Mùa Hạ Hai Mươi (Tiểu Thuyết – Hoàng Hải Thủy) Chương 4

Mùa Hạ Hai Mươi (Tiểu Thuyết – Hoàng Hải Thủy) Chương 4

MÙA HẠ HAI MƯƠI
* Tiểu Thuyết Hoàng Hải Thủy
* Truyện viết trong căn gác nhỏ Cư xá Tự Do (Ngã Ba Ông Tạ, Thành Hồ) năm 1992. Viết lại ở Rừng Phong (Virginia Đất Tình Nhân, Hoa Kỳ) Tháng Giêng 2000.
* Nguồn: Blog Hoàng Hải Thủy (https://hoanghaithuy.wordpress.com)

* Để đọc những phần đã đăng, xin vào khung Search this site (Tìm Kiếm) và gõ tên tác giả: Hoàng Hải Thủy

CHƯƠNG 4

Sống trong Phòng Năm Phân Khu chừng 2 tháng, anh lại có dịp trở về Sài Gòn. Lúc ấy thời gian vào khoảng tháng 4, tháng 5, năm 1954. Hòa hội Genève đã mở, người ta đang gặp nhau để tính chuyện cắt đôi nước Việt Nam ở chỗ nào. Đệ Nhất Quân Khu Quân Đội Quốc Gia mở khóa học về chính sách tác động tinh thần trong tình hình mới.

Thời ấy về mặt quân sự, nước ta chia làm 3 Quân Khu. Đệ Nhất Quân Khu là Nam phần, Đệ Nhị Quân Khu là Trung phần, và Đệ Tam Quân Khu là Bắc phần.

Trụ sở Đệ Nhất Quân Khu năm ấy nằm ở đường Hùng Vương, khoảng giữa Bệnh Viện Hồng Bàng và Bảo Sanh Viện Hùng Vương hiện nay.

Phòng Năm Phân Khu Sóc Trăng được, và có bổn phận, cử người về dự khóa học. Học viên phải từ cấp bậc Trung Sĩ trở lên. Ở Phòng Năm Phân Khu, ngoài anh ra, chỉ có một Trung Sĩ, anh này hơn anh vài tuổi và đã có vợ con. Không phải là dân Sài Gòn cũng không có nhà người thân ở Sài Gòn, Trung Sĩ này rất ngại phải về Sài Gòn, dù chỉ là về trong một tháng để đi học. Về Sài Gòn như thế anh Trung Sĩ này phải mang thêm tiền nhà đi ăn xài, mà anh ấy thì một vợ, hai con, một bà mẹ già, bốn năm miệng ăn chỉ trông vào số lương tháng chừng ba nghìn bạc của anh ấy. Việc phải về Sài Gòn đi học với anh ấy là một tai họa. Nhưng Phòng Năm Phân Khu không thể không cử người về học. Có anh sẵn đó, anh là người đang ngày đêm không phải là muốn mà là khao khát được về Sài Gòn. Thiếu Úy Liễn hỏi anh:

– Muốn về Sài Gòn một tháng không?

Còn phải hỏi nữa. Hỏi Trung Sĩ Bắc Kỳ có muốn về Sài Gòn không thì cũng như hỏi cô Thúy Vân có muốn làm vợ cậu Kim Trọng không. Ở đây không có chuyện tranh nhau quyền được về Sài Gòn. Nói rõ hơn là cả thành phố Sóc Trăng lúc ấy chẳng có ai muốn về Sài Gòn cả, ngoài anh Trung Sĩ Bắc Kỳ lưu vong đang ngày đêm nhớ thương, thèm khát Sài Gòn như nhớ thương, thèm khát tình nhân.

Và thế là tất cả mọi người trong Phòng Năm Phân Khu Sóc Trăng – Bạc Liêu đều hài lòng. Vào lúc trời sáng tinh mơ, Thiếu Úy Liễn lái xe Jeep đưa anh ra bến xe. Anh thót lên xe đò Thiên Tân, xe chuyển bánh rời bến Sóc Trăng lúc 6 giờ sáng. Khoảng ba, bốn giờ chiều anh lại nôn nao nhìn thấy những ống khói Nhà Máy Rượu Bình Tây vươn lên ở chân trời. Anh về Sài Gòn trước ngày khai giảng khóa học tới cả mười ngày.

