Mùa Hạ Hai Mươi (Tiểu Thuyết – Hoàng Hải Thủy) Chương 4 (Tiếp theo)

Mùa Hạ Hai Mươi (Tiểu Thuyết – Hoàng Hải Thủy) Chương 4 (Tiếp theo)

MÙA HẠ HAI MƯƠI
* Tiểu Thuyết Hoàng Hải Thủy
* Truyện viết trong căn gác nhỏ Cư xá Tự Do (Ngã Ba Ông Tạ, Thành Hồ) năm 1992. Viết lại ở Rừng Phong (Virginia Đất Tình Nhân, Hoa Kỳ) Tháng Giêng 2000.
* Nguồn: Blog Hoàng Hải Thủy (https://hoanghaithuy.wordpress.com)

* Để đọc những phần đã đăng, xin vào khung Search this site (Tìm Kiếm) và gõ tên tác giả: Hoàng Hải Thủy

CHƯƠNG 4
(Tiếp theo)

Khi chúng ta chia tay nhau buổi tối, trời mưa, dưới hàng me ướt lướt thướt đường Richaud, em hẹn em sẽ đến với anh vào lúc 8 giờ sáng ngày Thứ Bẩy sắp tới ở tiệm Phở Minh. Việc đó chắc như bắp, chắc hơn cua gạch: sáng Thứ Bẩy trời trong, anh lại được gặp em, anh lại được hưởng Tình Yêu của em, anh lại được sống với em suốt một ngày dài. Anh dám chắc không có ông bà thầy bói nào, dù là thầy bói nổi tiếng nhất thế giới, dám nói với anh rằng sáng Thứ Bẩy tới anh sẽ không được gặp em. Nhưng em yêu ơi: “Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên. Nhân định như thử, như thử, thiên lý vị nhiên, vị nhiên…” Đó là lời than đứt ruột của quân tử Tầu khi bị thất bại trong toan tính, khi gặp chuyện bất như ý. Quân tử Tây cũng than y hệt: “L’home propose, Dieu dispose“. Ba mươi tám năm trước, anh đã không được gặp lại em trong tiệm Phở Minh cũng như anh không còn lần nào được gặp lại em nữa ở bất cứ đâu trên trái đất này.

Chiều Thứ Sáu, anh ghé vào lớp học. Không khí trong phòng học có một cái gì đó khang khác với những buổi học trước. Nhiều học viên nhìn anh bằng những ánh mắt khác lạ. Anh chẳng quen biết ai nên chẳng có ai báo động cho anh. Trước giờ học, một ông Thượng Sĩ ôm quyển sổ vào lớp điểm danh. Đây mới thật là chuyện lạ đáng kể: những buổi học trước có thấy ai điểm danh, điểm lợi gì đâu.

Khi tên anh được gọi, anh dơ tay đáp: “Có mặt!”, ông Thượng sĩ nhìn anh hơi lâu, rồi ông ghi gì đó trong quyển sổ trực. Điểm danh xong, ông ngoắc ngoắc ngón tay ra hiệu cho anh đi theo ông. Lôi thôi rồi, trong những ngày gần đây người ta đã làm cái trò điểm danh mỗi buổi học và lòi ra anh là tên vắng mặt. Ác một nỗi là trong những ngày học đầu người ta đã không làm cái trò điểm danh rắc rối này. Nếu người ta điểm danh ngay từ ngày đầu tất nhiên anh có đủ thông minh tối thiểu để biết rằng học viên không có thể cúp cua tự do và liên miên cả ba bốn ngày liền được. Hậu quả chưa biết rồi sẽ ra sao nhưng có gì thì cũng đành thôi, bây giờ có hối cũng muộn rồi…

Anh theo ông Thượng Sĩ điểm danh lên văn phòng. Ông ngồi vào bàn còn anh vẫn đứng, vì thượng cấp chưa cho phép ngồi. Nhưng sau cùng, tuy mới tám giờ sáng ông ngáp dài mệt mỏi rồi cũng lạnh lùng bảo anh:

– Ngồi… Đưa giấy tờ coi…

Ông coi rồi hỏi:

– Anh thuộc quân số Đại Đội Trọng Pháo 102 nhưng lại mang giấy giới thiệu của Phòng Năm Phân Khu Sóc Trăng về học là… sao?

