Hỏa Lò (Tập Truyện – Nguyễn Chí Thiện) Truyện 6: Sương Buồn Ôm Kín Non Sông (Tiếp theo)

Hỏa Lò (Tập Truyện – Nguyễn Chí Thiện) Truyện 6: Sương Buồn Ôm Kín Non Sông (Tiếp theo)

HỎA LÒ
* Tập Truyện Nguyễn Chí Thiện
* Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông xuất bản (Virginia, 2001)
* Tủ Sách Tiếng Quê Hương & Người Việt tái bản (Virginia, 2019)

* Để đọc những phần đã đăng, xin vào khung Search this site (Tìm Kiếm) và gõ tên tác giả: Nguyễn Chí Thiện.

HỎA LÒ
TRUYỆN 6: SƯƠNG BUỒN ÔM KÍN NON SÔNG
(Tiếp theo)

Liền mấy hôm cuối tuần, Ngưu Ma Vương mặt mày ũ rũ, phờ phạc, mất hẳn vẻ càu cạu, gườm gườm hàng ngày.

Thấy cửa gió các buồng mở, hắn cũng chẳng buồn khép lại. Cả ngày, hắn hút thuốc lào liên tục, không nói năng gì. Phó Nhòm khoái chí, phỏng đoán:

– Chắc nhà sư nói đúng. Hắn phải có chuyện gì, mới thay đổi hẳn thái độ như vậy.

Cô diễn viên kịch nói, đùa:

– Có thể vợ cho mọc sừng. Con gái thì chửa hoang.

Gã đầu gấu hứa:

– Đây sẽ bảo bọn đàn em nhà bếp điều tra xem sao. Yên chí, chỉ vài hôm là sáng tỏ vấn đề.

Ngày chủ nhật, Găng-đi coi thay.

Lão pha trà mời, rồi nói bâng quơ:

– Ông quản giáo phụ trách xà lim này, không hiểu sao mấy hôm nay có vẻ ưu phiền dữ lắm.

Găng-đi thở dài:

– Ông ta có một quý tử độc nhất. Nó vừa can tội cướp của, giết người, bị bắt. Lớp trẻ bây giờ hư đốn quá. Tôi không hiểu sao, ngay cả con cái các ông to, nhiều đứa cũng trộm cướp. Bọn chúng có thiếu thốn gì đâu cho cam.

Lão mỉa mai:

– Các vị ấy quá chuyên tâm vào việc giáo dục nhân dân, nên không có thời giờ giáo dục con cái mình. Lo việc nước, quên việc nhà. Tinh thần hy sinh cách mạng thực cao cả.

Găng-đi cười khẩy:

– Tinh thần cách mạng. Làm thơ thì hô hào con cái người khác “Xẻ dọc Trường Sơn đi đánh Mỹ”. Con cái mình thì gửi đi du học ở Nga, ở Đức. Lại còn “Người cách mạng khổ trước dân, sướng sau dân” nữa.

Lão cười:

– Khổng Tử ngày xưa nói “Lo trước cái lo của dân. Vui sau cái vui của dân” là nói về mặt tinh thần. Còn tạm nghe được. Ông Trường Chinh dùng chữ “Sướng, khổ“, mang ý vật chất, thành ra nó khôi hài.

Găng-đi ngán ngẩm:

– Người trung thực khó sống lắm. Tôi không biết luồn cúi, nịnh bợ, nên ở trong ngành mấy chục năm rồi, mà vẫn trung úy. Bù lại, được cái không bị tù họ nguyền rủa.

– Tù ai cũng quý trọng cán bộ. Cái danh thơm đó là vô giá. Cán bộ nghĩ, liệu ông quản giáo phụ trách xà lim này có xin ân giảm được cho con không? Ông ta có lập trường cách mạng triệt để lắm mà.

– Cái thứ cán bộ nhãi nhép như chúng tôi mà đòi xin xỏ. Con các ông to thì khỏi phải nói. Tội tầy đình, mà bắt, lại phải thả ngay.

Lão bê ca nước lên:

– Thôi cán bộ cho buồng khác ra. Tôi làm mất thì giờ cán bộ quá.