Anh đi tìm em. Địa chỉ em cho anh ở đường Galiéni. Đầu năm 1954, năm anh từ Sóc Trăng về Sài Gòn tìm em theo địa chỉ em cho anh, tất cả những đường phố Sài Gòn còn mang tên Pháp – bây giờ chỉ có những người ở lớp tuổi 60 từng sống ở Sài Gòn những năm trước 1954 mới còn nhớ được một số những tên đường này: Catinat, Charner, Bonard, Paul Blanchy, Colonel Grimaud, Colonel Boudonnet, Vassoigne, Narbé, Barbier, Miss Cawell, Mayer, Duranton, Legrand de la Lyrae, Lagrandière, MacMahon, Audouit. Dixmude v.v… Đa số là tên những sĩ quan Pháp từng tham dự vào cuộc đánh chiếm Nam Kỳ.

Galiéni về sau đổi tên là đường Trần Hưng Đạo, một trong những con đường lớn nhất, dài nhất Sài Gòn.

Nhưng nhà em không ở mặt tiền đường. Ở khoảng nhà hàng Tour d’Ivoire – nhà hàng vũ trường này là nơi mười mấy năm sau ngày anh đến tìm em xẩy ra vụ ông Thiếu Tá Mũ Đỏ Nguyễn Viết Cần, cùng một số sĩ quan Nhảy Dù bạn ông, bắn chết 2 Quân Cảnh Mỹ – ở gần lối lên nhà hàng vũ trường Tour d’Ivoire có một lối vào. Nhà em ở trong dẫy nhà nằm bên trong lối vào ấy. Sài Gòn khác với Hà Nội ở những khu xóm lao động như Bàn cờ và những khu nhà nằm bên trong những dẫy nhà mặt đường như thế này. Đây là một trong những cảnh mà dân gian thường gọi là “Sau dẫy nhà lầu” – theo tên một tiểu thuyết tình cảm ăn khách của Ngọc Sơn, đăng trên nhật báo Tiếng Chuông thời ấy. Người đi ngoài đường không biết đằng sau những dẫy nhà mặt tiền đẹp đẽ đó của Sài Gòn lại có những dẫy nhà không lấy gì làm đẹp đẽ, sáng sủa chi cho lắm. Anh đi vào một sân sau, lên một cầu thang, qua mấy hành lang mới đến nhà em.

Nhưng em không có nhà. Dường như em không sống ở đây với bà mẹ em, hoặc nếu em có sống thời gian nào trong gian phòng nhỏ này thì đó chỉ là thời em còn dưới mười ba, mười bốn tuổi. Anh vào đó và gặp trong gian phòng tối một bà chừng năm mươi tuổi. Giờ đây khi anh ở vào tuổi sáu mươi, anh thấy những người đàn bà năm mươi tuổi là đàn bà trẻ, nhưng vào năm anh hai mươi tuổi, anh thấy những người đàn bà bốn mươi tuổi đã là bà già.

Bà mẹ em gầy ốm, xanh xao, tô son, đánh phấn đầy mặt như một bà Me Tây già, như một bà bóng. Bà ngồi đó một mình.

– Thưa bà… cho tôi hỏi cô Êlen…

Anh nói và bà mẹ em trả lời:

– Nó không có ở đây.

– Thưa bà khi nào cô ấy về?

Bà lắc đầu:

– Hổng biết.

– Tôi xin lỗi… bà là mẹ cô Êlen?

Bà gật đầu:

– Phải

Bà ngồi chồm hổm trên đi-văng. Có cái bàn nhỏ và cái ghế ở đó nhưng bà không mời anh ngồi, anh cũng chẳng có chuyện gì để nói nhiều với bà. Trong thời gian anh trẻ tuổi, anh có cái bệnh bất mãn với cuộc đời hơi nặng. Động gặp chuyện gì không vừa ý là hờn dỗi, mặt mũi nặng như đá đeo. Bây giờ, bốn mươi năm sau, anh vẫn còn nguyên cái bệnh ấy. Chỉ có điều qua năm tháng và kinh nghiệm, anh thấy càng hờn dỗi chừng nào anh càng thua thiệt, càng khốn khổ, khốn nạn nhiều chừng ấy, nên anh dấu bớt nó đi mà thôi. Việc đến nhà em tìm em mà không có em ở nhà đã dư đủ để anh hờn giận bà mẹ em và tất cả loài người.