Anh cố gắng trình bày, bằng những lời dễ hiểu nhất, để ông biết về tình trạng của anh. Nhưng coi bộ ông không hiểu, và rõ ràng là ông không cần hiểu. Mặc cho anh kể lể một hồi, sau cùng ông nói:

– Về học nhưng không đến học. Chờ gặp Đại Úy.

Chẳng biết là phải gặp Đại Úy nào, nhưng cái ông Đại Úy mà anh phải gặp đó chiều ấy không có mặt ở văn phòng. Hết giờ làm việc, ông Thượng Sĩ điểm danh thu giấy tờ của anh rồi dắt anh xuống Phòng Tạm Giữ, giao cho một ông Thượng Sĩ khác. Đây là Tổng Hành Dinh Đệ Nhất Quân Khu. Ở đây có Phòng Tạm Giữ đàng hoàng. Anh ở đó suốt buổi tối, hút thuốc lá vặt, ăn thì nhờ anh lính đi mua cho ổ bánh mì, chai nước ngọt, ruột gan, phèo, phổi, dạ dày, lá lách anh nóng hơn bị lửa đốt. Nhưng đành chịu trận thôi. Anh hỏi chuyện và dược biết nội vụ đổ bể tùm lum như vầy:

Số là trong nhóm gọi là Hạ Sĩ quan Tác Động Tinh Thần huynh đệ chi binh của anh từ các quân khu, phân khu, tiểu khu quân sự khắp Đệ Nhất Quân khu, tức là miền Nam, về dự Khóa Huấn Luyện, không phải chỉ có anh là học viên duy nhất bỏ học, cúp cua. Còn tới ba bốn anh ham vui, chịu chơi chứ không chịu học như anh. Vì Khóa Huấn Luyện Đánh Võ Mồm được tổ chức lem nhem cho nên trong những ngày đầu chẳng ai thèm để ý đến ai. Ban tổ chức gần như không nắm được con số học viên là bao nhiêu.. Cuộc sống êm ả trôi và tất cả mọi người đều hài lòng, cho đến một hôm vô phúc có một Trung Sĩ học viên cúp cua chở người yêu em gái SèGòong đi chơi Lái Thiêu bằng xe Mobylette bị xe ô tô cũng nhà binh đụng lăn đùng, ngã ngửa ở giữa đường. Chàng Trung Sĩ đào huê này chết ngay tại chỗ hay là ôm đầu máu vào nhà thương Cộng Hòa rồi trở về đơn vị “lãnh củ” thì những người kể chuyện lại cho anh không được biết rõ, điều biết rõ nhất là Quân Cảnh đến nơi xẩy ra tai nạn xem giấy tờ của đương sự, thấy đương sự là học viên Khóa Huấn Luyện chi đây ở Phòng Năm Đệ Nhất Quân Khu, bèn báo tin về Tổng Hành Dinh Đệ Nhất Quân Khu. Các vị cấp trên ở cái Tổng Hành Dinh này bèn đánh xuống cấp giữa, cấp giữa nện xuống cấp dưới. Và thế là người ta điểm danh những anh học viên, anh nào vắng mặt bị ghi tên, và khi những anh lính ham chơi này xạo xạo sập sí sập ngầu vác mặt vào lớp mập mờ đánh lận con đen đều bị tóm cổ, lôi ra, đuổi về đơn vị.

Chuyện rắc rối chỉ có vậy thôi. Với anh thì cũng chẳng có gì quan trọng lắm. Chỉ có điều xui tận mạng cho anh là anh lại dẫn xác vào lớp học ngay buổi chiều ngày Thứ Sáu, và ông Đại Uý phụ trách việc đuổi học viên cúp cua lại vắng mặt ở nhiệm sở suốt buổi chiều. Ông chỉ ra lệnh cho thuộc cấp là “…tên nào cúp cua tới thì giữ nó lại gặp tôi”. Chỉ có thế thôi và thuộc cấp của ông đã thi hành lệnh đúng từng chữ một, quan Tây gọi việc “đúng từng chữ” này là “à la lettre“. Và thế là anh bị giữ lại đêm Thứ Sáu trong Tổng Hành Dinh Đệ Nhất quân Khu. Lỉnh kỉnh mãi đến 10 giờ sáng thứ Bảy anh mới cầm lại được giấy tờ và cái lệnh Đuổi Về Đơn Vị.

