Hỏa Lò (Tập Truyện – Nguyễn Chí Thiện) Truyện 6: Sương Buồn Ôm Kín Non Sông (Tiếp theo)

Hỏa Lò (Tập Truyện – Nguyễn Chí Thiện) Truyện 6: Sương Buồn Ôm Kín Non Sông (Tiếp theo)

HỎA LÒ
* Tập Truyện Nguyễn Chí Thiện
* Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông xuất bản (Virginia, 2001)
* Tủ Sách Tiếng Quê Hương & Người Việt tái bản (Virginia, 2019)

* Để đọc những phần đã đăng, xin vào khung Search this site (Tìm Kiếm) và gõ tên tác giả: Nguyễn Chí Thiện.

HỎA LÒ
TRUYỆN 6: SƯƠNG BUỒN ÔM KÍN NON SÔNG
(Tiếp theo)

Ngày qua ngày, lão ở xà lim thấm thoát đã hai tuần.

Lão không xin gặp tên cục trưởng. Lão biết khi khước từ sự cộng tác với công an, cánh cửa nhà tù sẽ tiếp tục khép chặt. Lão đã tỏ rõ lập trường ngoan cố, không chịu phục vụ cách mạng. Lão thở dài. Không còn lựa chọn nào khác.

Phó Nhòm đối với lão đã trở thành một người bạn tâm tình. Lão thấy gã có học vấn, thẳng thắn, tốt bụng và rất ghét chế độ. Gã cứ tiếc rẻ: “Giá miền Nam mà giải phóng miền Bắc thì tốt biết bao!

Từng ở trong Đảng nhiều năm, gã khẳng định guồng máy độc tài này chỉ mang lại tai ương cho dân tộc. Từng được đi ngoại quốc, gã khẳng định kẻ nào đã sống trong chế độ, đã được nhìn thấy thế giới, với tất cả cái tốt, cái xấu của nó, mà còn chấp nhận được chế độ, thần kinh kẻ đó phải có vấn đề.

Em gái lão đã gửi quà cho lão.

Kèm theo một lá thư khuyên lão hãy đón nhận sự “mở đường” của Đảng.

Xem thư, lão lắc đầu. Chúng nó vận động cả cô em lão, để lung lạc lão.

Quà chỉ có mấy cân mì rang, vài lạng đường Cuba, ít muối vừng. Mang tiếng là có tiếp tế mà không có gì đáp lại những người cho quà mình. Lão áy náy.

Phó Nhòm an ủi:

– Họ cũng biết ông bạn nghèo. Chẳng ai nhỏ nhen, để ý đâu. Mụ Sài Gòn cho ông bạn nhiều thực. Trông ông bạn đã bắt đầu có da, có thịt rồi đó. Trẻ hẳn lại.

– Biết vậy, nhưng tôi vẫn thấy ngượng. Thường tình, có đi, có lại, mới toại lòng nhau.

– Cả xà lim này, ai chả biết ông bạn rộng rãi. Riêng khoản thuốc lào, thuốc lá, nếu ông bạn đổi chác, cũng đủ no hàng tháng là ít. Gã thượng úy bộ đội cũng được ông bạn chia xẻ. Ai cũng phục ông bạn.

– Nó không biết ăn dè như mọi người. Cứ hỏi xin tôi luôn. Nghĩ cũng khổ tâm.

Một buổi chiều, cơm nước xong, Ngưu Ma Vương mở cửa buồng, bảo lão:

– Anh thu xếp nội vụ. Chuyển sang buồng 1.

Phó Nhòm tái mặt. Hai người ở với nhau đang hợp, đang vui. Gã thấy bàng hoàng. Gã chưa quen với cảnh bạn bè chia tay đột ngột trong tù.

Lão thu xếp đồ đạc, chuyển sang buồng 1.

Gã thượng úy bộ đội hớn hở:

– Bố ở với con. Con sẽ hầu hạ bố, đấm bóp cho bố.

