Hỏa Lò (Tập Truyện – Nguyễn Chí Thiện) Truyện 6: Sương Buồn Ôm Kín Non Sông (Tiếp theo)

Hỏa Lò (Tập Truyện – Nguyễn Chí Thiện) Truyện 6: Sương Buồn Ôm Kín Non Sông (Tiếp theo)

HỎA LÒ
* Tập Truyện Nguyễn Chí Thiện
* Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông xuất bản (Virginia, 2001)
* Tủ Sách Tiếng Quê Hương & Người Việt tái bản (Virginia, 2019)

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học Truyện Ngắn & Bút Ký.

HỎA LÒ
TRUYỆN 6: SƯƠNG BUỒN ÔM KÍN NON SÔNG
(Tiếp theo)

– Phó Nhòm, hôm nay đếm được mấy xe rau muống?

Nghe tiếng gã đầu gấu từ buồng 7 vọng sang, gã bạn cùng buồng lão từ nẫy vẫn đứng nhìn ra sân trại, qua khe mấy tấm ván bịt, vội quay lại phía cửa buồng, nói to:

– 42 xe tất cả. Ngày mai, mỗi suất phải được một bát đầy.

Gã đầu gấu cười ha hả:

– Thế là mai “bành” (no). An tâm cải tạo rồi.

Phó Nhòm ngồi xuống, cười, nói với lão:

– Ở đây, chúng nó gọi tôi là Phó Nhòm, vì tôi có trách nhiệm nhòm đếm xem có bao nhiêu xe cút-kít rau muống được chở vào nhà bếp. Điểm thứ hai, nói thực với ông bạn, tôi có máu rất thích phụ nữ. Trong giờ vệ sinh, tôi thường đứng lên cùm, nhìn ra hành lang, ngó các em đi qua, đi lại. Danh hiệu “Phó Nhòm” quả là không oan uổng gì… Ngưu Ma Vương vừa đi rồi.

Lão uể oải ngồi dậy:

– Chúng ta có thể kéo một hơi bây giờ, cho giãn xương cốt một tí không?

– Thong thả, sắp tới giờ ăn chiều rồi. Nó sẽ trở lại, mở buồng cho ra lấy cơm. Hút bây giờ, mùi xộc lên. Nó vào, ngửi thấy thì nguy lắm. Phải đợi ăn xong, để bát, thìa ra ngoài cửa trả. Nhà bếp vào lấy đi. Hết giờ hành chính, nó về hẳn, mới có thể hút được. Mấy bữa nay có cá khô vụn kho muối, mủn ra. Những người có tiếp tế, không ăn, cho các buồng khác. Ông bạn nếu ăn được, tôi sẽ lấy phần của tôi vào.

– Tôi là loại tù vô gia cư, anh không ăn được, cứ mang vào, tôi dùng tuốt.

Tiếng gã đầu gấu vọng tới:

– Ông chú mới vào, từ trại nào về đấy?

Lão đứng dậy, trả lời:

– Z.8, Nghệ An.

– Trại Thung Lũng Tử Thần đấy. Ngay bọn quản giáo cũng có đứa phải trốn trại. Mấy thằng bạn cháu chết cả ở đó đấy. Ông chú sống nổi. Giỏi thật. Ông chú tù lâu chưa?

– Tất cả hai mươi năm. Chú mày tù lâu chưa? Bao nhiêu tuổi?

– Cháu hai mươi lăm. Trộm cắp từ bé. Đi tù từ năm mười bốn. Mới ra tù được hơn một năm, lại vào. Lần này, có thể dựa cột, hoặc chung thân.

– Tội gì mà nặng vậy?

– Cháu đâm một tên thuế vụ bị thương. Cháu buôn thuốc lá đường Lạng Sơn – Hà Nội, bị nó chặn lại. Cháu cho một nhát, nhẩy tầu thoát. Về Hà Nội được hai tuần thì bị bắt. Cháu vẫn đút lót cho tên này. Mới mấy lần chưa có tiền đút, nó trở mặt. Ức quá, cháu mới cho nó nhận một mũi lê.

