Hỏa Lò (Tập Truyện – Nguyễn Chí Thiện) Truyện 6: Sương Buồn Ôm Kín Non Sông (Tiếp theo)

Hỏa Lò (Tập Truyện – Nguyễn Chí Thiện) Truyện 6: Sương Buồn Ôm Kín Non Sông (Tiếp theo)

HỎA LÒ
* Tập Truyện Nguyễn Chí Thiện
* Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông xuất bản (Virginia, 2001)
* Tủ Sách Tiếng Quê Hương & Người Việt tái bản (Virginia, 2019)

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học Truyện Ngắn & Bút Ký.

HỎA LÒ
TRUYỆN 6: SƯƠNG BUỒN ÔM KÍN NON SÔNG
(Tiếp theo)

Thấy đuôi mắt Phó Nhòm có nhiều vết nhăn, lão hỏi:

– Anh năm nay bao nhiêu tuổi?

– Tôi sinh năm 1928. Năm nay, năm mươi lăm tuổi. “Năm mươi lăm tuổi hãy mừng ta / Còn bốn lăm năm nữa đó mà. Tôi người làng Vân Đình, cùng quê với cụ Nghè Dương Khuê.

– Anh là đảng viên phải không?

Phó Nhòm ngạc nhiên:

– Ủa, sao ông bạn biết?

– Đoán vậy thôi.

– Ông bạn đoán đúng. Tôi vào Đảng từ năm 1953. Trong kháng chiến, tôi là bộ đội. Tôi có mặt cả trong chiến dịch Biên Giới lẫn Điện Biên. Năm 1956, tôi chuyển sang ngành ngoại thương. Tôi “giác ngộ” tương đối sớm, nhưng cũng quá muộn để làm lại cuộc đời. Sau Cải Cách Ruộng Đất, sau vụ Nhân Văn, là tôi biết mình lầm. Những năm kế tiếp, tôi càng sáng tỏ vấn đề. Đất nước thống nhất, tôi có dịp đi công tác vào Nam ngay. Qua vùng đồng bằng sông Cửu Long, tôi thấy tận mắt nông dân dùng cả gạo để nuôi lợn. Quá no đủ. Đầy tình người. Đặt chân tới thành phố Sài Gòn, tôi giật mình. Phồn thịnh quá! Hạnh phúc quá! Trẻ con thời ngoan ngoãn, lễ phép. Hóa ra tuyên truyền toàn bố láo. Cả một cuộc sống như vậy mà không biết giữ lấy. Thực đáng tiếc, đáng trách. Trở ra Hà Nội, tôi có dịp gặp lại cụ Vũ Đình Huỳnh. Trong kháng chiến chống Pháp, tôi đã gặp cụ vài lần. Một cụ già đạo mạo, trang trọng. Nét cương nghị, trung thực, hiện rõ trên vẻ mặt ưu tư, buồn buồn. Ông cụ ngậm ngùi nói với tôi: “Anh bạn ạ, Sài Gòn là một thành phố bị chiếm đóng. Không phải là một thành phố được giải phóng. Chỉ vài năm thôi, nó sẽ giống Hà Nội. Tôi cả đời đi làm cách mạng, hy sinh tất cả, chỉ mang trong lòng một nguyện ước: Đất nước được độc lập. Dân tộc được tự do, no ấm. Tôi đã không làm được điều đó. Thực đắc tội với đồng bào.

Nói thực với ông bạn, nếu các vị trong Bộ Chính Trị, trong Trung Ương mà ai cũng có một tấm lòng như cụ Vũ, thì tôi cũng không nằm đây, ông bạn cũng không nằm đây. Khốn nỗi, toàn một bọn cơ hội, đầy tham vọng cá nhân thấp hèn, đầy thủ đoạn hung hiểm, chỉ lo củng cố quyền lực, dối dân, mị chúng, đạo đức giả, núp sau nhãn hiệu cách mạng để làm những việc phản cách mạng, phản tiến hóa, núp sau nhãn hiệu Nhân Dân để làm những việc phản Nhân Dân. Lời nói thì đề cao con người. Việc làm thì hạ nhục con người.