Về thì về, chết thằng Tây nào đâu mà sợ. Với anh thì việc học hết khóa huấn luyện, thi và đậu Major, tức là Thủ Khoa, hay trở về Sóc Trăng cũng “chẳng ảnh hưởng gì đến tình hình chính trị thế giới”. Chỉ có điều là anh không đến được Phở Minh sáng Thứ Bẩy với em. Anh yêu và em sẵn sàng, em tự nguyện, em trìu mến, em vui vẻ, em rộng rãi cho anh yêu em, nhưng số anh là số con rệp, với tất cả những điều kiện tối ưu như vậy anh cũng chẳng bao giờ còn được hưởng Tình Yêu của em nữa.

Bốn giờ chiều Thứ Bẩy, anh vọt đến vi-la đường Richaud xanh mướt lá me tìm em. Khi anh đến, ở ngay cổng sắt có một em người làm đang đứng nhìn vẩn vơ ra đường. Em Tiểu Siêu này cũng trạc tuổi em. Em có cái vẻ lẳng lơ rất đĩ. Khi anh nói:

– Cho tôi hỏi cô Êlen…

Em Sến không nói với anh nửa lời, em chỉ tay cho anh vào nhà, ngụ ý dzô trỏng mà hỏi. Anh đi lên thềm vi-la. Từ đó nhìn qua cửa vào phòng khách, anh thấy có hai ông Tây đang nói chuyện với nhau. Thấy anh đứng xớ rớ ở cửa, ông Tây Chủ Nhà bước ra.

Ông Tây trạc năm mươi tuổi, người nhỏ nhắn, mặt mũi vui vẻ. Năm nay anh sáu mươi tuổi, anh thấy những người năm mươi còn rất trẻ, song năm đó anh mới hai mươi tuổi, anh thấy những người năm mươi tuổi đã là già. Ông Tây Chủ Nhà rất hóm và nhanh trí. Khi thấy anh “lắp véc” hỏi ông :

Je demande à parler à Mademoiselle Hélène

Thấy anh bận đồ mi-li-te kaki, ông cười tủm và nói:

Il n’y a pas de mademoiselle Hélène ici. Vous allez vous faire parachuter ailleurs, monsieur le militaire…!

Trong khi ông Tây Đàn Anh vẫn lịch sự, vui vẻ, hòa nhã, hóm hỉnh, văn minh, thì anh bị quê, anh quay ngoắt đi ra. Buổi chiều đó là một chiều Tháng Sáu, và buổi chiều nay khi anh ngồi viết những dòng này, cũng là một chiều Tháng Sáu. Nhưng chiều Tháng Sáu đó là Tháng Sáu năm 1954, chiều Tháng Sáu này là Tháng Sáu năm 1992, đã 38 năm trôi qua cuộc đời chúng ta. Những hàng me đường Richaud đã qua 38 mùa lá rụng, anh vẫn còn nhớ rõ nét mặt hóm hỉnh của ông Tây Chủ Vi-la Richaud và nguyên văn lời ông nói: “Không có cô Hélène ở đây. Anh đi nhẩy dù chỗ khác, anh quân nhân…!”

oOo

Từ đó em ra khỏi đời anh, từ đó anh không còn lần nào được gặp em nữa. Mãi đến hai, ba năm sau, một buổi chiều – cũng vào một buổi chiều – anh tình cờ gặp Marta bạn em cũng trên vỉa hè đường Tự Do – đường Catinat năm 54 nay đã thành đường Tự Do – anh chặn Marta lại:

– Mácta… Nhớ tôi không?

Marta nhìn anh nhưng nàng chỉ thấy anh quen quen, anh nói tiếp ngay:

– Năm 54 Mácta đi Bạc Liêu với Êlen và chị Luyxi… Bọn mình gập nhau giữa đường. Êlen rủ tôi đi sang Bạc Liêu… Mình gặp nhau ở chỗ kẹt xe vì mìn nổ ở Phụng Hiệp đó. Năm ấy tôi ở lính. Nhớ không?

Marta cười:

– Nhớ… Nhớ rồi…

Anh – rất bất lịch sự – hỏi ngay về em:

– Mácta cho tôi biết hồi này Êlen ra sao? Nó ở đâu?

Nàng nói:

– Nó sang Pháp rồi…

Anh đứng ngẩn người. Mácta nói tiếp:

– Nó lấy chồng Tây. Chồng nó đưa nó về Pháp…

– Lâu chưa? – Anh hỏi.