– Chú mày hung quá. Tuổi còn trẻ. Phí đời một cách vô ích. Đáng lẽ phải tính toán kỹ một chút…

– Ngưu MaVương xuống núi!

Gã Phó Nhòm báo động.

Lão ngồi xuống, lắc đầu:

– Tuổi trẻ bây giờ là miếng mồi ngon cho nhà tù nó nghiền nát. Nhiều đứa vì thiếu đói, chỉ ăn cắp con gà, bó lúa, cái xe đạp, cũng bảy, tám năm tập trung. Bỏ mạng trong tù vô số. Càng tù lâu, càng hư hỏng. Hiếm có đứa ra tù mà không tái tù. Thằng này nó nói đúng. Ít nhất cũng hai mươi năm, hoặc chung thân. Thế là tiêu đời.

Tên Ngưu Ma Vương đi vào, mở cửa từng buồng ra cho tù lấy cơm. Hắn đứng ngay trong hành lang, mặt càu cạu, mắt gườm gườm.

Bọn tù, cả nam lẫn nữ, lần lượt ra bê cơm vào, vội vã, len lét.

Phó Nhòm đưa cho lão bát cá vụn.

Lão múc một thìa ăn thử:

– Chà, mặn hơn muối. Tôi ăn phần tôi cũng không hết. Nuốt của này vào, khát nước bằng chết.

Phó Nhòm mở túi thịt, múc bốn miếng con vào bát mình, rồi mời lão:

– Ông bạn ăn với tôi mấy miếng. Thịt vợ tôi kho đấy. Gọi là hưởng tí “hương vị xã hội”.

Lão nhất định từ chối. Phó Nhòm cứ múc vào bát lão. Không làm thế nào được, lão giao hẹn:

– Tôi chỉ ăn một lần này thôi. Bận sau anh đừng có ép tôi như vậy. Cứ tự nhiên dùng. Như thế, tôi thoải mái hơn. Trời nóng thật. Nắng tháng tám, rám trái bưởi. Ngồi không mà mồ hôi cứ đầm đìa.

Phó Nhòm vừa ăn, vừa quạt, nói:

– Ở Hỏa Lò này có bốn khu xà lim tất cả. Xà lim 4 là dễ chịu nhất, ở mãi bên ngoài giàn nho. Chỉ dành cho cán bộ cao cấp bị tù nằm. Xà lim 3 nằm cạnh nhà bếp, mùi than xông lên rất khó chịu. Còn xà lim 2, có một buồng kỷ niệm ông Trường Chinh, thì tối tăm, bí lắm. Gầm sàn bịt kín. Bô, chậu, sô, phải để ra giữa lối đi, rất vướng víu. Xà lim 1 này là thoáng đấy. Giá cửa trên phía sau không bị bịt ván, thì không nóng, không tối thế này đâu. Nhưng xà lim 3 có một ưu điểm lớn, là gần phòng nữ. Tối tối, nghe các em hát hỏng, chí chóe chửi nhau, đánh nhau, cũng vui. Ban ngày, khi các em đi cung, tha hồ ngắm, cải thiện mắt!

Tù lâu, kinh nghiệm, lão biết xà lim thường được bọn chấp pháp gài ăng-ten vào. Trong hoàn cảnh cô đơn, kẻ non nớt, cả tin, thường dễ tâm sự, dễ tiết lộ những điều mình muốn giấu. Ăng-ten phần nhiều lại rất ngon ngọt, tử tế, tận tình giúp đỡ, dễ cảm động lòng người trong cảnh ngộ mới bị bắt, thiếu khổ trăm bề.

Khi mới bước vào buồng, nhờ cửa mở có ánh sáng rõ, lão thấy nước da Phó Nhòm xanh mái. Hai tháng xà lim chưa đủ thời gian để có nước da quý phái đó, nước da mà các phu nhân quý tộc hồi thế kỷ 19 bên Châu Âu rất ái mộ.