Lão vào buồng. Gã thượng úy bộ đội tò mò:

– Bố nói chuyện gì với Găng-đi đó?

– Tao dò hỏi xem Ngưu Ma Vương ra sao. Con trai hắn cướp của, giết người, đã nằm Hỏa Lò rồi.

Gã nhảy lên:

– Đáng kiếp lắm! Đáng kiếp lắm!

Tin vui đó được bí mật lan truyền các buồng. Ai cũng hể hả. Bà Sài Gòn nghé vào buồng lão, đưa cho lão một khăn mùi xoa xanh lơ, thì thầm:

– Em tặng anh Hai vật này làm kỷ niệm. Em mất mấy hôm mới thêu xong đấy.

Lão cầm lấy:

– Cảm ơn cô em. Đồ đạc tôi toàn là thứ giẻ rách, hôi hám, không có gì để tặng lại cô em gái. Thực đáng trách.

– Em đưa cho anh Hai giấy bút. Anh Hai viết tặng em mấy chữ thôi.

Bà ta về buồng.

Một phút sau, đưa cho lão một tờ giấy trắng và một bút bi đỏ. Lão giở mùi xoa ra xem. Ở giữa mùi xoa được thêu một cây Myosotis, lá xanh, hoa hồng, với chữ “Forget-me-not” bên dưới.

Đêm đó, lão nằm nghĩ ngợi. Lòng bùi ngùi xúc động.

Một kẻ tàn tạ, xương da, không bóng một ngày mai, trước mặt là ngục tù thăm thẳm, sao cũng có người thương được? Tiếp cận với quá nhiều tiêu vong dạy lão coi khinh sự chết và coi trọng sự sống. Thể xác lão héo hắt trong lao ngục tối tăm, chật hẹp. Nhưng bộ óc lão sáng suốt, nhạy bén hơn. Trái tim lão rộng mở, chín chắn hơn. Đau khổ giúp lão gần gũi con người, hiểu giá trị của cuộc đời, nên biết trân quý nó đúng mức.

Mấy chữ “Forget-me-not“, tên một loài cây thường mọc ở nơi hoang dã, cũng có nghĩa là “Đừng quên em“. Một sự tỏ tình rõ rệt. Một lời nhắn nhủ gắn bó.

Đừng quên em! Lão làm sao quên được!

Trong hoang mạc tù ngục mênh mông của đời lão, ba tiếng “Đừng quên em” ngân reo như một dòng suối ngọt ngào, tươi mát, róc rách. Hiển hiện một ốc đảo xanh rờn, hư hư, thực thực. Tình cảm, sự chăm sóc đầy trìu mến của em, mà quên được ư?

Lâu lắm rồi, tiếng “em” mới vang lên trong tim lão. Không giống những tiếng “em” bình thường khác. Tiếng “em” này thân thương tới nghẹn ngào, nâng niu tới ngây ngất… Như một luồng điện, lương tâm lão đột nhiên lóe sáng. “Người ta đã có chồng rồi. Không được phép nghĩ bậy! Mình đã thấm thía nỗi đau của kẻ mất vợ. Bây giờ, mình lại có ý định chiếm đoạt vợ người khác, phá hoại gia đình người khác? Thực xấu hổ. Không ổn tí nào”.

Lão ngồi dậy, cuộn thuốc lào hút.

Hơi thuốc làm lão tỉnh táo, trở lại thực tại.

Lão bình tĩnh suy nghĩ.

Hãy coi em như em gái? Không được! Giả dối!

Làm sao chuyển được tình yêu sang tình anh em?

Cứ giữ nguyên tình cảm với nhau như thế này. Không tiến xa hơn? Lão cười thầm. Lẩm cẩm! Tù tội, làm sao tiến xa hơn được?

Tốt nhất là coi như một kỷ niệm đẹp trong đời.

Thế thôi. Thấy giải quyết như vậy là thỏa đáng, lão hút điếu thuốc lào thứ hai.

Đêm xà lim im phăng phắc.

Gã thượng úy bộ đội ngủ, thở đều đều.