– Cuối năm 55 đầu năm 56 chi đó…

– Có lần tôi đến tìm Êlen ở cái vi-la đường Richaud. Êlen bảo tôi nó ở đó nhưng khi tôi đến, gặp ông Tây chủ nhà, hỏi Êlen thì ông ấy nói không có cô Êlen nào ở đó cả…

Marta cười:

– Ông Tây ấy là chồng nó đó. Ổng là kỹ sư Hãng Máy bay. Ổng góa vợ, thương nó lắm. Nghe nói về Pháp nó đẻ cho ông ấy một đứa con, ổng lại càng thương dữ. Nó sướng lắm, anh mà gặp nó bây giờ thì chắc anh chết…

Chẳng cần phải gặp em lúc này, khi em ở Paris, Nice trở về anh mới chết. Anh đã chết ngay từ buổi sáng anh gặp em trên đường Phụng Hiệp từ Cần Thơ sang Sóc Trăng đầu năm 54 mùa xuân xanh ngày xưa; ngày xưa, năm anh hai mươi tuổi. Nếu chết là như thế thì anh muốn được chết đi, chết lại cả triệu lần. Trong ánh sáng và bóng tối mờ ảo của căn phòng ngủ trong hàng ăn đường Jaccaréo chiều mưa mùa thu năm 54, khi anh chết lịm trên bộ ngực tròn nây của em, trên da thịt ngà mịn của em, trong vòng tay ôm chặt của em, anh nghe tiếng em hỏi trong tiếng em thở:

– Nhớ em không?

Anh không biết em có nhớ anh không, anh chỉ biết là anh nhớ em. Anh nhớ ánh nắng vàng buổi sáng năm xưa trên đường Phụng Hiệp – Sóc Trăng, nhớ làn sương mồ hôi ẩm mịn trên lưng áo em, trên ót em khi anh đưa em từ chỗ chiếc Thiết Vận Xa trúng mìn chạy về. Anh nhớ hình ảnh của anh: chàng Trung Sĩ Bắc kỳ hai mươi tuổi, bận áo thung ba lỗ, quần ka-ki, đi giép, ngồi viết tiểu thuyết ba xu trong căn nhà vách tôn, mái tôn của Đại Đội Trọng Pháo 102 ở cạnh sân bay Sóc Trăng, sân bay không có hàng rào, không cần có lính gác cả ngày lẫn đêm, khi chú lính vào cho biết “…Có bà dzợ ông ở SèGòong xuống kiếm…” Anh nhớ em áo bà ba, quần sa-teng trắng, tay cầm cái khăn mùi-soa trong có mấy chục bạc, ngồi bên anh trong chiếc xe lôi bon bon về nhà Băng-ga-lô Sóc Trăng. Gió lồng lộng thổi nhưng anh vẫn ngửi thấy đậm hương da thịt em bên anh trên chiếc xe lôi thời hoa niên, khi anh hai mươi tuổi, anh chưa biết đau thương, chưa biết nợ nần, đời anh chỉ có hoa và mật ngọt, và da thịt thơm mùi phấn ái ân.., Anh nhớ tiếng người đàn bà vang lên sau lưng anh trên lối vào nhà xi-nê Eden một chiều nào xanh xưa:

– Đi một mình hay đi với ai đây?

Anh không biết năm nay em bao nhiêu tuổi, anh chỉ biết ba mươi tám năm trước em hai mươi tuổi. Em đừng buồn khi anh nói câu này: năm nay dù ở tuổi nào, em vẫn đẹp, vẫn đa tình, vẫn quyến rũ, vẫn gợi cảm, da thịt em vẫn nây tròn, vẫn thơm hồng, như lan, như sen, như quế; bọn đàn ông vẫn chết mê, chết mệt vì em. Song dù gì đi nữa em cũng chẳng thể nào bằng được em năm em hai mươi tuổi. Nhưng em đừng lo. Vì trong tim anh, trong trí nhớ của anh, em vẫn mãi mãi là Hélene Hai Mươi Tuổi. Em không già đi, em không thay đổi. Thời gian tàn phá tất cả, nhưng thời gian vô hiệu trước hình ảnh huyền diệu, tươi mát của em trong ký ức, trong tim anh.