– Buồng này gần nhà vệ sinh, ẩm mốc, hôi hám quá. Mai phải báo cáo cán bộ, xin cọ rửa.

– Nếu được phép, mai để con làm. Bố già yếu rồi, cứ nghỉ ngơi. Con còn thanh niên. Con xin xốc vác hết.

– Mày năm nay bao nhiêu tuổi?

– Con ba mươi mốt.

– Bị bắt lâu chưa?

– Mới mười tháng. Con bị nhốt mấy tháng ở Bất Bạt, trại giam quân đội. Không hiểu sao lại chuyển về đây. Trại quân đội đỡ hơn. Ở đây đói quá.

Gã đầu gấu kêu:

– Ông chú ơi, ông chú ở buồng ấy là buồn rồi.

– Vẫn cùng xà lim. Xa hơn có bốn thước. Không buồn đâu.

– Thằng thượng úy, mày mà hỗn với ông chú thì biết tay tao.

Phó Nhòm nói sang:

– Ở với nhau đang vui. Ông bạn chuyển sang đó. Chán quá.

– Anh em hiểu nhau là đủ. Xa một chút, không sao.

Gã thượng úy nhìn lão:

– Con đói quá. Bố có gì cho con ăn với.

Lão ngạc nhiên:

– Hôm kia, tao mới cho mày một cân mì rang. Đã hết rồi?

– Con ăn một lúc hết ngay.

– Ăn lối đó, không được. Phải chia ra mà ăn. Cốt cầm cự, giữ sức khỏe. Không nên ăn cho đã. Tao về đây, nếu hàng tháng được tiếp tế vài cân mì rang, là may rồi. Trên trại, đường xá xa xôi, cô em chỉ tiếp tế vào dịp Tết thôi. Tù còn dài, phải chịu đựng cái đói, cái khổ, cho quen đi.

Lão pha một ca nước đường, rồi bốc vài nắm mì rang cho gã. Lão cũng bốc vài nắm, để lên miếng các-tông lão vẫn dùng làm quạt.

– Bố không uống à?

– Mỗi ngày chỉ uống một lần. Tao uống rồi.

Gã nốc một hơi hết ca nước. Rồi bốc mì, nhai ngấu nghiến. Vài phút hết sạch.

– Mày can tội gì?

– Con đóng quân ở Lào. Con phụ trách chở lương thực sang Thái, giúp du kích Thái. Con ăn tiền, đưa người vượt biên. Được mấy chuyến thì bại lộ.

– Sao không ai tiếp tế cho mày?

– Bố mẹ con đã chết. Con chưa có vợ. Có một ông anh, thì đã trốn sang Úc.

– Mày đi bộ đội từ năm nào?

– Con đi bộ đội từ năm 17 tuổi. Con phải khai man thành mười tám. Quê con ở Thái Bình. Mang tiếng là vựa thóc, là “Quê hương năm tấn“, nhưng đói lắm. Bình quân, mỗi đầu người hàng tháng chỉ được chín cân gạo. Bố tính, sức thanh niên chúng con, kể cả con gái, phải ăn mỗi ngày một cân gạo mới tạm no. “Mười bảy bẻ gẫy sừng trâu” mà. Hàng năm đi thủy lợi, mỗi người phải góp một cân gạo mỗi ngày. Thế mà phải ăn như rồng cuốn. Ai ăn chậm thì đói. Để con kể cho bố nghe. Năm đó, có con bạn cùng xóm. Nó đem dăm lạng cá mòi khô đi thủy lợi. Sau mười ngày, lại mang nguyên về. Bọn chúng con cười vỡ bụng. Số là, nếu ăn cá nhằn xương, chậm chạp thì cơm sẽ bị mấy cô bạn cùng mâm ăn hộ bớt. Thành thử, không dám đụng tới cá. Chúng con hát giễu cô ta: “Cá đi rồi cá lại về, làm cô ta xấu hổ, đỏ cả mặt. Con đói từ bé. Còn nhớ năm con mười tuổi, một buổi tối, bố con nằm ở chõng, cứ thở dài sườn sượt. Một lúc, bố con chửi: “Mang rổ khoai luộc mẹ nó đi. Sáng mai nhịn cũng được. Con sướng quá, bê rổ khoai, nhảy vọt qua bậc cửa, bị vấp ngã, gẫy mất cái răng cửa. Từ đó bạn bè gọi con là thằng sứt. Cái răng sứt vẫn còn đây.