Lão lấy tờ giấy và bút bi ra. Bao tình cảm chan chứa trong lòng mà lão không biết viết gì.

Nghĩ ra câu văn nào, lão cũng thấy tầm thường, sáo cũ, không xứng với tình cảm thực của lão. Lão chặc lưỡi: “Mình là nhà binh, có viết văn bao giờ đâu. Cứ chọn bài thơ tình nào đó viết tặng em là được”.

Lão lục trong trí nhớ nhiều bài thơ tình của các thi sĩ lãng mạn lão đọc thời trẻ. Nhưng tất cả đều không hợp với cảnh của lão. Lão hút điếu thuốc nữa, ngửa mặt, nhả khói lên trần. Mấy câu thơ của một nhà thơ tù, bạn lão, chợt tới trong đầu lão. Đúng tình, đúng cảnh của lão!

Mừng rỡ, lão cầm bút nắn nót viết.

Chữ lão đẹp, dắn dỏi. Mầu mực đỏ trên nền giấy trắng tinh cho lão cảm giác như đang viết bằng máu của trái tim lão. Viết xong, lão đọc lại:

Tặng em mấy vần thơ, kỷ niệm những ngày nhớ mãi ở xà lim 1, Hỏa Lò.
Cuộc đời anh, chẳng có gì đáng kể.
Con người anh, tù tội, hom hem.
Anh chỉ có trái tim đầm ướt lệ.
Với lòng thành, anh đem tặng cho em.

Lão chợt thấy thông cảm hơn với gã cán bộ quản lý thị trường, với vợ lão. Gã thương yêu giúp đỡ vợ lão như thế, quý con lão như thế. Hai mẹ con lại ở cảnh đường cùng, chết đói dở. Lão thì tù không án, biền biệt, chẳng biết ngày nào về. Làm sao hai người không kết hợp với nhau được?

Cả đêm, lão hầu như không ngủ.

Buổi sáng, Ngưu Ma Vương mở buồng lão ra vệ sinh trước tiên. Trông hắn gầy xọp hẳn. Mắt đỏ ngầu. Điếu cầy rít liên tục. Khi lão ra sân phơi quần áo, hắn bảo lão ở ngoài, đuổi gã thượng úy bộ đội vào buồng trước.

Hắn mời lão hút điếu cầy, mời uống trà. Rồi hỏi:

– Anh tù lâu. Anh thấy trên trại sinh hoạt thế nào?

– Trên trại, ăn uống cũng như đây. Chỉ được cái chỗ nằm rộng rãi hơn. Nhưng lại phải lao động vất vả. Tù hình sự tuy toàn thanh niên mà lại chết nhiều hơn tù chính trị.

– Sao lại thế?

– Chúng đói, không chịu được. Ăn bẩn, ăn bậy. Đa phần chết vì bịnh đường ruột. Chúng còn thường xuyên đâm chém nhau chết. Những đứa có tiếp tế, bỏ ra ít bánh, ít kẹo cho vay. Đói quá, cứ vay bừa ăn. Không kịp trả. Lãi mẹ đẻ lãi con. Có đứa nợ tới ba nghìn suất cơm. Nợ tới ba, bốn chủ nợ. Suất ăn hàng ngày bị bọn chủ nợ thu. Không có gì ăn. Chỉ vài tuần là chết.

– Ban giám thị cứ để mặc vậy?

– Có can thiệp đôi ba vụ. Nhưng nạn cho vay lãi lan tràn. Không can thiệp xuể. Nên bỏ mặc. Số án tử hình cả nước, mỗi năm chỉ khoảng sáu, bảy chục vụ. Số chết trên các trại, ít ra phải nhiều gấp trăm.

Ngưu Ma Vương thở dài:

– Tôi hỏi anh cho biết thôi. Anh vào đi.

Thấy ngày hôm sau, và liền mấy hôm Găng-đi coi thay, lão hỏi:

– Sao mấy bữa nay, cán bộ liên tục coi xà lim vậy?

– Ông quản giáo phụ trách xà lim ốm. Tôi được tạm cử coi thay.

Được tin này, xà lim thở phào nhẹ nhõm.