Chú học trò nhỏ trường Tự Đức ở tỉnh lỵ Hà Đông ngồi mở trang sách vẽ hình đám ma Bà Sơ ở thị trấn Sóc Trăng xa vời, anh chàng Trung Sĩ bất đắc dĩ cô đơn trên con đường quận Phụng Hiệp, người thiếu nữ Sóc Trăng thơm mát trong căn phòng Băng-ga-lô 14, người đàn ông tóc bạc trắng ở tù trở về mái nhà xưa, ngồi hoài niệm hoa niên, lọc cọc gõ máy chữ bằng Mê-tót Đơ Đoa ghi lại những gì đã qua.. Đến tuổi này anh mới thấy:

Năm nay mái tóc không xanh nữa,
Tôi đã đau thương, đã nợ nần…

“Đau thương” chưa chắc đã đúng. Cho đến lúc này đời anh thực chẳng có gì đáng gọi là “đau thương”. Anh đã yêu thương, anh đã được yêu thương, anh đã nợ nần mới đúng. Anh quý trọng những gì anh đã được hưởng, anh cám ơn những người đã ban ơn cho anh, như em…

Khi đôi ta có duyên với nhau, đôi ta gặp nhau. Khi đôi ta hết duyên với nhau, dù cùng sống trong lòng thành phố Sài Gòn, anh chẳng lần nào còn được gặp em. Anh gặp người đàn bà khác, anh gặp Tình Yêu và anh có Tình Yêu, anh có hạnh phúc. Nhưng anh vẫn nhớ em. Em là một hình ảnh đẹp trong thời hoa niên của anh. Anh còn muốn viết nhiều nữa về em, về cuộc tình của đôi ta, về Tình Yêu nói chung. Song như người xưa đã nói: “Tống quân thiên lý, tất hữu nhất biệt”… Tiễn đưa nhau ngàn dặm rồi cũng có lúc phải rời xa nhau. Anh mượn ý bài thơ “Love and Age” của thi sĩ Thomas Peacock để tạm kết cuộc hoài niệm về Tình Yêu của Em và Anh.

LOVE AND AGE
I play’d with you ‘mid cowlips blowing,
When I was six and you were four,
When garlands weawing, flower-balls throwing,
Were pleasures soon to please no more.
Through groves and meads o’er grass and heather,
With little playmates, to and fro,
We wander’d hand in hand together,
But that was sixty years ago.
You grew a lovely roseate maiden,
And still our early love was strong,
Still with no care our days are laden,
They glided joyously along,
And I did love you very dearly,
How dearly words want power to show,
I thought your heart was touch’d as nearly,
But that was fifty years ago.
Then other lovers came around you,
Your beauty grew from year to year,
And many a splendid circle found you
The centre of its glittering sphere,
I saw you then, first vows forsaking
On rank and wealth your hand bestow
O then Ithought my heart was breaking…!
But that was forty years ago.
And I lived on, to wed another:
No cause she gave me to repine.
And when I heard you were a mother,
I did not wish the children mine.
My own young flock, in fair progression,
Made up a pleasant Christmas row:
My joy in them is past expression,
But that was thirty years ago.
You grew a matron plump and comely,
You dwelt in fashion’s brightest blaze,
My earthly lot was more homely,
But I too had my festal days.
No merrier eyes have ever glisten’d
Around the hearth-stone’s wintry glow,
Than when my youngest child was christen’s,
But that was twenty years ago.
Time pass’d. My eldest girl was married,
And I am now a grand sire gray,
One pet of four years old I’ve carried
Among the wild-flower’d meads to play
In our old fields of childish pleasure
Where now, as then, the cowlips blow.
She fills her basket’s ample measure,
And that is not ten years ago.
But though first love’s impassion’s blindness
Has pass’d first love’s impassion’d blindness
Has pass’d away in colder light,
I still have thought of you with kindness
And shall do, till our last goodnight.
The ever-rolling silent hours
Will bring a time we shall not know,
When our young days of gathering flowers
Will be a hundred years ago.

(Thomas Love Peacock, 1785-1866)

Mùa xuân, mùa hạ, mùa thu, mùa đông năm 1989, cuộc đời đưa đẩy anh đến sống trong Trại Lao Động Cải Tạo Z 30A dưới chân núi Chứa Chan. Nơi này có những ngọn đồi cỏ mượt trong mùa mưa, có những cánh rừng bạch đàn rì rào trong gió thu. Con anh đem đến đó cho anh tập The Oxford Book of English Verse. Trong tập này có 967 bài thơ. Ở chân núi Chứa Chan, trong tiếng lá bạch đàn rì rào, anh dịch được hơn 50 bài thơ trong tập này ra thơ Việt. Trong số có bài Love and Age trên đây. Bài thơ làm cho anh cảm động dù đời anh không có mối tình nào giống hệt như mối tình của Thomas Love Peacock, người thơ đã sống, đã yêu, đã chết trước anh hơn 100 năm. Bài thơ cũng không hoàn toàn đúng với cuộc tình Sóc Trăng Mùa Hạ 54 của anh, anh chỉ mượn nó để ca tụng Tình Yêu. Tình Yêu không bao giờ chết, Tình Yêu không thể nào chết. Chừng nào trái đất còn Loài Người thì vẫn còn có Tình Yêu.