Gã cười, nhe răng cho lão xem.

Lão vét nốt mấy sợi mì, uống một ngụm nước.

– Thế mày trúng tuyển bộ đội ngay?

– Vâng, được biết trúng tuyển, con mừng hơn mẹ con sống lại. Thế là hết cảnh đói mòn, đói mỏi. Mấy đứa gầy yếu quá bị loại, buồn như cha chết. Có đứa khóc.

– Hồi đó chúng mày có biết đi B, chết rất nhiều không?

– Chúng con biết chứ. Trai làng bao đứa đã vong mạng. Hai thằng em họ con cũng đã chết ở Khe Sanh.

– Chúng mày không sợ chết à?

– Chẳng đứa nào sợ cả. Cái đói triền miên đáng sợ hơn nhiều. Bố bảo, đi bộ đội, chết chưa thấy đâu đã thấy no trước mắt. Hai mốt cân gạo, một cân rưỡi thịt, một cân đường, mỗi tháng. Nghe trên thông báo tiêu chuẩn đó, chúng con thèm rỏ dớt, rỏ dãi. Cứ như là một giấc mơ ấy. Chiến đấu dũng cảm được thăng chức lên sĩ quan. Tiêu chuẩn còn cao hơn nữa. Hơn đi thanh niên xung phong nhiều.

– Mày có ở Căm-pu-chia bao giờ không?

– Có chứ. Năm 79, con tiến công Căm-pu-chia theo đường Lào. Con gái Lào, Căm-pu-chia dễ dàng lắm, bố ạ. Nói thật với bố, hồi ở Căm-pu-chia, con ăn cả gan người. Thấy nói bổ lắm.

– Gan tươi hay gan khô?

Gã tiếc rẻ:

– Con chỉ mới được ăn gan khô thôi. Mấy thằng bạn con, chúng ăn gan tươi. Moi từ trong bụng ra, nhắm rượu luôn. Kể cũng tàn bạo.

– Mày không chết là may mắn lắm đó. Năm bảy mươi nhăm, tao xem báo Nhân Dân. Ông Chế Lan Viên nói là tổng số hơn ba ngàn cán bộ gửi vào hoạt động ở Lâm Đồng, chỉ có ba mươi người sống sót. Một tướng công an nói là cứ bốn mươi xe tải, mà một vào tới đích, coi như thắng lợi.

– Đúng vậy, bố ạ. Chết nhiều lắm. Đủ thứ chết. Chết bom đạn. Chết bệnh tật. Chết tai nạn, rơi xuống vực. Cánh vận tải chết vô số. Nhưng có hy sinh thế, mới thắng lợi.

– Mày đã vào đảng chưa?

– Con vào đảng lâu rồi. Không phải là đảng viên, làm sao lên được thượng úy.

Lão đứng dậy:

– Thôi, tao đi lại vận động một chút. Mày tham gia ca nhạc với xà lim đi cho vui.

Lão vừa đi lại trên sàn nằm, vừa nghe hát.

Khi chương trình kết thúc, lão ngồi xoa bóp toàn thân, rồi luyện khí công.

– Hút thuốc đi bố.

– Mày hút thuốc lào hay thuốc lá?

– Bố cho con thuốc lá.