Nhiều người cầu cho Ngưu Ma Vương sớm được về chầu Diêm Vương. Việc vị cao tăng tiên đoán đúng nhiều chuyện khiến cả xà lim bàn tán, suy nghĩ.

Gã thượng úy bộ đội dám ăn cả gan người cũng bắt đầu tin rằng có Trời Phật, cần phải sống lương thiện, mới mong được Trời Phật phù hộ, độ trì.

Mụ vợ thượng tá công an cũng bắt đầu cho những người không tiếp tế chút quà.

Để làm phúc.

Đầu óc đơn giản của họ chỉ nghĩ đến thế.

Lão thấy đó đã là một chiều hướng tốt rồi.

Một buổi sáng, bà Sài Gòn được gọi đi cung.

Nửa giờ sau bà về, nói với mọi người rằng sáng mai con trai bà và bà sẽ được trả lại tự do.

Bà xin phép Găng-đi pha trà, mang kẹo bánh ra mời tất cả. Coi như bữa tiệc trà chia tay.

Găng-đi vui vẻ cho phép. Buồng nào ra vệ sinh cũng được bà đứng ở bàn mời trà, mời bánh kẹo. Những người nghiện, Găng-đi cho hút một điếu thuốc lào.

Bà đem tiếp tế của mình phân phát cho những người không có tiếp tế. Bà đưa cho lão một túi lớn và nói rất nhỏ, giọng nghẹn ngào:

– Trong túi có cái nhẫn của em. Anh Hai nhận lấy để có tiền tiêu xài khi đi trại.

Lão chưa kịp trả lời, thì bà đã quay đi, về buồng, mắt ngấn lệ.

Buổi tối xà lim long trọng tổ chức ca hát, mừng tiễn bà thoát ngục. Ai cũng tự nguyện hát.

Cô ca sĩ mở màn, với bài Ngày Về:

Tung cánh chim tìm về tổ ấm.
Nơi sống bao ngày giờ đằm thắm.
Nhớ phút chia ly, ngại ngùng bước chân đi.
Thương tiếc bao nhiêu, người ơi!
…Âm thầm tê tái cho ngày về.
Tìm lại đường tơ, nay đã đứt.
Ta sống không một lời trìu mến.
Như bóng con đò chiều lạc bến…

Cô hát liền năm bài. Toàn bài trữ tình, cảm động.

Tiếp tới Phó Nhòm. Gã hát bài One Day, lời Việt, gã tự ý thay đổi đôi chữ, cho hợp tình, hợp cảnh:

Giờ phút xa nhau,
trong buồng âm thầm châu rơi,
ướt đẫm khăn em…
Nhớ mãi câu yêu anh,
đường đời, đừng có quên nhau.
Rồi cách xa… Rồi nhớ thương…

Hết bài, gã đầu gấu hét lớn:

– Ông chú phải hát từ biệt bà cô đi chứ! Sao cứ im lìm vậy?

– Đúng, đúng. Buồng 1 phải hát!

Lão đứng lên:

– Được, được. Các bạn khỏi cần giục. Đó là bổn phận của tôi. Tôi xin hát một bài chia tay với người bạn quý của xà lim, của chung chúng ta.

Phó Nhòm cười ha hả:

– Không đúng. Với người bạn đặc biệt của riêng ông bạn, mới đúng.

Gã đầu gấu oang oang:

Trống chùa ai đánh thùng thùng.
Của chung ai khéo vẫy vùng “nên riêng”.

Cả xà lim đùa rỡn, cười vui, châm chọc lão với bà Sài Gòn. Khi cơn ồn ào lắng xuống, lão nói:

– Các cụ ngày xưa bảo “Chuyến đò nên nghĩa”. Nay chúng ta cùng chung chuyến đò hoạn nạn. Tình nghĩa tất phải sâu nặng, thấm thía hơn. Để chia tay với người bạn rất tình cảm, giầu lòng thương người, tôi xin hát bài Biệt Ly:

Biệt ly, nhớ nhung từ đây…
Chiếc lá heo may… rơi bay…
Người về có hay?
Mấy phút bên nhau… rồi thôi
Bóng em khuất xa từ đây…
Người về, u buồn khắp trời…
Và mây trôi…Nước trôi…
Ngày tháng trôi… Cùng lướt trôi…

Bị lôi cuốn theo cảm xúc, lão hát đi, hát lại bài hát ba lần. Cả xà lim vỗ tay rào rào.

