Lên Đời (Phóng Sự Tiểu Thuyết – Văn Quang) Phần Phụ Lục: Chương 13

Lên Đời (Phóng Sự Tiểu Thuyết – Văn Quang) Phần Phụ Lục: Chương 13

LÊN ĐỜI
* Phóng Sự Tiểu Thuyết VĂN QUANG
* Tủ Sách Tiếng Quê Hương xuất bản lần thứ nhất tại Virginia, Hoa Kỳ, 2004

* Để đọc những phần đã đăng, xin vào khung Search this site (Tìm Kiếm) và gõ tên tác giả: Văn Quang.

PHẦN PHỤ LỤC
13 – MAI TRUNG TĨNH: NHÀ THƠ VÀ NGƯỜI LÍNH

Bài này tôi viết khi Mai Trung Tĩnh còn nằm bệnh viện và đã in trong cuốn thơ của anh do bạn bè xuất bản một vài năm trước. Lúc Tủ Sách Tiếng Quê Hương dự định in cuốn phóng sự của tôi, tôi được tin Mai Trung Tĩnh không còn nữa. Nhiều e-mail liên lạc qua lại giữa bạn bè ở Mỹ và Việt Nam nói về tang lễ của anh. Chúng tôi ở Sài Gòn báo tin cho nhau rồi gửi lời chia buồn cùng gia đình anh trên các trang báo ở nước ngoài. Dù vậy, tôi vẫn thấy như chưa đủ đối với một người từng có thời gian đồng cam công khổ với mình.

Dịp này, Tết Nguyên Đán vừa qua vài hôm. Sài Gòn đang vào xuân, đây đó hoa còn nở nhiều. Một số bạn từ nước ngoài về ăn Tết, tôi chợt bâng khuâng nghĩ đến những người không bao giờ trở lại như Thanh Nam, Mai Thảo, Hoài Bắc, Vũ Khắc Khoan… Bây giờ thêm Mai Trung Tĩnh. Rồi còn ai nữa trong những mùa xuân sau, kể cả những người bạn còn ở lại Sài Gòn như các anh Mặc Thu, Lê Văn, Lê Xuyên…? Vẫn biết đời là thế, sinh lão bệnh tử là lẽ đương nhiên. Vẫn biết các bạn tôi có vẻ đều coi thường cái ngày ra đi của chính mình. Nhưng ngày ra đi của bạn bè thì lại thấy xót xa vô kể. Nỗi mất mát cứ ám ảnh tôi hoài. Sài Gòn trở nên trống trải, phải chăng mỗi mùa xuân lại thêm một nỗi buồn? Tôi gửi bài này thay vòng hoa cho một người không bao giờ còn trở lại với Sài Gòn, với bè bạn.

Hồi còn làm việc chung với Mai Trung Tĩnh, tôi đã nghe anh trả lời một người bạn: “Ở đây không có ai là Đại úy Mai Trung Tĩnh, chỉ có Nguyễn Thiệu Hùng thôi”. Anh nói thật chứ không đùa. Trong cuộc sống, Mai Trung Tĩnh phân biệt rất rõ hai chuyện này. Cho nên thơ anh ít đề cập đến người lính và vì thế không ai gọi anh là “nhà thơ quân đội” như nhiều nhà thơ khác xuất thân từ đời sống quân ngũ – như thơ Thế Hoài không thiếu “những cánh dù” và “những nẻo đường hành quân”. Thơ Mai Trung Tĩnh không có các từ như thế. Tôi không nói điều đó đúng hay sai, hay hoặc dở. Thơ hay thì đề tài gì cũng hay. Người lính với Mai Trung Tĩnh là một bổn phận công dân. Đó là cảm nghĩ của tôi khi làm chung với anh ở Đài Quân Đội.

Khi tôi về Đài này, Mai Trung Tĩnh đã làm từ vài năm trước. Anh làm Trưởng Ban Chương Trình Đặc Biệt. Ít ai biết chương trình Dạ Lan do chính anh phụ trách và gây được tiếng vang không nhỏ. Anh là linh hồn của chương trình đặc biệt này. Hàng ngày việc của anh là soạn bài, soạn nhạc, nhận chỉ thị đưa vào cách nào đó cho tinh tế và phải nói không ngoa rằng cần có “nghệ thuật”, chứ không thể “dộng” vào một mớ những lời khô cứng thô thiển như ném cục gạch vào chương trình. Mai Trung Tĩnh là người chắt lọc món ăn tinh thần ấy. Tôi cho rằng anh rất thích hợp với công việc tế nhị này.