Hút hết điếu thuốc, gã hỏi:

– Bố có gạo nếp phải không? Bà Sài Gòn mới cho bố mà. Kể bố cũng có duyên đấy chứ. Bà ta mê bố như điếu đổ.

– Đừng nói nhảm. Bà ta thương hại, bà ta cho thôi.

– Bố để con nấu cơm nếp ăn bây giờ nhá.

Lão ngạc nhiên:

– Lấy gì mà nấu? Xoong, nồi đâu?

– Con nấu bằng cái bô. Con đã cọ sạch sẽ. Xé cái chăn này ra để đun.

Lão cau mặt:

– Nấu bằng bô? Kinh tởm thế, nuốt sao được. Mà ngay cả có xoong nấu, cũng không nấu được. Mày muốn cùm à? Chúng tao đun hai ly con nước pha trà, mất độ vài phút là sôi, cũng phải có người đứng canh. Thổi cơm nếp, ít nhất mất nửa tiếng. Mùi chăn cháy khét lẹt. Cả Hỏa Lò ngửi thấy. Làm sao đun nổi. Chúng nó bắt được sẽ kết tội phá hoại tài sản nhà nước. Nếu mày thèm quá, mai tao sẽ nhờ nhà bếp nấu giúp. Thôi, ngủ đi.

Sáng hôm sau, Ngưu Ma Vương cho phép lão cọ buồng.

Hai người ra sức cọ rửa trong vòng mươi phút.

Mùi hôi đỡ hẳn. Lão nói:

– Mình phải cố giữ vệ sinh tới đâu hay tới đó. Muốn trụ được với nhà tù là phải thế.

Gã thượng úy bộ đội lôi từ gầm sàn ra một túi ni-lông toàn vỏ bưởi, vỏ chanh, vỏ chuối, lá bánh, nhồm nhoàm nhai.  Lão ghê sợ, ngăn lại:

– Không ăn được! Mày lấy ở trong cầu tiêu ra, phải không? Thằng này hỏng. Không thể tưởng tượng nổi! Cái thùng cao su đó chứa giấy chùi đít, giấy vệ sinh phụ nữ. Thế ra hằng ngày, mày vẫn moi những thứ này từ cái thùng đó ra ăn. Mày muốn chết đấy. Gói ngay lại. Chiều, vất đi hết. Đây, tao cho ít mì rang.

Gã len lét gói tất cả lại, vất vào gầm sàn.

Lão cảnh cáo:

– Bận sau mày còn ăn bẩn ăn thỉu thế nữa, tao sẽ báo cáo quản giáo, và cắt, không cho mày một thứ gì nữa. Kể cả thuốc lào.

Tối hôm đó, ngồi bình tĩnh, lão giảng giải:

– Tao thương mày, tao mới đối xử như vậy. Tao định tới khi hết mì rang, mới ăn tới gạo nếp. Nhưng thấy mày thèm quá, tao cũng nhờ nhà bếp nấu. Kẹo, bánh, đường, mì rang, muối vừng, tao dùng thứ nào, mày dùng thứ ấy. San xẻ đều. Tao biết, ăn thế không thấm tháp gì với mày. Kể cả với tao, cũng còn thiếu. Gọi là đỡ đói đôi chút. Chúng ta không có nhiều. Biết làm thế nào? Ăn căng rốn ra, hai ba hôm hết. Rồi cả tháng nhịn. Ăn kiểu ấy, không có lợi cho sức khỏe. Ốm đau trong tù, lại không có thuốc. Tao rất thông cảm. Tao tù hai mươi năm rồi. Tao quen với đói khổ hơn mày. Nhưng mày cũng cố luyện dần đi, để thích ứng với hoàn cảnh sống trong tù. Tội mày, ít nhất cũng phải năm, bảy năm. Sau này đi trại, nếu vì đói mà cứ gặp cái gì, ăn cái ấy, sẽ chết rất nhanh. Tuổi mày còn trẻ, phải cố mà sống. Hãy suy nghĩ kỹ lời tao nói: “Ăn để sống, chứ không phải để chết”.