Khi lão hỏi Phó Nhòm nằm xà lim bao lâu, lão đã nghi ngờ rồi. Nhìn nội vụ của gã đầy đủ tất cả, nào quạt, nào ca, nào xô nhựa, thìa nhựa. Lại thêm một bọc to chăn áo mùa đông treo trên tường.

Lão khẳng định ngay Phó Nhòm là một ăng-ten.

Nếu không, tại sao lại phải nói dối?

Đồ dùng của người tù, nó phải có thời gian lịch sử của nó. Phải nhiều lần viết thư về gia đình, hoặc gặp người nhà, mới có được đầy đủ.

Không thể mới bị bắt mấy tháng, đang trong thời kỳ hỏi cung, chưa được viết thư, chưa được gặp người nhà, mà đã “làm nên lịch sử”.

Phó Nhòm quả là một tay ăng-ten tồi.

Gã kể vanh vách từng chi tiết về 4 khu xà lim Hỏa Lò, chứng tỏ gã đã nằm qua tất cả.

Một ăng-ten nham hiểm không phạm những sai lầm tầm thường như vậy. Rất có thể Phó Nhòm chỉ là một ăng-ten bất đắc dĩ.

Đèn điện bật sáng.

Ngưu Ma Vương đi vào.

Từng buồng được mở, để tù đặt bát ra ngoài cửa.

Một tên nhà bếp đi thu.

Chắc có việc vội, y quát giục nhặng sị, làm tên nhà bếp cuống cả lên.

Xong việc, y khóa cửa xà lim lại, bỏ đi.

Giờ tự do của xà lim bắt đầu.

Tiếng nam, nữ, đùa nhau, í ới, nhộn nhạo:

– Buồng 8 tháng này chều tiếp tế. Chắc ông xã cho rơi rồi. Thương quá là thương:

Chơi xuân có biết xuân chăng tá.
Cọc nhổ đi rồi, lỗ bỏ không.

– Coi khinh! Đây đã có hàng trung đội xếp hàng nộp đơn xin đặt cọc.

– Em buồng 10 ơi, bị tiếp tế to thế. Càng no cái bụng, càng đói cái kia, phải không? Có muốn anh cho “nuôi bò” không? Bò của anh đang ứ sữa đây này.

Những tiếng cười hô hố, khoái trá, rộ lên.

Gã đầu gấu buồng 7 nói như ra lệnh:

– Trật tự, trật tự. Giặc lái buồng 4 đâu, kể nốt câu chuyện tối qua đi.