Nghe Phó Nhòm tâm sự, thoạt tiên, lão nghi gã định gài bẫy lão.

Sau thấy vẻ phẫn nộ thành thực của gã, lão lại nghĩ có lẽ anh chàng này là một ăng-ten bất đắc dĩ.

Nhưng đối với lão, chuyện đó không thành vấn đề.

Lão chẳng có gì để phải giấu giếm, phải đóng kịch.

Nhìn kỹ mặt Phó Nhòm, nhất là đôi mắt, lão thấy không có những ánh nham hiểm, điêu trá. Khi gã cười, lão còn thấy gã có vẻ chất phác, lương thiện.

Lão thành tâm khuyên:

– Anh ăn nói thẳng quá. Đến tai công an, nguy hiểm đấy. Tôi đã gặp nhiều người chết vì vạ miệng. Mới gặp tôi, anh đã phản tuyên truyền như vậy. Anh không sợ sao? Anh biết tôi là người thế nào? Từ rầy, phải cảnh giác một chút.

Phó Nhòm cười rất tươi:

– Tôi có con mắt tinh đời. Ông bạn đâu có thể là loại chó săn, chim mồi! Hơn nữa, ông bạn ở đây rồi sẽ thấy. Trong xà lim này, họ chửi lung tung cả. Ức quá, ai mà nhịn được. Tôi thuộc loại giữ miệng đấy. Nhưng gặp ông bạn là người hiểu biết, có phong độ quân tử, tôi nói cho hả. Ở đời, cũng phải tin nhau một chút chứ. Nghi ngờ tất cả, sống sao nổi!

Lão cười:

– Vậy thì chúng ta hãy sống thực với nhau. Tôi hỏi anh, án mấy năm? Sắp hết án chưa?

Phó Nhòm vỗ đùi:

– Đúng là tôi có con mắt tinh đời mà! Tôi biết không qua mắt nổi ông bạn. Tôi bị xử ba năm. Bốn tháng mười ngày nữa là hết án. Tôi nằm ở các xà lim đã 16 tháng rồi. Chúng nó muốn dùng tôi làm ăng-ten, giúp chúng điều tra các vụ án chính trị, vì tôi là đảng viên. Thực tế, tôi chẳng giúp được bọn chúng cái gì cả. Tôi có thể ăn cắp của công. Tôi không ăn cắp, thì những thằng khác cũng ăn cắp. Nhưng lợi dụng lòng tin của bạn tù, rồi hãm hại họ, tôi chịu, không thể làm nổi. Nó khốn nạn quá, độc ác quá. Mặt khác tôi cũng quý họ, phục họ. Không có những người can trường như họ, lịch sử không tiến được! Chúng nó hứa, được việc, sẽ giảm cho tôi 6 tháng. Nếu tôi nhẫn tâm, thì giờ này tôi đã nằm nhà rồi. Tôi nghĩ, nên để cái phúc cho con cháu.

– Không làm theo ý họ, sao anh không bị tống đi trại?

– Tiền, tiền. Đa số nằm đây đều phải chi cả.

– Thế sao lúc đầu anh lại nói dối tôi là mới bị bắt hai tháng?

– Tôi đã nằm ở xà lim 1 này hơn sáu tháng, ai cũng biết, dối sao được. Thằng đầu gấu cũng đoán được tôi là ăng-ten, nên lúc nẫy nó nhắc anh phải cảnh giác. Bọn chấp pháp ngu, dặn tôi là bao giờ cũng phải nói là mới bị bắt, không được tiết lộ bí mật. Nhưng bí mật gì? Chỉ cần tinh ý một chút, nhìn nội vụ là biết ngay đã tù lâu. Nằm với ai, tôi cũng nói là mới bị bắt hai tháng. Chẳng khác gì gián tiếp báo cho họ phải đề phòng. Nếu tôi thực tâm muốn làm việc cho lũ chúng, tôi phải có kế hoạch. Chứ đâu đến nỗi ngu như thế.