– Êlen không ở đây, phải không bà?

Bà mẹ em hỏi lại:

– Cậu nói chi?

– Êlen không ở đây. Êlen chỉ về thăm bà rồi lại đi, phải không bà?

Anh nghĩ đúng. Mẹ em gật đầu:

– Phải.

– Thế cô ấy ở đâu? Bà cho tôi biết chỗ cô ấy ở đi. Tôi đến đó tìm cô ấy.

Bà mẹ em lắc đầu:

– Nó ở đâu tôi không biết chắc…

Rồi bà tiếp:

– Lúc này nó không có ở Sài Gòn.

Nghe bà nói, anh lại càng thất vọng:

– Lúc này cô ấy ở đâu?

– Nó đi Nam Vang…

– Đi Nam Vang? Bà có biết bao giờ cô ấy về không?

Bà lại lắc đầu:

– Tôi không biết.

oOo

Anh không ưa bị người khác ép buộc hay thúc đẩy anh làm những việc anh không thích làm, vì vậy anh cũng không thích ép buộc hay thúc đẩy, thuyết phục bất cứ ai làm bất cứ việc gì, kể cả làm những việc mà họ có thể thích làm. Với cái bản tính thiên phú này anh không thể nào là một nhân viên tuyên truyền hữu hiệu. Điều anh sắp nói có thể làm cho nhiều vị chuyên viên tuyên truyền kiêm cái gọi là “Tác động tinh thần – Chiến tranh Tâm Lý – Ghe sích cô lô gích” nhà nghề không bằng lòng: cái trò “đánh võ mồm” thúc đẩy người khác chịu khổ sở, chịu chết… là cái nghề không khá được.

Vì vậy chưa phải học ngày nào mà anh đã chán ngấy cái khóa huấn luyện tuyên truyền được tổ chức ở cái gọi là Đệ Nhất Quân Khu đường Hùng Vương vào những tháng giữa năm 1954 hơn chán cơm nếp nát, anh chán nó ngay cả từ khi nó chưa được khai giảng. Anh đến đó và thấy lớp học có chừng ba mươi học viên – anh nào chân chỉ hạt bột thì quá đỗi khờ khạo, anh nào tinh ranh thì lại quá đỗi thạo việc “mồm miệng đỡ chân tay”. Mấy ông giảng viên lại càng làm cho anh nản hơn. Anh thấy những ông này, ngay đến việc thuyết phục hay tuyên truyền vợ con mấy ổng cũng chưa xong, nói đến việc mấy ông thuyết phục người khác sốt sắng, hoặc miễn cưỡng, cầm súng ra mặt trận bắn nhau là một chuyện khôi hài nhạt nhẽo. Trong số giảng viên này có hai ông Đại Úy ăn nói hấp dẫn đôi chút, cả hai ông đều là xi-zin, tức dân sự, được “đồng hóa” vào quân đội với cấp bậc Đại Úy. Hai ông là hai nhân vật có tên tuổi trong giới văn học nghệ thuật và theo thông lệ, cả hai ông đều là dân Hít Tô Phe, tức là nghiện thuốc phiện.