– Chuyện dân lái xe bọn tớ thì kể muôn đời không hết. Không phải vô cớ mà nhân dân gọi bọn tài xế xe tải là giặc lái. Thời chiến, bọn tớ chỉ cần đi một chuyến vào Quảng Bình đất lửa, là được thưởng 300 đồng, bằng sáu tháng lương cán bộ. Chẳng thằng nào muốn vào chỗ chết đâu. Nhưng không đi, cũng không được. Đoàn xe tải chúng tớ đậu ở đâu, là dân sợ như sợ dịch hạch. Họ thường xuyên bị chết oan, khi máy bay Mỹ tới bắn phá. Sợ thì sợ đấy, nhưng đêm đến, suốt tuyến đường từ Ninh Bình tới Quảng Bình, chị em nông dân vẫn kéo tới chỗ đoàn xe chúng tớ đậu. Bọn giặc lái chúng tớ chỉ cần chi ra ba, bốn cái tem gạo bộ đội 250 gam, là đưa các nàng vào gầm xe. Đủ kích, cỡ. Từ thiếu nữ dậy thì mười bốn, mười lăm, tới bà xồn xồn gần năm choạc. “Nhớn bùi, bé mềm”, bọn tớ sơi tái. Đúng là cái thời kỳ “Đường ra trận mùa này đẹp lắm. Có điều cơ thể các nàng đói, còm quá, giảm mất hứng. Gặp em nào khéo chiều, tớ “nhân đạo” cho thêm gói kẹo, gói mì ăn liền. Em cảm động rưng rức. Bọn tớ cấu kết với nhau chặt chẽ, phối hợp nhịp nhàng. Mỗi lần bị oanh tạc, những thằng sống sót thu được vô số chiến lợi phẩm. Cứ khai là hàng trên xe bị hủy hết. Về Hà Nội ăn chơi thả phanh. Thời chinh chiến, mấy người đi trở lại. Cần gì. Hưởng lúc nào, cho đã lúc đó. Nếu kể về tội, bọn tớ đáng bị nhiều cái án tử hình. Thế mà lại toàn được tuyên dương xuất sắc, được bằng khen. Bây giờ thời bình, tớ chỉ ăn cắp có bốn xe thóc, tổng cộng 28 tấn, chưa bằng cái móng tay thời chiến, đã bị nhận án chết. Chống án, vẫn y án. Chỉ còn trông cậy vào lệnh ân xá của ông Trường Chinh. Tớ 42 tuổi. Tớ chưa muốn chết tí nào cả. Đ… mẹ cái số phận! Tớ tưởng tối đa chỉ bị bồi thường, cộng 7 năm tù là cùng.

– Giặc lái nói đúng đó. Bình thường chỉ thế. Nhưng giặc lái có cái khốn nạn là được chọn làm điển hình cho phong trào bài trừ tham nhũng. Rơi vào những vụ điển hình, đều bỏ mẹ cả. Đành trông vào Trời thôi.

Thấy lão chăm chú lắng nghe, Phó Nhòm nhắc:

– Kệ chúng nó chuyện trò, tán láo. Bây giờ chúng ta có thể say được rồi. Mấy tuần nay, xà lim cạn hết thuốc. Vật vã quá.

Lão giở cái chăn bông bẩn thỉu, hôi hám của lão, moi từ trong ruột chăn ra một nắm thuốc lào.

Phó Nhòm thán phục:

– Quả tù lâu, kinh nghiệm. Yểm thế này, bố chúng nó cũng không khám nổi. Tôi chỉ có mảnh giấy báo. Nhưng máy đã hết đá. Làm thế nào?

– Yên trí, yên trí. Đâu vào đó hết.

Lão cười, giở cái áo bông dầy cộm, tháo một cái khuy nhựa to ra, giơ lên:

– Máy đây. Anh rút một sợi dây dứa ở cái túi của anh kia. Tôi lồng nó vào cái khuy này, là có thể đánh lửa hút.

Lão cúi xuống, cầm một chiếc dép lốp của lão lên, moi từ đế ra một mảnh thủy tinh nhỏ.

Lão xé bông, xé giấy, cuộn một điếu đủ hai người hút.

– Anh lâu không hút. Say đấy. Thuốc nặng lắm. Hút trước đi. Tôi hút sau.

Phó Nhòm kéo mạnh một hơi, lao đao, dựa lưng vào tường, say rơi cả thuốc.

Lão nhặt điếu thuốc, hút đến hết.

Khói lan tỏa.

Gã đầu gấu buồng 7 gầm lên:

– Cha chả, tên nào tra tấn lão gia đấy? Thơm lừng bốn cõi!

Mấy buồng khác nhao nhao:

– Ở đâu mà thơm thế? Phòng nào vậy? Đừng giấu anh em.

– Chắc của ông chú mới vào. Mấy tuần nay, ai có đâu.

– Đừng quên các đàn em, im ỉm sướng một mình, ông chú ơi!

Gã đầu gấu cười cầu tài:

– Ông chú chia xẻ hạnh phúc với chúng cháu đi. Ai lại chiến đấu âm thầm, đơn độc vậy. Xà lim là một nhà mà. Ông chú mới vào, không biết đấy.