Có tiếng giày ở ngoài sân.

Cả xà lim im lặng.

Hai tên công an võ trang mở khóa loảng xoảng, đi vào hành lang. Chúng mở cửa gió từng buồng, nhìn vào điểm người, rồi đóng lại.

Tới buồng bà Sài Gòn, một tên ngó vào, nói nhỏ cái gì.

Phó Nhòm len lén đứng lên cùm nghé.

Gã thấy bốn cái lạp xường được lần lượt đưa qua song sắt. Tên võ trang kín đáo để vào tờ báo, rồi gập lại.

– Trời nóng quá. Cán bộ mở hộ cửa gió, cho các buồng thoáng một chút.

– Được, nhưng cấm nhòm ngó sang buồng khác trò chuyện!

Phó Nhòm vội vã ngồi xuống sàn.

Hai tên võ trang mở cửa gió ở các buồng, rồi khóa cửa khu xà lim, đi ra.

Gã đầu gấu cười hề hề:

– Bà cô đúng là ân nhân của xà lim. Chúng cháu có quỳ lạy nó, cũng đừng hòng nó mở.

Phó Nhòm thì thào:

– Bốn lạp xường to đùng. Ông bạn xem, vào tù rồi, mà bọn tư sản vẫn oai thế. Quản giáo, võ trang răm rắp tuân lệnh.

Lão ngán ngẩm:

– Trên trại cũng vậy. Những người nhiều tiền, sai khiến bọn quản giáo như sai đầy tớ. Chỉ giai cấp vô sản là khổ. Quanh năm ăn tiêu chuẩn trại. Lại hay bị đánh đập, cùm kẹp. Chết như ruồi. Bây giờ đến lượt tôi mời anh cùng ăn sinh nhật với tôi.

Lão đưa cho Phó Nhòm hai phong bánh đậu xanh, hai phong bánh khảo.

Gã nhoẻn miệng cười, đỡ lấy:

– Tôi không khách sáo như ông bạn đâu. Tôi ăn ngay. Từ nay, chúng ta coi nhau như bạn. Mong ông bạn đừng từ chối tôi cái gì nữa. Vài hôm nữa, tôi gặp vợ. Ông bạn có muốn nhắn gì cho cô em gái không?

– Anh nhờ chị ấy nhắn hộ với em tôi là tôi đã về Hỏa Lò. Bảo nó gửi cho tôi một ít Vi-ta-min C, một bàn chải, một hộp thuốc đánh răng, một bộ quần áo. Nói với nó là tôi vẫn khỏe.

– Có thế thôi?

Lão buồn rầu:

– Vợ chồng nó nghèo, đông con. Xin thế đã làm lệch quỹ gia đình nó rồi. Tôi áy náy lắm.

Tiếng gã đầu gấu oang oang:

– Đề nghị mấy em hát mừng sinh nhật ông chú đi. Buồng 9 mở đầu, rồi đến buồng 8, buồng 10.

Một cô gái lên tiếng:

– Cháu hát bài Đợi Anh Về, chúc mừng ông chú sẽ được về nhé.

– Hoan hô! Hoan hô!

Em ơi, đợi anh về.
Đợi anh hoài, em nhé.
Mưa có rơi dầm dề.
Ngày có buồn lê thê.
Thì em ơi, cứ đợi.
Anh của em trở về…

Lão già ngạc nhiên:

– Đứa nào mà hát hay thế? Có phải ca sĩ chuyên nghiệp không?