– Con đâu muốn ăn những thứ dơ dáy đó. Con cũng là một con người. Một quân nhân cách mạng. Con có danh dự. Nhưng con đói quá. Không kiềm chế nổi.

– Tao hiểu. Trận đói năm bốn nhăm, chính mắt tao nhìn thấy, nhiều người còn ăn bậy hơn mày. Có trường hợp ăn cả thịt người chết. Bên Trung Quốc, những năm đói, nhiều ông bố, bà mẹ không nỡ ăn thịt con mình, phải trao đổi con với người khác để ăn. Nhưng chúng ta không đói đến mức như họ. Họ không có thứ gì để ăn cả. Chúng ta vẫn có ba lạng gạo hẩm một ngày. Tuy chỉ còn xương da, nhưng vẫn sống trong nhiều năm. Tao không nói chuyện danh dự với mày. Chuyện cách mạng lại càng không muốn nói. Cả một thực tế bi thảm không mở mắt được mày. Vài lời nói của tao, ăn thua cái gì? Tao chỉ muốn nhấn mạnh một điều, đó là cái mạng sống của mày. Muốn giữ được nó trở về, tuyệt đối không được ăn uống bừa bãi, mất vệ sinh. Cách duy nhất để chống lại sự hành hạ của cái đói là không nghĩ tới nó. Cứ nhắm mắt luyện khí công như tao là quên đi. Mày xem, gã đầu gấu, cô ca sĩ, cô buôn đô-la, và mấy người không có tiếp tế khác. Họ có no gì hơn mày đâu. Thỉnh thoảng được người ta cho, chẳng qua vài cái bánh, vài cái kẹo. Họ có cào cấu như mày đâu. Phải học tập họ.

– Vâng, con sẽ hạ quyết tâm.

– Không quyết tâm, cũng không có cách nào khác để no. Càng hành hạ mình thôi.

Phải sống với gã thượng úy bộ đội, lão ngán quá.

Gã không biết chuyện gì để nói. Lúc nào cũng hau háu nghĩ tới ăn.

Một hôm, thấy bà Sài Gòn có tiếp tế, gã háo hức:

– Bố xin bà ta ít gạo nếp rang, ít thịt đi. Con thèm thịt quá.

Lão buồn rầu:

– Người ta cho, tao còn không muốn nhận. Làm sao tao có thể nhục nhã xin xỏ được.

– Bố không nên sĩ diện. Bà ta quý bố lắm. Bố hỏi là được ngay thôi.

– Tao đã bảo không là không.

Gã nằm dài ra, tiu nghỉu.

Sáng hôm sau, vừa ra vệ sinh xong, Ngưu Ma Vương gọi lão đi cung.

Vẫn căn phòng cũ.

Tên cục trưởng và hai thanh niên phụ tá ngồi ở bàn.

Y chỉ ghế, mời lão ngồi.

Qua mấy câu xã giao vô nghĩa, y vào đề:

– Chắc anh đã suy nghĩ kỹ đề nghị của tôi. Hôm nay, tôi muốn biết ý kiến của anh.

Lão ôn tồn:

– Vâng, tôi đã nghĩ kỹ. Tôi thấy, tôi không thể làm việc cho công an.

Y hơi ngạc nhiên:

– Anh cho tôi biết tại sao?

– Thời trẻ đi lính, tôi chỉ biết cầm súng, xông pha trận mạc một cách vô ý thức. Tôi không bao giờ để ý tới chính trị. Giờ đây, sau hai mươi năm tù, tôi chán nản lắm, chỉ muốn sống yên, làm một người dân thường. Nếu tôi có ý định bay nhẩy thì năm bảy tám, tôi đã vượt biển. Một là thoát, hai là chết chìm rồi. Đâu có nằm tù thế này.