Buổi tối, anh theo mấy người bạn lên lầu tiệm thuốc phiện Amy ở đường Verdun – về sau là đường Hàm Nghi. Tiệm Amy nằm trong dẫy nhà mười mấy năm về sau tòa nhà Việt Nam Thương Tín được xây lên – vào năm 54 ở Sài Gòn như anh đã nói, những trò “tứ đổ tường: yên, đổ, tửu, sắc” được hành nghề công khai, thoải mái và hợp pháp – anh thấy hai ông Đại Úy “Ghe Sích cô” giảng viên chính của Khóa Huấn Luyện Tác Động Tinh Thần nằm còng queo bên bàn đèn thuốc phiện. Hai ông đều có bàn đọi ở nhà nhưng thỉnh thoảng các ông cũng đến tiệm nằm chơi, đấu hót với các ông bạn. Sáng hôm sau vào lớp học, anh thấy hai ông quân phục chỉnh tề, lên lon Đại Úy, hùng hồn diễn giảng về cái gọi là “chính nghĩa quốc gia…”. Tất nhiên là trong lúc thao thao hùng biện như thế nhị vị Đại Úy không biết rằng trong số những tên học viên ngồi nghe các ông huấn giảng lại có một tên vừa tối hôm qua nhìn thấy các ông nằm bên khay đèn dầu lạc.

Học được ba ngày là – chuyện tự nhiên thôi – anh bỏ học. Trong hoàn cảnh ấy anh theo học đàng hoàng mới là lạ, anh cúp cua là chuyện không lạ chút nào. Một trong những nguyên nhân chính nữa làm cho anh không đến cái khóa huấn luyện tuyên truyền nhạt nhẽo, vô tích sự ấy là thời gian ở Sài Gòn nó trôi qua nhanh quá. Vèo một cái là qua một ngày, một đêm. Vèo hai ba cái là thời gian trôi qua đã một tuần lễ. Kể cả cuộc sống buồn phiền ở Sài Gòn cũng đỡ khổ và nhẹ nhàng hơn cuộc sống buồn phiền ở tỉnh lẻ. Lần đầu anh cúp cua một buổi, thấy không có ai phiền hà hay hỏi han gì, lần thứ hai anh cúp cua trọn ngày. Thế rồi hai ba ngày anh mới đảo đến lớp một buổi rồi lại đi biệt. Cũng phải nói rằng anh chẳng phải là tay ăn chơi dữ dội hay hào hoa phong nhã gì cho cam, trình độ ăn chơi của anh thuộc loại hạng bét thời ấy ở Sài Gòn, nhưng cuộc sống Sài Gòn nó cuốn anh vào dòng trôi chẩy diệu kỳ của nó. Anh cứ để mặc cho nó đưa anh đến đâu thì đưa, chỉ có điều là anh không làm qua một cử động nào để tự đưa anh dạt vào bờ.

Giờ đây mỗi lần chia tay với những người đi hay với những người ở lại, anh không còn hò hẹn hay mong ước sẽ gặp lại nhau nữa, anh thường nói: “Nếu còn duyên với nhau thì còn gặp nhau…”

Thật thế… Cái gọi là “duyên nợ” của loài người là một trong những điều huyền bí của cuộc đời. Những người có duyên với nhau dù có ra đời ở những nơi cách xa nhau ngàn vạn dậm những bước chân đời cũng đưa họ đến một đoạn đường đời nào đó để họ gặp nhau, để họ yêu nhau. Ngược lại, những kẻ thù hận nhau cũng vậy. Chúng ta vẫn cứ đùa với câu nói mà ta cho là có vẻ cải lương: “Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ. Vô duyên đối diện bất tương phùng”. Nhưng đó là chuyện có thật. Những người yêu nhau sớm hay muộn chém chết thế nào rồi cũng gặp nhau, những kẻ thù hận nhau cũng vậy. Chỉ có điều là những kẻ thù hận nhau thường gặp gỡ nhau nhiều hơn, dễ hơn là những người yêu nhau.

Trong những ngày sống ở Phòng Năm Phân Khu Sóc Trăng, gần ngay Nhà Băng-ga-lô, nơi em đã cho anh đến sống ba ngày, ba đêm ân ái với em, anh vẫn mơ có ngày em trở lại Sóc Trăng và anh sẽ lại được đến đó sống với em. Nhưng em đã không trở lại. Khi về đến Sài Gòn, anh vội vã đi tìm em, nhưng em không có mặt trong căn nhà em cho anh địa chỉ.