– Không phải, con tây đen đấy. Quê nó ở Từ Sơn, Bắc Ninh. Nó là sản phẩm một vụ hiếp dâm trong kháng chiến chống Pháp. Nó hát quan họ Bắc Ninh mới tuyệt! Giọng nó khỏe lắm. Có nó, xà lim này cũng đỡ buồn.

– Nó tội gì vậy?

– Không rõ. Nó không bao giờ nói cả. Cũng không tiện hỏi. Có khả năng con này là ăng-ten. Nằm cùng buồng nó, là một em bị kết tội buôn đô-la. Mới bị bắt. “Co quắp” trông rất sex-appeal! Cảnh sát khám được sáu trăm đô-la trong người nó. Thế là vào thẳng đây. Gần hai tháng rồi. Không tiếp tế. Có một bộ quần áo độc nhất trên người. Khổ lắm. Mụ Sài Gòn phải cho nó một bộ thay đổi.

Tiếng hát tiếp tục, lanh lảnh.

Điệu nhạc dồn dập, mạnh mẽ, lập đi, lập lại.

Đợi anh, anh trở về, trong chết cười ngạo nghễ…
Đợi anh, anh trở về, trong chết cười ngạo nghễ…

Rồi chuyển sang ngân dài, não nề:

Dù tuyết rơi, bão nổi
Dù nắng cháy, em ơi
Bạn cũ có quên rồi
Đợi anh hoài, em nhé….

Lão tấm tắc:

– Đúng là có giọng hát trời cho. Nếu được rèn luyện, thì sẽ vươn cao biết mấy. Xã hội đã vùi dập biết bao tài năng. Tiếc thật. Bài hát này phổ nhạc thơ Simonov, bài thơ hay nhất của ông. Tố Hữu dịch theo bản tiếng Pháp. Y dịch hỏng. Thí dụ hai câu tiếng Pháp là: “Quand la pluie au ton cuivré / Sème la tristesse” mà dịch là: “Mưa có rơi dầm dề. Ngày có buồn lê thê” thì không diễn tả được cái mầu vàng võ vàng, mung lung. Cái mầu vàng này chính là nỗi lòng héo hắt của người cô phụ chờ chồng nơi chinh chiến. Nhà thơ Lê Quang Dũng, trước kia tù cùng với tôi, dịch hai câu này tuyệt vời:

Nắng chiều nhuộm sắc mưa sa
Sầu em cũng chín như là hoàng hôn.

Anh có thấy một trời, một vực không? Còn hai câu:

Dù tuyết rơi, bão nổi
Dù nắng cháy, em ơi.

Thì dịch lạc hẳn ý. Nguyên văn tiếng Pháp là “Attends-moi, quand l’été rayonne / Mais tout l’hiver, attends. L’été rayonne” là “mùa hè lấp lánh”, đánh thức bản năng sống. Không ăn nhập gì tới “nắng cháy” cả. “Mais tout l’hiver, attends” là suốt mùa đông lạnh lẽo, cần tình yêu sưởi ấm, vẫn âm thầm, cô đơn chờ đợi. Tương “Tuyết rơi” với “Bão nổi” vào làm gì?

Phó Nhòm thán phục:

– Ông bạn xuất thân nhà binh. Dân lính tẩy, mà cũng sành văn thơ. Lạ đấy!

Tiếng cô tây đen vang lên:

– Bây giờ cháu hát bài Tiếng Hát Dân Chài. Ông chú nghe nhé.

– Cháu hát tuyệt lắm. Hát đi.

Cả xà lim lắng nghe.

Tiếng hát dạt dào tình sóng nước, mênh mông, lồng lộng, đưa hồn người thoát khỏi cảnh ngục tù ảm đạm, bay bổng giữa trời biển bao la, bát ngát:

Ô, này anh em ơi! Tôi nhớ một chiều
Ánh lửa bừng soi thân yêu…
Vi vu mà lên cao, nhấp nhô ngọn triều…

– Hát to lên, cho bên này nghe với! Con sơn ca của anh!