Phó Nhòm đã hết say, hỏi:

– Ông bạn giải quyết ra sao?

– Chia xẻ với họ mỗi người một ít. Xà lim có bao nhiêu người hút?

– Hút tất. Chỉ có mấy bà, mấy em là không. Một nắm thuốc mà cho bảy đứa, còn gì mà hút?

– Yên tâm, tôi còn.

Lão lôi trong chăn ra một nắm nữa:

– Bây giờ chuyển cho họ bằng cách nào?

Phó Nhòm hớn hở:

– Trong chăn, còn nhiều lắm hả? Được, tôi bảo chúng nó lái xe sang.

Gã đứng lên cùm, nói to:

– Buồng 7 đưa xe sang nhận hàng.

– Tuân lệnh!

Gã đầu gấu kêu lên.

Một phút sau, một chiếc bàn chải đánh răng chui vèo qua cửa buồng lão, kéo theo một sợi dây dứa. (*)

(*) Tù phải dùng các dụng cụ nhỏ như cái lược hay bàn chải đánh răng để có thể ném lọt vào chấn song sắt hẹp của phòng đối diện hay phòng xế trước mặt. Gói quà chuyển cho nhau vì thế cũng phải mỏng.

Lão gật gù:

– Giỏi thật. Xa thế, mà phóng một phát ăn ngay.

Phó Nhòm buộc gói thuốc vào dây, hô:

– Lái xe về.

Cái bàn chải lại chui qua cửa buồng ra ngoài.

Lão đứng lên, ngó ra hành lang, dặn:

– Chú mày chia đều cho tất cả. Có lửa chưa?

– Ông chú yên trí. Máy móc đủ cả. Chỉ thiếu có “nhiên liệu” thôi. Cháu sẽ chia đều cho bọn họ.

– Tao cũng định hút xong, rồi cho anh em. Chưa kịp, thì đã ầm cả lên. Vui thật!

Phó Nhòm nói với lão:

– Hàng mà chuyển qua cửa khẩu buồng 7 này, thì thuế má nặng lắm. Bọn kia chẳng còn mấy.

– Đó là thường tình. Chuyện hư hao là không thể tránh khỏi.

Ngoài hành lang, tiếng bàn chải lướt trên sàn vèo vèo, buồng nọ sang buồng kia, nhộn nhịp.

Cả xà lim tràn ngập mùi khói thuốc lào.

Tiếng gã đầu gấu oang oang, sảng khoái:

– Cám ơn ông chú khao quân. Thuốc ngon cực kỳ. Đã đời quá! Ông chú làm gì mà tù lâu khiếp thế. Phản cách mạng, phản tuyên truyền, bất mãn, “kêu ca, phàn nàn, oán trách chế độ, phải không?

– Tao không có tội gì hết. Tao là đại úy trong quân đội quốc gia. Tao chỉ có một tội ngu, năm 54 ở lại miền Bắc, không đi Nam nên bị tập trung cải tạo từ năm 1961 tới 1977, mười sáu năm. Ra tù được hai năm, tao chẳng làm gì chống chế độ. Tự nhiên bọn Tầu tấn công sáu tỉnh biên giới, tao lại bị chộp nữa. Đã hơn bốn năm rồi. Không hiểu sao bỗng dưng lại đưa về nằm đây.

– Ông chú phải cảnh giác đấy. Nói ít, hiểu nhiều mà.

– Tao vợ bỏ, con chết trận. Gia đình tan nát từ lâu. Tàn rồi. Chẳng còn gì để mất mà phải sợ, phải cảnh giác. Ở tù, ra tù, đối với tao cũng vậy. Giả thử được thả, tao cũng không biết làm cách nào để kiếm sống nuôi thân. Lại nay Đồn, mai Sở, nghĩ mà phát ớn. Sợ hơn hoạn. Tao già rồi, về với đất cũng được đấy. Năm nay, tao 53 tuổi. Hôm nay, mùng mười, tháng tám, ngày sinh nhật tao đấy.