Và như vậy là anh đã tưởng anh không thể nào gặp lại được em trong lần anh về Sài Gòn kỳ này. Dù có muốn tìm em, anh cũng chẳng biết tìm em ở đâu. Cho đến một buổi chiều…

Lúc ấy gần tối, khoảng sáu giờ, trời Sài Gòn u ám sau cơn mưa, anh từ trong Rạp xi-nê Eden bước ra, đứng vẩn vơ trên hè phố Catinat chưa biết đi đâu, bỗng nghe tiếng đàn bà hỏi trống không sau lưng:

– Đi một mình hay đi với ai đây???

Tiếng đàn bà quen quen, tiếng đàn bà anh từng nghe thấy văng vẳng trong vô thức, trong những giấc mơ. Anh quay lại. Có người đàn bà đi qua sau lưng anh. Nàng đi thẳng không quay lại nhìn anh. Nhưng anh biết người đàn bà đó là em ngay. Hélène… Cuộc sống tuyệt vời đến là chừng nào, huyền diệu đến không thể tưởng tượng nổi. Trong số cả 50.000 người phụ nữ Sài Gòn vào năm ấy bằng tuổi em, đa tình như em, nẩy nở, gợi cảm như em, ở giữa thành phố Sài Gòn lớn nhất Đông Dương này, anh lại được nhìn thấy đôi mông tròn của em trên hè phố Catinat…

Và em lịch sự, em khôn khéo đến là chừng nào! Người phụ nữ đa tình, từng trải và khôn ngoan khi nhìn thấy tên đàn ông mình quen, mình muốn hỏi chuyện trên đường phố, trong nhà hàng hay ở bất cứ đâu, không bao giờ chạy đến hỏi chuyện nó, dù cho tên đàn ông ấy có là tên tình nhân yêu mến nàng nhất đời. Vì tên đàn ông ấy có thể đang cùng đi với người phụ nữ nào đó và gã có thể bối rối khi bị một phụ nữ khác đến hỏi chuyện. Việc đó thường xẩy ra. Tên đàn ông lúc ấy có thể đang xớ rớ đứng một mình nhưng không có gì bảo đảm là không có một người phụ nữ nào đó cùng đi với gã đang đứng ở đâu gần đó. Người phụ nữ Sài Gòn đa tình, lịch sự, khôn ngoan chỉ cần làm cho gã đàn ông ấy nghe thấy tiếng mình nói, nhìn thấy đôi mông tròn của mình, rồi không thèm nhìn gã, không thèm cười tình với gã, nàng cứ thản nhiên bước đi. Nếu gã đàn ông ấy chạy theo đôi mông tròn của nàng thì nàng tiếp gã, bằng gã vì lý do nào đó không chạy theo thì nàng cho gã đi luôn vào quên lãng.

Anh chạy theo em ngay lập tức, liền một khi. Anh bắt được em trước cả khi câu hỏi tình tứ của em kịp tắt trên môi em. Đời có em rồi, bao nhiêu khắc khoải, ưu tư, hờn giỗi trong anh tan biến trong nháy mắt, trong một sát na. Không, tan biến trong một nửa sát na, trong một phần triệu một sát na.

Anh đẩy em vào Givral. Anh không chịu rời đôi mông tròn của em, anh không chịu để em ra khỏi tầm tay của anh. Người ta nói: “Lon xon như con gặp mẹ, ngầm ngập như mẹ gặp con”, anh thấy trong trường hợp của anh, ngôn ngữ Việt Nam cần có thêm câu diễn tả nữa là “Ngẩn ngơ như trai tơ gặp đàn bà đa tình”… Quên uống nước, quên cả hút thuốc, anh nhìn em và anh nói anh nhớ em, anh đi tìm em, anh đến nhà gặp mẹ em, mẹ em nói em đi Nam Vang, anh về Sài Gòn dự khóa huấn luyện, anh sẽ phải trở xuống Sóc Trăng v.v…

Em mỉm cười:

– Tối nay em bận, không đi chơi với anh được. Hẹn anh hôm khác. Anh còn ở Sài Gòn lâu mà?