Chúng tôi cùng trải rất nhiều thời kỳ khó khăn về đủ mọi mặt, vượt qua nhiều ngày căng thẳng nhưng chưa có một va chạm nào trong công việc. Vừa là bạn, vừa là đồng nghiệp, vừa là cấp trên cấp dưới nhưng giữa tôi và anh luôn có sự thông cảm sâu sắc. Anh nhìn tôi bằng con mắt thân thiện, tôi nhìn anh bằng thái độ của một người cộng tác đứng đắn. Chúng tôi không đòi hỏi ở nhau những gì gọi là “hy sinh, dũng cảm” cho một danh từ nào vĩ đại. Tôi vẫn nghĩ, sự hy sinh dũng cảm nằm trong thái độ làm việc chứ không phải ở bề ngoài. Hãy làm hết việc của anh rồi anh muốn gì bên ngoài không phải việc của tôi. Đó là cách tôi thực hiện khi làm chung với bất cứ ai. Với Mai Trung Tĩnh, ngoài cái nhìn bè bạn ra tôi còn nể anh vì thái độ đàng hoàng, bản tính ít nói, thực hiện rất sát mọi yêu cầu, không cần “bảo hoàng hơn vua” như những người khác. Trong các cuộc họp hàng ngày, Mai Trung Tĩnh chỉ nói những gì cần, chưa bao giờ phô trương việc mình làm, ai hiểu sao thì hiểu. Cấp bậc đại úy anh mang trên vai tự nhiên như một công chức trong ngạch trật của mình. Chắc anh sẽ rất buồn cười khi có ai gọi anh là “chiến sĩ”, trong khi tôi vẫn cứ nhìn anh như một chiến sĩ, dù tôi cho rằng chính Mai Trung Tĩnh ít khi nghĩ mình là chiến sĩ.

Rồi một ngày anh vào phòng nói với tôi, anh muốn giải ngũ trở về cuộc đời làm thầy giáo của mình. Đây là dịp, theo quyết định của quân đội, các nhà giáo như anh hết thời hạn động viên được rời quân ngũ theo đơn xin. Đó là quyền lợi và sự lựa chọn của anh nên tôi hoàn toàn đồng ý, lập tức chuyển đơn. Ít lâu sau anh giải ngũ, trở về với cuộc sống xưa kia của mình. Những người bạn làm chung như Dương Phục, Dương Ngọc Hoán, Phan Thế Hùng và những nhạc sĩ như Ngọc Bích, Trần Trịnh, Nhật Bằng… đều rất luyến tiếc vì tìm được người thay thế anh không dễ. Nhìn bề ngoài, công việc chẳng có gì khó, nhưng chỉ cần một sơ suất nhỏ thôi cũng đủ “mang họa”, chưa biết từ anh đầu đài đến anh cuối đài sẽ đi về đâu. Một thời gian sau, mọi người mới yên tâm về người thay Nguyễn Thiệu Hùng. Đó là điều có lẽ đến nay ông Nguyễn Thiệu Hùng tức nhà thơ Mai Trung Tĩnh mới biết hoặc vẫn chưa biết.

Suốt một thời gian dài, tôi ít có dịp gặp Mai Trung Tĩnh. Đó là chuyện thường tình trong cái sinh hoạt xô bồ của thành phố Sài Gòn. Anh lại là người không hay đi chơi, dù là phòng trà ca nhạc hay những thú vui khác.

Bất ngờ, khoảng năm 1979, chúng tôi gặp lại nhau trong trại cải tạo Tân Lập miền “chín suối mười đèo” Vĩnh Phú. Anh yếu hơn xưa. Tôi chưa thể quên hình ảnh Mai Trung Tĩnh vận chiếc áo “cảnh sát dã chiến” thùng thình bạc phếch, rách tả tơi đi trên cánh đồng giữa khung trời rừng núi mưa bụi mịt mờ. Anh hệt như con gà mái xù lông, rã cánh vì mệt mỏi nhưng vẫn lầm lũi, cất bước nặng nề trong công việc lúc nào cũng như quá sức của mình. Gặp tôi, anh thản nhiên thăm hỏi và chắc cũng như nhiều người khác cứ tưởng cái vóc dáng còm nhom của tôi không tài nào chịu đựng nổi vài năm trong trại. Anh nhìn tôi đầy vẻ ái ngại, trong khi tôi cũng nhìn anh như thế. Vậy mà vẫn cứ thản nhiên thăm hỏi nhau về hết người bạn này đến người bạn khác. Anh nói đến những người ở nước ngoài như người từ một hành tinh khác và chắc anh cũng có ý nghĩ như tôi là chẳng bao giờ còn có cơ hội đặt chân lên cái hành tinh xa lạ kia.