– Bực thật. Ngày sinh nhật mà không có gì mừng ông chú.

– Tao có để ý tới sinh nhật bao giờ đâu. Hôm nay, ngồi xe, tự dưng lại nhớ tới.

Tiếng một phụ nữ, giọng miền Nam, nhỏ nhẹ:

– Tôi có chút quà, gửi mừng sinh nhật anh nhé.

Lão cười:

– Rất cảm ơn chị quan tâm tới. Nhưng ngày sinh nhật là ngày đáng nguyền rủa đối với tôi, chứ không phải là ngày đáng mừng.

Phó Nhòm nói:

– Mụ này người Sài Gòn, lấy chồng Hoa Kiều Chợ Lớn. Buôn lậu, giầu xụ. Mụ và thằng con trai, cả hai vào tù 14 tháng rồi. Nghe đâu mụ ta đấm mõm cho công an những 150 cây vàng. Sắp tha rồi. Mụ ấy hảo tâm lắm, thường cho quà bọn vô gia cư. Ngưu Ma Vương ăn ngập miệng, cũng chiều mụ hết cỡ. Tiếp tế của mụ, thì hỡi ôi, bốn người ăn không hết. Mỗi tháng bốn lần. Mỗi lần, một bao tải lớn. Xem ra, không diệt được giai cấp tư sản đâu. Vào tù, chúng nó vẫn sướng. Chỉ đám vô sản là sống dở, chết dở, trong tù cũng như ngoài xã hội. Đòn chuyên chính vô sản trên thực tế lại giáng xuống đầu giai cấp vô sản nặng nhất. Ông bạn biết không, từ ngày giải phóng miền Nam, trung bình mỗi ngày, năm mươi hai vụ tự tử. Toàn dân nghèo. Một thành ủy viên thành phố Hồ Chí Minh nói với tôi đó.

Một cái lược sừng vọt chui vào buồng lão.

Tiếng bà miền Nam vọng tới:

– Anh kéo dây về buồng anh đi.

Lão vội đứng dậy:

– Cảm ơn chị, tôi không nhận đâu. Tôi đã quen với nếp sống tù rồi. Chị để mà dùng.

– Anh kéo về đi. Nhanh lên. Công an võ trang sắp đi tuần vào đấy.

Phó Nhòm nói với lão:

– Mụ ấy cho thực lòng đấy. Cứ nhận đi.

Miệng nói, chân gã nhẩy xuống đất, kéo từ từ sợi dây dứa, lôi vào buồng liền mấy túi ni-lông dàn mỏng. Nào bánh đậu xanh, bánh khảo, bánh gai, nào đường, nào kẹo mè sửng.

Gã tháo các túi ra, nói:

– Bà chị kéo dây về đi.

Cái lược và sợi dây chui ra khỏi cửa.

Liên tiếp sau đó, hai cái lược lần lượt chui vào buồng lão. Mỗi lược là một túi ni-lông quà.

Lão cảm động đứng dậy:

– Tình cảm các chị, các cháu dành cho tôi, tôi rất cảm kích. Xin cảm ơn tất cả.

– Đúng là “Tốt số hơn bố giầu“.

Một giọng đàn ông, hằn học, đố kỵ.

– Ai vừa nói đấy?

Lão hỏi Phó Nhòm. Gã xua tay:

– Ông bạn đừng để ý tới thằng vô gia cư này. Nó là một thượng úy bộ đội. Không biết tội gì, bị giam ở đây đã năm tháng. Ai cũng ghét. Chẳng ai cho quà nó cả. Đói nhăn răng. Nó khoe, nó là đơn vị đầu tiên tiến vào giải phóng Sài Gòn. Ngay cả mụ giầu xụ rộng rãi thế, cũng không cho nó cái gì. Tính nó hay xì xọt, bẩm báo. Chết đáng kiếp. Nhưng từ hôm bị gã đầu gấu buồng 7 rạch cho một “mince lame” (dao cạo) vào mặt, sợ, chừa hẳn. Vết sẹo còn ở má đó. Dài đến chục phân. Số là Ngưu Ma Vương sáng đó, vội cái gì, cho hai thằng ra làm vệ sinh cùng lúc nên gã đầu gấu mới có cơ hội ra tay.