Cô ca sĩ khen ngợi:

– Tối nay, ông chú hát hay quá. Hơn hẳn mọi tối. Giọng hát thật là buồn, cháu nghe cũng phải cảm động.

Phó Nhòm hóm hỉnh:

– Rung động thực có khác! Hát rất có hồn. Mà có hồn tất phải hay.

Gã đầu gấu bô bô:

– Đề nghị bà cô cho biết cảm tưởng.

Buồng bà Sài Gòn vẫn im lìm.

Cô diễn viên kịch nói đứng lên, đùa rỡn:

– Chắc bà cô “vạt áo đang ướt đầm như mưa”, không nói được. Để em hát mấy bài vui, giải buồn cho bà cô.

Cô ta hát năm sáu bài liền.

Điệu nhạc vui nhộn, yêu đời.

Và kết thúc với bài Hè Về tưng bừng sức sống:

Hè về, nắng tung nguồn sống khắp nơi
Hè về, gió rung nhịp phách yêu đời
Bâng khuâng nghe gió đùa mây biếc,
Đàn chim cánh đo trời
Phân vân đôi mái chèo lữ thứ,
Thuyền ai biếng trôi…
Hè về trong khóm trúc mềm đầu bờ
Hè về trong tiếng sáo diều dật dờ
Hè về, non nước yêu yêu…

Khi chương trình ca nhạc bế mạc, bà Sài Gòn cảm ơn mọi người, cầu chúc tất cả sớm tai qua, nạn khỏi, thoát cảnh lao lý.

Đêm đó, lão không ngủ được, nằm mân mê chiếc nhẫn trong tay. Thỉnh thoảng lại dậy cuộn thuốc hút.

Lão tưởng mấy chục năm tù đầy, với bao đau khổ, bầm giập, trái tim lão không còn chỗ nào tươi mát giành cho tình yêu nam nữ nữa.

Lão tưởng bao công phu tu luyện thiền định đã biến lão thành một người thoát vòng tục lụy.

Lão đã lầm.

Chỉ cần một ánh mắt thương yêu, một nụ cười tình tứ, một chăm sóc nhỏ nhoi, đã đủ phá tan mọi triết lý bi quan về cuộc đời, hồi sinh tất cả những khao khát rạo rực thanh xuân. Lão thầm nhủ nếu cửa sắt xà lim không khép chặt, không một thành trì đạo lý nào có thể ngăn cản lão sang buồng “em“, ôm “em” vào lòng, nói với “em” những lời âu yếm, tha thiết…

Buổi sáng, tên quản giáo thường trực mang lệnh tha vào. Được phép của Găng-đi, bà Sài Gòn xách hành lý đi suốt hành lang chào các buồng.

Tới buồng lão, bà thò một ngón tay qua song sắt cửa gió. Lão cầm ngón tay bà bóp mạnh, thay cho cái bắt tay từ biệt.

Bà nói qua nước mắt:

– Tạm biệt anh Hai. Em sẽ cầu nguyện cho anh Hai khỏe mạnh trở về. Em không bao giờ quên được anh Hai đâu. Khi nào về, anh Hai phải báo tin ngay cho em. Em đợi anh Hai đó.

Lão xúc động:

– Nếu trời còn để có một ngày mai. Anh sẽ tìm gặp em. Thôi, em về đi. Chúc em vui, khỏe, lên đường bình an.

Khi buông ngón tay bà ra, lão cảm giác buông mất niềm hạnh phúc vừa chợt tới với lão đã vụt biến.

Như một giấc mơ. Lão ngó nhìn theo bà được vài giây, thì bà rẽ ra chỗ Găng-đi ngồi, không nhìn thấy nữa.

Tiếng tên quản giáo thường trực, ngạc nhiên:

– Chị này buồn cười thực. Được về mà lại khóc!