Vài hôm sau, một buổi sáng Chủ nhật, Mai Trung Tĩnh gọi tôi sang “nhà” anh, “chiêu đãi” một bữa sáng. “Nhà anh” sát bên “nhà tôi” trong cùng một khu nên việc đi lại dễ dàng hơn, nhất là chúng tôi lại cùng có chung một cái bếp tập thể. Ở trại này, người ta gọi những phòng giam tù là “nhà” chứ không gọi là “lán” vì nó được xây dựng “bán kiên cố” nửa gạch nửa tre tranh. Ở nhà nào thì gọi đó là “nhà tôi”. Những bữa “chiêu đãi” thường là sau chuyến thăm nuôi hoặc nhận quà của gia đình. Tôi với anh như đã thành tiền lệ, cứ có thăm nuôi, có nhận quà là hẹn nhau ăn một bữa. Ở chung nhà thì bữa “chiêu đãi” tổ chức vào buổi tối, ở khác nhà thì tổ chức vào buổi sáng Chủ nhật, một công đôi việc. Sáng Chủ nhật nghỉ lao động cũng nghỉ ăn sáng, nên ăn với nhau là rất đúng lúc. Bữa ăn bao giờ cũng giản dị, một tô mì, một ly cà phê sữa hoặc sang hơn thì một đĩa xôi lạp xưởng, vài cái bánh ngọt. Bữa ăn như thế trong tù là một bữa tiệc thật sự, bù lại những bữa điểm tâm với sắn H34 và khoai lang rồi lao ra đồng giữa cái giá buốt của những ngày mùa đông.

Trong cuộc sống cay cực đó, Mai Trung Tĩnh vẫn giữ được vẻ thản nhiên, lầm lũi, bình lặng như cuộc đời sinh ra là thế. Chưa bao giờ tôi nghe thấy một tiếng than van. Anh chịu đựng bền bỉ trong mọi hoàn cảnh rất dễ khiến nhiều người nổi nóng, thay đổi tính tình. Với Mai Trung Tĩnh, từ khi còn làm chung với nhau, tôi chưa hề thấy anh nổi sùng, cáu gắt với bất kỳ ai. Anh cứ như thờ ơ trước mọi biến chuyển. Chỉ có điều khác là tôi cũng khó thấy ở anh một nụ cười vào thời gian ở trại cải tạo. Trước kia thỉnh thoảng anh còn hóm hỉnh hoặc cất tiếng cười hồn nhiên vô tư với bạn bè. Đôi khi anh cũng rất hóm hỉnh với các cô xướng ngôn viên hay những người đẹp luôn xuất hiện trong đài phát thanh. Dù vậy, tôi chưa từng nghe điều tiếng nào về anh. Mọi thứ dành cho anh như nếp gấp lâu ngày thành thói quen đông cứng lại, anh không muốn từ bỏ, không muốn xáo trộn, nhưng nếu tự nó xáo trộn, anh cũng chấp nhận như việc hết sức tự nhiên.

Cái nhìn của tôi về Mai Trung Tĩnh là thế. Anh ra khỏi trại trước tôi vài năm. Về Sài Gòn, tôi không gặp anh, nhưng nghe tin anh sống khá vất vả. Khi anh đi định cư ở Mỹ, tôi cũng chỉ nhận tin qua bạn bè. Có người nói anh vào nhà dưỡng lão, sống rất cô đơn. Có người nói mắt anh kém lắm rồi. Nỗi bùi ngùi chất chứa nhưng chẳng biết chia sẻ cách nào với người bạn hiền lành mà tôi hằng quý mến. Đến khi anh còn một tập thơ cùng với Vương Đức Lệ để lại Sài Gòn, thuê đánh máy chẳng mất bao nhiêu tiền, nhưng tôi nhận lời đánh máy lại cho anh để có dịp đọc lại thơ anh cho thấm hơn. Đó là kỷ niệm gần nhất và cuối cùng của tôi với Mai Trung Tĩnh.

Vâng, đúng thế, bây giờ còn lại là nhà thơ Mai Trung Tĩnh chứ không phải Đại úy Nguyễn Thiệu Hùng. Người ta quên ông ấy rồi, chỉ có những năm tháng tù đày còn nhớ.

Nhưng, ngày 20-2-2002 Mai Trung Tĩnh cũng vĩnh viễn ra đi.

(Hết Chương 13 Phần Phụ Lục)

Share this post