– Gã đầu gấu có bị kỷ luật nặng không?

– Cùm có ba hôm, mụ giầu xụ xin cho. Ngưu Ma Vương tha ngay. Ông bạn thấy sức mạnh của kinh tế có khiếp không! Lão Ngưu Ma Vương này đáng vào tù!

– Xã hội đói, khó tránh khỏi những chuyện như vậy lắm. Bỏ tù bao nhiêu cũng vô ích. Từ mấy chục năm nay, các trại đầy ắp lưu manh. Lớp nọ kế tiếp lớp kia, ngày càng đông đảo. Thời Tây, ở Hà Nội giỏi lắm đếm được gần trăm tên trộm cắp, tụ tập ở mấy chợ Đồng Xuân, chợ Hôm, chợ Mơ, chợ Đuổi. Phần lớn đều mồ côi, mồ cút. Con cái những nhà nghèo lắm mới phải đi bán kem, bán báo, đánh giầy, đánh mũ. Ở nông thôn, chỉ thỉnh thoảng xảy ra chuyện ăn trộm con gà, con qué. Tôi chưa thấy một giáo viên, một học sinh nào đi ăn cắp cả. Bây giờ thì nhan nhản. Xã hội đã lưu manh hóa mất rồi. Vào rạp xi-nê mà bỏ dép, để chân lên ghế trước, là y như rằng dép biến. Mới tháng tám, mà số nhập Hỏa Lò của tôi đã là 4257. Như vậy hàng năm, Hỏa Lò phải bắt vào ít nhất 6000 tù.

– Ông bạn nói đúng. Tôi vào tù cũng chỉ vì ăn cắp của công. Từ to tới nhỏ, thằng cán bộ nào có điều kiện ăn cắp mà không ăn cắp? Nhưng chết, chỉ chết loại tép riu như tôi thôi. Lương lậu chết đói, không tham ô, hối lộ, sống sao nổi. Muốn lương thiện cũng không được. Anh em, họ hàng, bạn bè gặp khó khăn, muốn cưu mang nhau cũng không nổi. Muốn xây dựng một xã hội có tình người, việc đầu tiên là phải xây dựng một xã hội no đủ. Giáo dục, văn hóa, sau. Cái đói không có tai. Khi cái dạ dày lép xẹp, lời hay, ý đẹp, dẹp tất. Chẳng hạn như mụ Sài Gòn ở đây. Mụ ta giúp được nhiều người khác, vì mụ ta có nhiều tiếp tế. Tôi với ông bạn, dù có hảo tâm, dù có muốn giúp, cũng không làm được gì. Bản thân chúng ta còn thiếu bét. Giá mụ ta mà vào xà lim này sớm hơn một chút, thì gã thanh niên buồng 6 không đến nỗi chết.

– Sao có chuyện như vậy?

– Ông bạn không biết. Cách đây độ bảy tuần, gã thanh niên buồng 6 dùng mảnh chai cắt ven (động mạch) tay, tự tử chết. Nó mới hai mươi tuổi, cao lớn, đẹp trai. Chết nỗi, lại ăn quá khỏe. Gia đình không tiếp tế. Bị cái đói hành hạ không chịu nổi, nó dùng cái chết để giải quyết cái đói. Nếu được mụ Sài Gòn cho quà, tôi tin rằng nó không tự tử. Ở buồng chung, lác đác cũng có những thằng tự sát như nó. Đứa thì đập đầu vào tường mà chết. Đứa thì dùng thủy tinh cứa cổ mà chết.

(Còn tiếp Truyện 6: Sương Buồn Ôm Kín Non Sông)

Share this post