Bà Sài Gòn về, ai cũng thấy tiếc. Nhất là những người không có tiếp tế. Không có sự giúp đỡ của bà, ngoài cái đói ra, họ còn thiếu thốn đủ thứ.

Một sáng, cô buôn đô-la ngó vào buồng lão, than thở:

– Chúng nó không cho cháu nhận quà, để ép cung. Dã man quá! Bây giờ bà Sài Gòn về, cháu và con da đen không có cả đồ vệ sinh phụ nữ. Mấy chị em khác chỉ có đủ cho họ dùng.

Lão phẫn nộ:

– Khốn nạn đến thế là cùng! Hôm nào đi cung, nếu đúng ngày, cháu cứ chìa vào mặt thằng chấp pháp cho nó xem, cho các tên công an khác thấy. Không việc gì phải xấu hổ cả! Chúng sẽ phải cho cháu nhận quà gia đình. Chú có hai cái áo lót. Hai cháu lấy xử dụng tạm.

Cô ta lưỡng lự:

– Chú lấy gì mà mặc?

Lão xua tay:

– Chú không cần. Mùa hè, chú toàn ở trần. Mùa đông, chú đã có quần áo rét.

– Cảm ơn ông chú. Ông chú tốt quá.

Cuộc sống trôi đi.

Nhờ sự dễ dàng của Găng-đi, tình cảm giữa Phó Nhòm và Nữ Thần Đô La, cũng như gã đầu gấu và người yêu của gã, càng ngày càng thắm thiết.

Phó Nhòm chia quà của gã cho cô đô-la một nửa.

Người yêu của gã đầu gấu cũng làm như vậy.

Xin phép cho công khai. Không phải “lái xe” cho tí một như trước.

Gã trưởng phòng công ty hóa chất cũng được Găng-đi ân xá, cho nhận quà gia đình.

Một hôm, cô ca sĩ nói riêng với lão:

– Cháu bị đi trại tới nơi, chú ạ. Ban giám thị giao cho cháu nhiệm vụ báo cáo tình hình xà lim. Cháu chẳng làm được việc gì. Chú bảo, chẳng nhẽ lại đi báo cáo chuyện tình cảm của người khác, chuyện vi phạm nội quy, như hút thuốc lào, cho quà nhau.

– A, cháu là người Ban Giám Thị cài vào xà lim, chứ không phải của chấp pháp?

– Vâng, có hai loại ăng-ten. Ăng-ten của chấp pháp chuyên báo cáo, giúp đỡ việc điều tra, hỏi cung.

– Trông cháu gầy đi nhiều đấy. Cháu cứ ăn ở tốt, đi đâu cũng có người thương. Trời sẽ phù hộ. Chú vừa nhận được quà gia đình. Tí nữa, chú xin phép cán bộ, cho cháu.

Chiều hôm qua, lão nhận được quà của em gái lão.

Nào đường sữa, nào bánh kẹo, thịt, ruốc, gạo nếp rang, vi-ta-min C. Lại cả chiếc áo khoác lót lông, mũ len, mấy bộ quần áo. Lão hiểu ngay tất cả là của bà Sài Gòn. Em gái lão nằm mơ, cũng không có đủ tiền mua từng ấy thứ.

Nhìn đống quà, lão rất xúc động.

Chưa bao giờ lão xúc động đến thế.

Lão phân phát quà cho tất cả những người không có tiếp tế. Những người có tiếp tế, lão chỉ biếu xã giao đôi chút. Phó Nhòm nhận quà lão cho, hỏi:

– Có phải “em” gửi không?

Lão gật đầu.

Phó Nhòm cười, đắc thắng:

– Ông bạn đã phục tôi chưa? Thoáng qua từ đầu, tôi đã nói là ông bạn trúng số.

Lão cũng cười:

– Công nhận anh nhiều kinh nghiệm. Lão luyện giang hồ.

– Nữ hoàng đô la đã hoàn toàn bị chinh phục rồi. Hai ta thắng lớn!

Gã đầu gấu tinh quái cũng biết.