– Anh không muốn phục vụ cách mạng, lập công, chuộc tội?

– Tôi xin nói thẳng. Tôi không có tội gì, mà phải chuộc. Năm 54, theo lời kêu gọi của cách mạng, tôi không đi Nam. Tôi chưa hề có lời nói, hoặc hành động nào chống chế độ. Các ông có quyền. Bỏ tù tôi. Tôi phải chịu. Bây giờ, các ông tha cũng được. Tiếp tục giam cũng được. Tôi không có khả năng quyết định số phận của tôi.

– Anh cho cộng tác với chúng tôi là trái lương tâm?

– Ngành an ninh nước nào cũng có. Từ trẻ, tôi đã không thích nghề đó. Xã hội trăm nghề. Mỗi người hợp với một nghề. Khi không yêu nghề thì không thể làm việc tốt được. Do đó, tôi không nhận đề nghị của ông. Hơn nữa, ngành an ninh không phải là một ngành an toàn. Nhất là với một người có lý lịch như tôi.

– Không an toàn? Anh nói, tôi không hiểu. Hãy giải thích kỹ hơn.

– Tôi nghĩ nghề công an, cũng như nghề chính trị, đều không an toàn. Những người muốn sống an phận như tôi, không ai muốn tham dự. Trước kia bao ông làm chính trị thân Nga đã bị bắt. Bây giờ, lại đến lượt những ông thân Trung Quốc vào tù. Còn công an, tôi đã gặp nhiều ông trong trại giam. Kiên trì cách mạng như họ mà còn phạm sai lầm, nằm tù. Huống hồ tôi, một “đại úy ngụy”.

– Tóm lại, anh không chấp nhận đề nghị của chúng tôi?

– Vâng, tiếc rằng tôi không thể chấp nhận.

Y đứng dậy, lạnh lùng:

– Thôi, anh về. Anh muốn tiếp tục ở tù, khước từ sự mở đường của chúng tôi. Chúng tôi sẽ cho anh toại nguyện.

– Tôi đã nói, tôi không có khả năng quyết định số phận của tôi. Quyết định thế nào là ở các ông.

Trở lại xà lim, lòng lão buồn. Nhưng lương tâm lão thanh thản. Thế là sự lựa chọn đã dứt khoát.

Ngưu Ma Vương cho các buồng ra lấy cơm.

Lấy túi muối vừng ra, lão thấy vơi đi tới một phần ba. Gói mì rang, gói đường cũng vậy.

Lão hỏi gã thượng úy bộ đội:

– Mày ở buồng, ăn mì rang, muối vừng, đường phải không?

Gã chối:

– Không, con không hề đụng tới túi quà của bố.

Lão giận lắm:

– Mày không chối được. Tao buộc dây theo một kiểu riêng. Không buộc thế này. Tao có gì, cũng chia xẻ đều với mày. Đối xử thế mà vắng tao, mày còn ăn vụng. Từ nay, tao không cho mày cái gì nữa.

Suốt ngày hôm đó, lão không cho gã ăn, gã hút, không nói với gã nửa lời.

Buổi tối, xà lim ca hát, chuyện trò, gã nằm lì, mặt lầm lầm. Lão ngồi luyện khí công đều đặn.

Mắt nhắm lại, tinh thần thư giãn.

Gã đột nhiên ngồi dậy, chửi đổng:

– Tiên sư nó. Tao sẽ cướp, tao ăn. Tao còn dần cho tan xác nữa. Báo cáo cán bộ, tao cũng không sợ.

Lão mở mắt, nhìn gã:

– Mày chửi tao? Mày nói mày cướp, mày ăn? Tao hứa sẽ không báo cáo cán bộ. Nếu mày dám sờ vào túi tiếp tế, hoặc chửi xỏ xiên một câu nữa, tao sẽ cho mày gẫy thêm vài cái răng cửa. Mày thử ngay đi. Xem tao có làm đúng lời tao nói không. Loại như mày mà cũng học đòi trấn lột!