Em nói. Anh không biết là em nói thật hay em nói đùa. Hôm nay hồi tưởng cuộc tái ngộ tình cờ tuyệt diệu của đôi ta trên hè phố Sài Gòn xanh thắm ba mươi tám năm trước, anh chắc lúc đó em nhìn thấy sự tuyệt vọng, và cả sự phẫn nộ của anh, từ trong đáy tim anh hiện lên mặt anh, trong mắt anh, trên toàn thân anh. Em nhìn thấy chiều cao, chiều rộng, chiều sâu, em nhìn thấy cả bề ngang, bề dọc, bề dài nỗi tuyệt vọng và phẫn nộ của anh. Em biết anh sẽ không để em yên lành đi ra khỏi đời anh, khỏi vòng tay anh, anh sẽ làm những cử chỉ thô bạo, anh sẽ nói những lời khiếm nhã nếu anh phải xa em ngay lúc đó mà không được hưởng chút ân huệ nào của em. Sự tuyệt vọng và phẫn nộ bùng nổ của anh sẽ làm cho cuộc tình của chúng ta bị sứt mẻ hay mất đẹp. Trong anh lúc đó đang tranh nhau sống lại cả Quasimodo và Romeo… Em thấy như thế và điều đó làm cho nàng Juliet và nàng Esmeralda ở trong em nở nụ cười đa tình trên môi em. Em nói lại:

– Em đi ăn cơm với anh. Tám giờ cho em về. Tối nay em mắc bận thiệt mà. Hôm khác em đi với anh cả ngày…

Anh vẫn ngơ ngác không biết nói gì, làm gì. Em nhắc lại:

– Tối nay em đi ăn cơm với anh thôi. Chịu không?

Chịu quá chứ sao lại không chịu. Cứ đi ăn cái đã rồi hãy hay, rồi tính sau. Miễn là không phải chia tay với em ngay khi từ trong Givral bước ra. Em lại là người điều khiển chương trình. Quy luật tự nhiên là như vậy. Anh chỉ biết đi theo đôi mông tròn của em, anh không có sáng kiến mà cũng không có ý kiến, ý cò chi cả.

Anh theo em vào tắc-xi. Em nói với ông taxi:

– Cho zô Chợ Lớn…

Anh theo em vào một hàng ăn Tầu ở đường Jaccareo. Chợ Lớn 50-54 có không biết bao nhiêu là hàng ăn tối tân, văn minh, lịch sự, tiện lợi như hàng ăn này. Vậy mà trước khi em đưa anh đến đây, anh không biết Chợ Lớn lại có những hàng ăn kiêm khách sạn – đúng hơn là phòng ngủ – tiên tiến đến như thế. Trên lầu nhà hàng có phòng riêng. Em mở một phòng, gọi mang thức ăn lên phòng. Một bữa ăn bốn món, hai người ăn, mang lên tận phòng chưa vượt quá 100 đồng. Tiền phòng 50 đồng là 150 đồng. Tắc-xi đi về gói tròn trong 20 đồng. Công tử Hà Đông Bắc Kỳ Ri Cư có tới 500 đồng bạc Đông Dương để chi vào việc được sống với đôi mông tròn của Kiều Nữ Sàigòn Đa Tình trong vài giờ đồng hồ vàng ngọc… Yên tâm, thoải mái và hào tình tứ đến là chừng nào…

Phòng riêng của đôi ta năm 54 nằm trong một cao lâu kiêm phòng ngủ ở đường Jaccaréo — sau 1956 là đường Tản Đà — phòng riêng kín đáo đầu tiên trong đời anh ở Chợ Lớn, là một căn phòng không rộng, không hẹp. Đúng ra là nó vừa vặn, nó thật xinh, thật dễ thương. Phòng chính có một bộ ván gỗ, một bàn ăn, vài cái ghế. Bên trong là phòng ngủ. Phòng ngủ kê vừa vặn chiếc giường nệm bông, bàn ngủ, bàn bên giường ngủ – đây là tên dịch không đúng của cái gọi là table de nuit: bàn đêm thường để bên đầu giường ngủ. Trên bàn có ngọn đèn nhỏ, chúng ta không bật đèn. Ánh đèn ở phòng ngoài đủ mơ hồ, huyền ảo quá rồi. Khi cánh cửa phòng đóng lại, cài khóa đàng hoàng, đôi ta cách ly hoàn toàn với vũ trụ, với loài người. Tất cả loài người lúc ấy, với anh, chỉ là mình Em thôi.