Gã cười, nói riêng với lão:

– Ông chú “vào cầu rực lửa” (thắng to) rồi. Ông chú cũng xứng đáng được thế. Mừng ông chú không bị cô đơn nữa.

Như mọi thứ trên đời, xà lim cũng tan hợp, hợp tan.

Người yêu gã đầu gấu chuyển xà lim khác.

Gã đầu gấu bị xử chung thân, đi trại.

Cô diễn viên kịch nói được thả.

Gã trưởng phòng công ty hóa chất bị xử sáu năm, ra buồng chung.

Ba, bốn tù khác tới thay chỗ.

Phó Nhòm cũng sắp tới ngày về.

Vào một sớm đầu đông, trời còn tối đất, Găng-đi mở buồng lão và buồng cô ca sĩ.

Hai người phải chuyển trại.

Gã thượng úy bộ đội rầu rĩ, giúp lão thu dọn hành lý. Lão để lại cho gã ba cân nếp rang, ít kẹo bánh.

Khi lão bắt tay từ biệt, gã rơm rớm nước mắt:

– Con chúc bố khỏe mạnh. Cảm ơn bố đã giúp đỡ, dậy bảo con. Hơn ba tháng gần bố, con đã hiểu biết nhiều.

Trong cảnh buồn, lão có đôi chút niềm vui.

Lão biết những giọt lệ ứa ra từ mắt gã là vì lão. Không phải vì túi quà.

Lão và cô ca sĩ chào từ biệt mọi người, chào Găng-đi.

Lão ngó vào phòng Phó Nhòm:

– Hy vọng chúng ta sẽ còn gặp nhau ở ngoài.

Phó Nhòm xúc động:

– Chúc ông bạn thượng lộ bình an. Nhớ địa chỉ tôi, 28 phố Hàng Điếu. Nhất định chúng ta phải gặp lại nhau. Tôi tin với bản lĩnh ông bạn, ông bạn sẽ vượt qua tất cả.

Phía ngoài giàn nho, hai chiếc xe tải đã chực sẵn.

Khoảng bốn chục tù xếp hàng ngồi ở sân.

Nam riêng. Nữ riêng.

Tất cả tù nữ đều khóc. Kẻ nức nở thành tiếng. Kẻ nước mắt chảy quanh. Trong ánh điện vàng khè, mờ bụi sương, lão có cảm tưởng đang đứng ở một nghĩa địa, dự lễ hạ huyệt. Cô ca sĩ cũng sụt sịt, chào lão.

Nhà bếp phát cho mỗi người một nắm cơm, một dúm muối rang. Tất cả đùm trong mấy mảnh lá chuối.

Công an vũ trang dùng khóa số 8, khóa tay từng cặp. Lũ tù quần áo mong manh, đứng run bần bật. Nữ lên một xe. Nam lên một xe. Ngồi chen chúc. Chửi bới nhau tục tĩu.

Hai chiếc xe nổ máy, từ từ chuyển bánh.

Cửa Hỏa Lò rộng mở.

Đầu tháng 12, Hà Nội đã lạnh.

Phố xá còn sớm. Không một bóng người.

Lão mặc áo lông, đội mũ len, ngồi lặng thinh ở cuối xe, gần hai tên công an vũ trang, súng AK kẹp trong đùi. Xe băng qua cầu Long Biên. Trong bóng tối bắt đầu nhạt loãng, dòng sông Hồng thân quen mờ mờ, như bất động.

Lại rời Hà Nội. Số kiếp sẽ đưa lão tới đâu?

Tới đâu thì cũng vậy cả.

Đều là đất thù.

Trại tù giăng mắc khắp ngả.

Người dân sống trên quê hương mình, mà lúc nào cũng ngơm ngớp lo sợ, nghi ngờ, cảnh giác. Quá sống trên đất thù!

Ngẩng nhìn bầu trời mịt mù sương phủ, cảm thương thân phận con người, tai kiếp đất nước, lão ngâm trong đầu câu thơ lão đã đọc ở đâu, lâu lắm, từ thủa tiền kiếp nào đó…

Sương buồn ôm kín non sông…

(Còn tiếp – Hỏa Lò)

Share this post