẩm, đạo đức loài người!

Phùng Cung là một trong số rất ít những kẻ “cờ đỏ đẻ, cờ đỏ nuôi” nhìn suốt vấn đề, dứt khoát với Đảng với chủ nghĩa Mác Lê khá sớm.

Nhiều đảng viên tù lâu cũng chán Đảng, Bác.

Nhưng tâm trạng họ vẫn là tâm trạng “Dẫu lìa ngó ý, còn vương tơ lòng.

Anh Cung tâm sự với tôi là phải trải qua nhiều năm suy tư, nhận xét, phân tích nghiêm túc, anh mới khai tử được chuỗi mơ hồ, mới làm nổi những câu thơ như:

Ngộ độc rồi, lại chuốc độc lẫn cho nhau!

Độc đây là chủ nghĩa Mác Lê, là thiên đường Cộng Sản đầy ảo ảnh huyễn hoặc như “Làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu, Thế giới đại đồng không còn biên giới, Xã hội không còn giai cấp, không còn người bóc lột người, mọi bất công, áp bức đều tan biến, chỉ còn lao động sáng tạo và thương yêu.

Để đi tới cái tương lai lấp lánh đó thì bạo lực phải là bà đỡ của cách mạng, giai cấp vô sản phải là kẻ đào mồ chôn giai cấp hữu sản, nông dân phải đạp đầu địa chủ xuống bùn đen vạn kiếp, Đảng Cộng Sản phải là Đảng duy nhất lãnh đạo, Đảng kiểu mới, phải có nền chuyên chính bằng thép; văn hóa, nghệ thuật, giáo dục chỉ có một nhiệm vụ duy nhất là xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa, nhà văn, nhà thơ phải là “kỹ sư tâm hồn“, trái tim của nghệ sĩ phải thuộc về Đảng, phải coi tôn giáo là thuốc phiện, là phản động, và như Lê Nin nói “Không thừa nhận một thứ đạo lý nào khác. Cái gì có lợi cho Đảng, cái đó là đạo lý“; “Kẻ nào không đi với chúng ta, kẻ đó là kẻ thù“; “Chúng ta không xoa đầu kẻ thù, mà chúng ta phải bóp vỡ sọ chúng!“. Đến nỗi Maxim Gorki phải kêu lên: “Nếu quan niệm đơn giản như thế, thì mọi giá trị bị phá hủy hết“.

Nhiều người nhiễm độc nặng đến nỗi như bị quỷ ám, không nhận ra rằng họ đương xây con đường lên cái chân trời Cộng Sản mù mịt đó bằng thây người, bằng nước mắt, mồ hôi, rớt rãi, cơ hàn, chiến tranh, lao tù, gian dối, thủ đoạn tàn bạo, bằng ngu tối, vô luân, vô sỉ, bằng nô lệ kềm kẹp, bằng hủy diệt tất cả những gì mang tính người! Chẳng khác gì muốn làm một bữa tiệc ngon mà dùng toàn đồ thiu thối, đầy ròi bọ, đầy chất độc.

Phật, Chúa, Khổng Tử đều mong muốn nhân loại “yêu thương nhau, hỉ xả từ bi, bốn bể là anh em” và răn mọi người phải tu thân, phải làm điều thiện, phải có lòng lành ngay cả trong những việc nhỏ nhặt hàng ngày. Tóm lại là phải tu nhân tích đức.

Cộng Sản lại coi những khuyến dụ đó là ru ngủ, là mê tín, là phản động, lạc hậu.

Từ đầu thế kỷ này, Lê Nin đã ngây thơ khẳng định rằng chế độ tư bản đang giẫy chết. Y hẳn không ngờ rằng nó giẫy gần một thế kỷ rồi vẫn không chết mà ngày càng cường tráng.

Còn chế độ của y và Đảng y dầy công dựng lên thì chỉ ra đời mới có bảy mươi năm đã chết không kịp giẫy!

Các triều đại phong kiến của một dòng họ cũng kéo dài 800 năm, 400 năm, 300 năm, 200 năm, chế độ tư bản cũng hình thành mấy thế kỷ rồi mà vẫn đầy sức sống.

Tại sao chế độ Mác Lê lại chết yểu như vậy?

Chính vì tính chất Phi Nhân của nó!

Phùng Cung vốn là tín đồ Mác Lê, nhưng anh lại gọi chủ nghĩa Mác Lê là “Học thuyết King Cobra“, lại nhận xét về Đảng tính như thế này:

Tổ chức rèn bằng được cho tôi thú tính.
Bước quá độ vững vàng để tiến lên Đảng tính!

Để tẩy hết được chất độc, cho tâm hồn trong sáng, anh đã phải treo xác mình lên cửa quan biến hóa, như mấy câu thơ rất triết lý trong bài Dòng Sông của anh đã nêu rõ:

Trong sông, những giọt nước nhỏ nhoi,
tôi con của vô tận.
Buổi du hành, lòng vương sầu xứ.
Nguyện treo xác mình lên cửa quan biến hóa.
Hẹn bước trở về trong sáng ngàn thu…

Giống như Khuất Nguyên, Phùng Cung vấn thiên:

Nhà thơ hỏi Không Trung
Hỏi đủ ba lần
Cả ba lần đều được trả lời bằng một màu xanh
bất tận!

Để đi tới một kết luận, Phùng Cung thường phải suy nghĩ gian nan lắm. Anh nói bằng một hình tượng dân gian rất quen thuộc, nhưng dưới ngòi bút anh trở thành mới lạ:

Mỗi ý nghĩ trong ta đều trải qua lặn lội.
Như phận chiếc cò lặn lội trong phong dao…

Nằm trong tù, anh thấm hiểu rằng nuôi nấng anh, dạy anh làm người là người mẹ đầy yêu thương, đầy nghị lực, chứ  không hề phải là Đảng, Bác:

Mồ hôi mẹ tháng ngày đăm đăm nhỏ giọt.
Con níu giọt mồ hôi đứng dậy làm Người.

Hai câu thơ này, cũng như nhiều câu thơ khác của Phùng Cung, bộc lộ rõ tài sáng tạo chữ, sáng tạo hình tượng nghệ thuật của anh.

Những chữ “đăm đăm, níu“, toàn là những chữ bình thường hàng ngày, nhưng dùng đúng chỗ, đắc địa, chúng trở thành độc đáo, gợi cảm vô cùng: hình ảnh người Mẹ lao động cực nhọc, lầm lũi, bền bỉ, năm này qua năm khác. Người con bé bỏng níu vào giọt mồ hôi đăm đăm chảy xuống của Mẹ, mà đứng dần lên khôn lớn làm người, diễn tả một cách xúc động công lao dưỡng dục trời biển của Mẹ.

(Còn tiếp Truyện 5: Phùng Cung)

Share this post