Tiếng từ khu xà lim 2, tận gần giàn nho, vọng tới.

Khi cô ca sĩ hát hết bài, cả xà lim rầm rộ vỗ tay tán thưởng. Bà Sài Gòn nói:

– Cô thưởng cho cháu ít ô mai, ít kẹo chanh, cháu ăn cho ngọt giọng nhé.

– Cám ơn cô. Đợi cháu hát nốt bài thứ ba hãy. Đây là bài dân ca Quan Họ, quê cháu. Mẹ cháu dạy cháu từ bé.

Gã giặc lái tử hình kêu lớn:

– Hát đi. “Chỉ nghe tiếng hát mà lòng yêu thương” rồi đó!

Cô gái da đen hồn Việt lại cất tiếng hát.

Điệu hát mang hồn quê hương, xứ sở, như nức nở, như nhắc nhở, tình nghĩa keo sơn, muôn đời không dứt, không quên, tha thiết, níu kéo.

Người ơi, người ở, đừng về!
Người về… về có nhớ…
Mà này, vạt áo, đừng có ướt đầm…
…ướt đầm như mưa…
Người ơi, người ở, đừng về!

Khi tiếng ca ngừng, xà lim lặng đi.

Rồi một tràng pháo tay nhiệt liệt, vang dội.

Lão đứng lên, nhìn ra hành lang, xúc động:

– Cám ơn cháu, cháu hát hay quá. Đây là lần thứ nhất tôi mừng sinh nhật, các bạn ạ. Tối nay quá là vui. Vui nhất trong đời tù của tôi. Vui đến nỗi tôi muốn ở đây, đừng về nữa. Nếu sau này có về, tôi sẽ mãi mãi nhớ tối nay. Nhớ, có thể vạt áo sẽ ướt đầm như mưa.

– Ông chú đa cảm quá đấy. Đến lượt buồng 10, hát!

Gã đầu gấu đùa, ra lệnh.

Một tiếng cục cằn từ ngoài sân, quát lớn:

– Câm mõm hết! Hát hỏng nữa, tôi cùm cả lại. Đi ngủ!

Phó Nhòm nói nhỏ với lão:

– Tên phó giám thị đấy. Mặt sắt đen xì, mất hết tình người. Trái ý nó là cùm. Anh em gọi nó là Thần Cùm.

Đợi Thần Cùm đi khỏi, Phó Nhòm nói to:

– Xin lỗi quý vị thính giả. Buổi văn nghệ tối nay tạm ngừng, vì lý do trục trặc kỹ thuật. Tối mai, thứ bẩy, xin hẹn gặp lại quý vị.

Gã đầu gấu càu nhàu:

– Đang du dương, thì bị địch gây nhiễu. Làm một hơi tiêu sầu vậy.

Rồi ong ỏng hát:

Nhớ nhà châm điếu thuốc.
Khói huyền bay lên cây.
Có phải sầu vạn cổ,
Chất trong hồn chiều nay…

– Đ… mẹ nó, nhớ vợ, thương con, thèm thịt chó!

Lão nằm xuống, mệt mỏi:

– Hôm nay, tôi cũng nhọc, phải ngủ. Anh ngủ chưa?

– Tôi còn lâu. Muỗi nhiều đấy. Buông màn mà ngủ. Trên tường, có sẵn mấy cái lỗ nhét đầy giẻ, dây thò ra. Ông bạn có thể mắc màn vào đó. Lấy tạm miếng các-tông này mà quạt. Nóng thực.

– Tôi nằm không cho thoáng cái đã. Buông màn ngột ngạt lắm.

– Tùy ý. Chúc ông bạn ngủ ngon.

Phần đi đường mệt. Phần no bụng. Một lúc, lão thiếp đi.

(Còn tiếp Truyện 6: Sương Buồn Ôm Kín Non Sông)

Share this post