Em và anh, đôi ta đã trong một buổi sáng nào đó gặp nhau, yêu nhau trên con đường Cần Thơ – Phụng Hiệp – Sóc Trăng vàng nắng; sau chúng ta có cả triệu cặp tình nhân trẻ tuổi, da thịt măng non, mật ngọt sẽ gặp nhau, sẽ yêu nhau trên con đường vàng nắng Cần Thơ – Phụng Hiệp – Sóc Trăng… Mãi mãi như thế… Vĩnh biệt Hélène… Em hãy đọc những lời anh nói riêng với em trong bài thơ:

TÌNH và TUỔI
Anh với Em, trong vườn tầm xuân
Khi Anh lên sáu, Em lên bốn
Ta kết hoa trong lá xanh ngần,
Dưới vòm hoa, Anh tìm, Em trốn,
Với các bạn, ta đi, tay trong tay
Như đôi chim non trên cành lá mượt
Chuyện đôi ta đó, sáu mươi năm trước.
Rồi Em lớn, đôi má hồng tươi mướt,
Chúng ta yêu nhau, trong tuổi dậy thì
Những đường mơ, lối mộng chúng ta đi,
Ngày với tháng qua, chúng ta không biết
Anh chỉ biết Anh yêu Em tha thiết,
Không có lời Anh nói hết Tình Anh
Và trái tim Em, Anh biết, băng trinh
Em cũng như Anh, yêu nhau trên hết.
Đó là chuyện của năm mươi năm trước.
Rồi quanh Em có những người yêu khác,
Mỗi năm hơn Em đẹp gấp trăm lần.
Quanh đời Em rực rỡ những mùa xuân.
Em tâm điểm của vầng hào quang ấy.
Rồi Em bắt đầu, Anh buồn nhận thấy
Tính chuyện sang hèn, tính chuyện giầu nghèo…
Ôi – Trái tim Anh vỡ nát vì yêu
Đó là chuyện của bốn mươi năm trước.
Rồi Anh vẫn sống, Anh lấy người khác,
Nàng không làm Anh phải tủi, phải buồn.
Rồi Anh nghe tin Em đã có con,
Chúng ta cùng năm trở thành bố mẹ.
Cuộc đời trôi đi, êm đềm như thế,
Anh vui vợ con, mái ấm gia đình,
Những ngày đón xuân, những đêm Giáng Sinh…
Đó là chuyện của ba mươi năm trước.
Em trở thành bà, sang đẹp, nõn nà
Trong nhung lụa, phấn son, vàng với ngọc
Anh sống bình thường, đời không gấm vóc,
Những ngày vui thanh thản, những đêm đông,
Với vợ con bên lò sưởi đỏ hồng
Dậy con học, đưa đón con đi học
Đó là chuyện của hai mươi năm trước.
Rồi Anh già đi, tóc râu Anh bạc,
Rồi các con Anh cưới vợ, lấy chồng,
Cháu Anh ra đời, Anh đã thành Ông,
Dắt cháu đi chơi trên những cánh đồng
Trong vườn cỏ mượt, nơi ta ngày xưa
Hái hoa tầm xuân, khi ta còn thơ
Hoa tầm xuân xưa nở mượt bây giờ
Đó không là chuyện mười năm về trước.
Dù cho Tình Đầu, qua năm, qua tháng
Có nhạt phai đi với niềm cay đắng
Anh vẫn mến Em, Anh vẫn nhớ Em,
Nhớ Em cả phút cuối cùng im vắng
Khi Thời Gian đưa chúng ta vào quên
Vào cuộc sống chưa bao giờ biết đến
Khi ta hái hoa ngày xưa hoa niên
Đó sẽ là chuyện trăm năm về trước

(Hết: Mùa Hạ Hai Mươi – Hoàng Hải Thủy)

Share this post