Thấy mắt lão long lên, gã im lặng.

Một lúc, gã nằm xuống, ngủ vật, mồm há hốc.

Nhìn khuôn mặt vêu vao, nhìn thân hình da bọc xương của gã, lão thở dài.

Sáng hôm sau, Phó Nhòm báo tin mừng:

– Hôm nay, thánh Găng-đi coi.

Lại một dịp may hiếm có. Các buồng ra làm vệ sinh, mở cửa gió, nói chuyện với nhau thỏa thích.

Ai đi qua buồng lão cũng đứng lại hỏi thăm việc về ở. Nghe lão kể lại cuộc đi cung hôm qua, Phó Nhòm tán thưởng:

– Ông bạn hành động đúng lắm. Đành phải hy sinh thôi. Vắng ông bạn, nằm một mình, buồn lắm. Không còn được trà thuốc bù khú với nhau nữa.

Gã đầu gấu tuồn ít thuốc lào qua song sắt:

– Đàn em cháu lén gửi cho cháu, nhiều lắm. Hút hết, ông chú cứ nói.

– Tao vẫn còn thuốc.

– Ông chú cứ giữ lấy.

Gã trừng mắt nhìn gã thượng úy bộ đội:

– Mày được ở với ông chú, có ăn, có hút là phước tổ nhà mày đấy. Không hầu hạ ông chú tử tế, tao cắt cổ.

Bà Sài Gòn nhìn vào buồng lão hỏi:

– Hôm qua, anh Hai đi cung, kết quả thế nào?

Lão tươi cười:

– Chắc chắn là còn tù. Họ nói thẳng vào mặt tôi như vậy.

Bà ta buồn rầu:

– Chúng nó khốn nạn thực. Anh Hai từ chối là phải. Thà chết, chứ đời nào đi giúp chúng nó. Ở đây hôi quá. Em cho anh Hai lọ dầu thơm.

– Cám ơn cô em. Sau này, nếu được về, thể nào cũng phải vào Sài Gòn, ăn với vợ chồng cô em một bữa cơm.

– Anh Hai sẽ là thượng khách của gia đình em. Em sẽ mua vé tầu cho anh Hai.

Đến lượt buồng lão ra. Găng-đi đưa cho lão một gói thuốc lào như lần trước. Thêm một gói trà Hồng Đào:

– Biếu riêng anh gói trà này. Còn thuốc lào, chia cho họ.

– Cán bộ lương lậu có là bao. Không nên cho chúng tôi. Thấy cán bộ là xà lim vui rồi.

– Dù sao, ở ngoài cũng hơn ở tù. Cứ cầm lấy, nhớ kín đáo.

Bà Sài Gòn báo cáo xin phép cho lão ít quà.

Găng-đi nheo mắt cười:

– Tình cảm quá nhỉ.

Lão vội nói:

– Chúng tôi coi nhau như anh em.

Lão đi các buồng, phát thuốc lào cho mọi người.

Tới buồng người yêu gã đầu gấu, lão đùa:

– Liệu sau này có đi tiếp tế cho nó được không? Muốn làm Tô Thị vọng phu hả?

– Nhất định cháu sẽ đi. Cháu thương anh ấy lắm.

– Thằng ấy có chí khí đấy.

Cô diễn viên kịch nói bĩu môi:

– Ở đây thì chỉ non, thề biển. Ra ngoài gặp chàng khác, là cho rơi ngay. Rồi xem có đúng thế không.

Cứ hôm nào Găng-đi thay Ngưu Ma Vương là xà lim hệt như ngày hội.

Một trái tim tốt có thể xoa dịu được nhiều khổ đau, oan trái. Chẳng trách Beethoven phải nói: “Ngoại trừ lòng tốt, tôi không thừa nhận một thứ ưu việt nào khác. Victor Hugo cũng khuyên con gái: “Con hãy sống tốt. Lòng tốt hàm chứa tất cả, con ạ.