Tiếng em hỏi như tiếng em thở:

– Nhớ em không?

Một trong những nỗi sợ hãi của con người là bị quên, nhất là bị quên bởi những người mình yêu thương. Đàn ông đôi khi còn mong muốn được người quên, nhưng đàn bà, nhất là đàn bà đa tình như em thì – dường như – rất không muốn bị người mình yêu quên lãng. Có thể trong thời gian anh được em yêu, được gần em, anh có nói vài lời gian dối với em. Em hãy tha thứ cho anh vì lúc đó anh còn trẻ, anh mới hai mươi tuổi. Nhưng em cũng thấy anh nói thật với em ít nhất là một điều: anh nhớ em, anh không quên em, anh nhớ từng dáng đi, từng ánh mắt, từng tiếng nói, từng tiếng thở, từng câu hỏi, anh nhớ mùi da thịt gái Sài Gòn độ lượng, đa tình và bao dung, và giầu có, và sẵn sàng ban phát của em… Anh nhớ mãi từ ấy cho đến bây giờ!

Chín giờ tối, anh đưa em trở lại Sài Gòn. Anh chỉ được sống gần em hôm ấy, lần cuối cùng ấy, có ba tiếng đồng hồ. 180 phút, 10.800 giây đồng hồ, 10.000 nhịp đập của trái tim yêu đương… Từng ấy thời gian qua thật nhanh, nhưng từng ấy – ba giờ đồng hồ – cũng quí báu hơn thời gian ba mươi năm sống bên nhau của một cặp đàn ông đàn bà không yêu nhau như anh yêu em, như em yêu anh.

Trời lại mưa. Ánh đèn đường loáng loáng trên mặt đường láng nước mưa của Sài Gòn. Chiếc tắc-xi dừng trước một vi-la đường Richaud, nơi hai bên đường có hai hàng me ướt lướt thướt.

Em nắm tay anh lần cuối:

– Thứ Bẩy nghen. Tám giờ sáng…

Ngồi trong xe anh nhìn theo em đi rảo bước dưới hàng me, đẩy cánh cổng sắt vào vi-la. Việc em hẹn gặp lại anh sáng Thứ Bẩy ở một nơi khác, không hẹn anh đến đây đón em, cho anh biết việc anh vào vi-la này là không tiện. Và không cần thiết. Tám giờ sáng Thứ Bẩy anh chờ em ở Tiệm Phở Minh đường Pasteur.

oOo

Sài Gòn 54, những tiệm Phở Bắc còn đếm được trên đầu những ngón tay của một bàn tay. Đó là mấy tiệm Phở Thịnh đường Gia Long, Phở Turc đường Turc, Phở Minh đường Pasteur và Phở 79 mới mở ở đường Frère Louis. Tiệm Phở Minh em sẽ đến với anh nằm ở đằng sau dẫy nhà mặt tiền đường Pasteur cạnh rạp xi-nê-ma Casino. Nguyên tên của rạp là Casino de Saigon. Ở Dakao còn một rạp Casino nữa: Casino Dakao. Cạnh rạp Casino de Saigon có một hẻm nhỏ, đi vào hẻm đó là một dẫy nhà, đa số là nhà dân Bắc Kỳ di cư từ những năm 1900-1920. Phở Minh ở trong khu nhà đó.

Không biết Phở Minh có từ năm nào, chỉ biết khi anh vào Sài Gòn năm 1951 thì Sài Gòn đã có Phở Minh; anh thích ăn Phở Minh, nhất là phở gà. Vào những năm đầu thập niên 60 tại tiệm Phở Minh có trưng bầy trang trọng một bài thơ do Thi sĩ Trần Rắc đề tặng. Bài thơ được cắt thành chữ trang kim lồng trong khung kiếng lớn, treo trên tường cao. Anh thật có tội với những thế hệ mai sau vì anh không nhớ được trọn 8 câu của bài thơ Đường Luật tuyệt cú này. Anh chỉ nhớ được có 4 cây đầu:

Nổi tiếng gần xa khắp thị thành,
Trần Minh Phở Bắc đã lừng danh.
Chủ đề: tái, chín, nạm, gầu, sụn,
Gia vị: hành, tiêu, ớt, mắm, chanh…

Thi sĩ Trần Rắc là ông chủ tiệm giày Trần Rắc đường Lê Lợi, đoạn có nhiều nhà bán giầy ngay sau Dinh Gia Long. Từ cửa sau nhà ông qua tiệm Phở Minh chỉ có mấy bước. Anh từng được hân hạnh gặp gỡ ông Trần Rắc, nhưng anh biết ông mà ông không biết anh là ai. Vì anh chỉ là khách hàng của ông, một năm đôi kỳ đến tiệm giày Trần Rắc của ông để mua giày, đóng giày. Khi thấy bài thơ của ông xuất hiện trên tường nhà tiệm Phở Minh, anh rất thán phục ông với tư cách ông là Thi Sĩ. Bởi vì, anh chắc em cũng thấy, dân tộc ta có rất nhiều thi sĩ. Ở nước ta ngõ ngách nào cũng đầy nhóc thi sĩ, thi sĩ ta nhan nhản ở đầu đường, góc phố. Nhưng đó đều là những Thi Sĩ ca tụng Tình Yêu. Số thi sĩ ca tụng Tình Yêu thì ta có rất nhiều song số thi sĩ ca tụng Phở thì ta lại có rất ít. Nhà thơ Trần Rắc là một nhà thơ ca tụng Phở Bắc tuyệt vời. Trong kho tàng Thi Văn của dân tộc ta chắc có nhiều bài thơ viết về Phở, chỉ có điều là chúng ta chưa sưu tầm đầy đủ mà thôi. Mai sau nếu có bao giờ ta có một tập Thơ về Phở, anh chắc bài thơ Phở Bắc Trần Minh Pasteur của Thi Sĩ Trần Rắc sẽ ở trong số những bài Thơ hay nhất. Chỉ cần hai câu của ông thôi:

Chủ đề: tái, chín, nạm, gầu, sụn,
Gia vị: hành, tiêu, ớt, mắm, chanh…

…là đã diễn tả đầy đủ những đặc tính, đặc chất của Phở Bắc. Hai câu Thơ này thuộc loại thơ “nhất tự thiên kim”, thơ không thừa, không thiếu một chữ. Nếu ta thêm vào một chữ, chữ đó sẽ thừa, nếu ta bớt đi một chữ, lời thơ sẽ thiếu ý. Đừng nói gì đến những thi sĩ lục lục thường tài, ngay cả đến Thi Sĩ Tản Đà là người viết nhiều nhất và có thẩm quyền nhất về Nghệ Thuật Ăn Uống và Rượu Thịt khi đứng trước hai câu thơ của Thi Sĩ Trần Rắc viết về Phở Bắc:

Chủ đề: tái, chín, nạm, gầu, sụn,
Gia vị: hành, tiêu, ớt, mắm, chanh…

chắc cũng phải ngả nón, cúi đầu.

Vào những năm 54-64, hai ông Trần Minh Phở Bắc hẻm Casino, ông Trần Rắc Thi Sĩ kiêm chủ Tiệm Giầy Lê Lợi, đều còn sống. Hai ông những năm ấy trạc trên dưới 50 tuổi. Nay thì cả hai ông đều đã quy tiên. Anh chắc hồi sinh thời, hai ông chẳng bao giờ nghĩ rằng ba mươi năm sau, nhiều năm sau khi hai ông vĩnh biệt cõi đời, vào những năm 90, ở một góc cư xá nghèo nào đó của Sài Gòn lại có một anh đàn ông mà hai ông có thể quen mặt mà không biết tên, một anh đàn ông vô danh về già ngồi hoài niệm thời hoa niên của hắn ở Sài Gòn ngày xưa, hắn nhớ hai ông và trang trọng đưa hai ông vào cái gọi là “Văn Học Sử Phở”.

(Còn tiếp Chương 4)

Share this post