Buổi tối, sau khi nghe xà lim ca hát xong, lão lấy ít quà bà Sài Gòn cho ra ăn.

Gã thượng úy bộ đội nằm dài trên sàn, mặt buồn thỉu, nghĩ ngợi. Khi lão buộc gói quà lại, gã quỳ phọp, gục đầu xuống sàn:

– Con lạy bố, bố tha tội cho con. Bố muốn đánh chửi con thế nào, con cũng xin chịu. Con xin bố.

Gã cứ quỳ gục đầu như vậy.

Lão nhìn gã lòng đau xót vô hạn. Cái đói có thể hạ nhục con người đến thế này sao?

Lão buồn rầu:

– Mày ngồi dậy đi. Không nên làm thế.

Gã nói như khóc:

– Nếu bố không tha tội cho con, con sẽ quỳ suốt đêm.

– Ngồi dậy. Tao đâu có chấp với mày.

Gã ngồi lên, vẻ ăn năn:

– Ở đây ai cũng khinh con. Chỉ có bố là thương tới con, coi con như con. Con láo, mong bố tha thứ cho.

Lão chỉ vào túi quà:

– Tao hiểu. Mày lạy túi quà này. Chứ không phải lạy tao. Tao cũng chỉ định phạt mày một hôm. Nhưng mày đói quá hóa rồ, chửi tao, đe dọa tao, đòi trấn lột, tao mới cắt, không cho mày ăn. Ở cùng buồng, cùng cảnh tù tội, tao ngồi ăn, nhìn mày nằm đói, nuốt khó trôi lắm. Từ nay, tao cho cái gì, được cái ấy. Cấm xin xỏ, đòi hỏi.

Lão mở túi, lấy cho gã ít xôi đậu xanh, mấy miếng giò, một bánh khảo. Gã rối rít:

– Con xin bố, con xin bố.

Đợi gã ăn xong, lão cuộn thuốc lào cho gã hút.

Rồi bằng một giọng chân tình, lão khuyên:

– Sau này thành án, mày sẽ phải đi trại. Mày là đảng viên, có thể mày sẽ được ưu tiên làm một việc nào đó no bụng. Nhưng sống với lưu manh, rất khó. Nếu muốn không bị đập chết, hoặc bị đánh thành thương tật suốt đời, nhất thiết phải sống lương thiện. Xì xọt, bẩm báo, trộm cắp lặt vặt là điều tối kỵ. Chết như bỡn. Nếu được làm toán trưởng, nhớ đừng bao giờ đàn áp, cưỡng bức toán viên lao động để lập công. Chúng sẽ cho mày mất mạng ngay. Không quản giáo nào che chở nổi cho mày đâu. Mày sống với bạn tù là chính. Chứ không phải với cán bộ. Mày đâu phải là đối thủ của những tay anh chị sừng sỏ. Chúng là những tay đao búa. Đâm chém là chuyện cơm bữa đối với chúng. Dù mày có to khỏe, có võ nghệ, cũng vô ích. Chúng sẽ đánh du kích. Đánh bất cứ lúc nào. Lúc ăn, lúc ngủ. Bất thình lình. Làm sao đỡ nổi. Tao ở tù hai chục năm, tao đã chứng kiến, những bộ đội đặc công, những dũng sĩ diệt Mỹ, tất cả đều len lét, sợ chúng một phép. Không dám ho he. Đơn giản là bởi chúng rất hung dữ, liều lĩnh, coi chuyện sống chết không là cái gì. Mày phải ghi nhớ lời tao, mới mong tha được xác về.

– Vâng, từ nay con xin ghi nhớ những lời dạy bảo của bố.

(Còn tiếp Truyện 6: Sương Buồn Ôm Kín Non Sông)

Share this post