Ngã Tư Hoàng Hôn (Truyện Dài – Văn Quang) Chương 23

Ngã Tư Hoàng Hôn (Truyện Dài – Văn Quang) Chương 23

NGÃ TƯ HOÀNG HÔN
* Truyện dài – VĂN QUANG
Tủ Sách Tiếng Quê Hương xuất bản lần thứ nhất tại Virginia, Hoa Kỳ, 2002

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

CHƯƠNG 23

Việc ngoài đời xảy ra khác hẳn với vụ này.

Tờ báo Tiến Lên in không đủ bán, tăng giá gấp đôi vẫn được đón mua, bà con hoan nghênh nhiệt liệt. Nó đã vượt xa những tờ báo thường hay bật mí nhiều tin tức giật gân khác. Nó qua mặt các đàn anh trong làng báo cái vèo. Sự việc Khánh Lỳ cùng phái “ba Em”, Sơn Trổ, Mai Cơn nổi đình đám hơn cả những vụ sập tiệm của nước hoa Thanh Hương kéo theo hàng trăm hợp tác xã tín dụng khác từ Nam ra Bắc quỵt tiền của dân, và nổi đình đám hơn cả các vụ cải tổ, cách chức hàng loạt Giám Đốc, phó tổng giám đốc ngân hàng nhà nước hay mấy ông thứ trưởng đức độ được cử đi thanh tra ôm về hàng đống ti-vi, tủ lạnh, đầu máy, vàng thoi, vàng nén, tiền chùa mà “từ trong tư tưởng không hề muốn nhận của đút lót” như bản tự khai “thành thật kiểm điểm bản thân” trước các cơ quan có thẩm quyền. Tờ Tiến Lên của một cơ quan Công Nông Thương Nghiệp nhưng thực chất đã giao khoán cho ông Lê Thanh làm tổng biên tập bỗng thành tờ báo lớn.

Ký giả Đinh Kỷ tức Đinh Gỉ được đời biết uy danh, phất lên như diều gặp gió, dù chưa hết đói song vẫn say sưa tiếp tục loạt bài điều tra nẩy lửa của mình. Bất chấp sự can thiệp của mấy vị có chức quyền, ký giả Đinh Kỷ đã viết toàn bộ sự thật mà anh lượm được từ khắp hang cùng ngõ hẹp.

Cô thư ký gầy nhom cũng nổi danh dưới cái danh hiệu “Nữ ký giả Thanh Liễu, đặc phái viên của bổn báo”. Cái biệt hiệu này chắc do Đinh Kỷ chọn giùm với ngụ ý đùa nghịch hơi xỏ lá ví cô ký giả gầy và xanh như lá liễu, anh nào mơ tưởng coi chừng tốn tiền thuốc! Loạt bài của cô đi sâu vào cuộc sống riêng tư phóng đãng của Khánh Lỳ cùng với lối sống sa đọa, trác táng của băng 3M. Cô diễn tả bằng lối văn tả chân, trắng trợn, trần truồng nên độc giả càng ham đọc. Chắc chắn nhà báo nữ Thanh Liễu viết cái kiểu này sẽ sớm nổi danh, rất dễ thành “hiện tượng văn học hiện đại” để rồi đi tuốt vào “văn học sử”. Nhưng đặc biệt trong loạt bài này, khi diễn tả mối tình của Sơn Trổ du đãng và Mai Cơn thuộc tầng lớp trí thức có ăn học, đẹp như tiểu thư đài các thì cô Thanh Liễu lại khôn ngoan tả bằng lối văn chương êm như nhung, nhẹ như gió, hùng như Tiêu Sơn Tráng Sĩ, có phần còn hùng tráng hơn cả những nhân vật thép trong các cuốn tiểu thuyết Liên Xô dịch ào ào sang chữ Việt Nam vào thời kỳ cách đây không xa mà ngày nay nó đã bị đẩy lùi bởi “tư duy mới” và bởi những cuốn tiểu thuyết đầy tiếng mèo kêu hừ hừ của mấy anh tư bản lọt vào VN. Bởi vậy nữ ký giả Thanh Liễu quyết định sẽ trở thành nhà văn chuyên nghiệp như các bác, các chú khác vì cô vừa “phát hiện” ra là “viết văn có khó gì đâu, cứ lắp từ chọn chữ đã có sẵn cho xuôi, cho kêu lốp bốp là xong”. Cô phởn phơ ra mặt vì dự tính đẹp đẽ ấy.

Ký giả Đinh Kỷ và nữ đặc phái viên Thanh Liễu lại được sự hỗ trợ đắc lực của những lá thư gửi tới tòa báo tố cáo tùm lum. Tố ông Giám Đốc Phạm Bá Tuân về rất nhiều việc mờ ám, vượt quyền, ký giấy tờ bất hợp pháp, chi tiêu không rành mạch, thông đồng với con buôn nước ngoài mua toàn phân dởm, toàn máy cũ rích, toàn loại vật tư lạc hậu vứt đi của Nhật, của Hồng Kông về bán giá cắt cổ cho các nông trường. Máy cày chưa chạy đã hư, lưỡi cưa chỉ cần vài đường đã gẫy, xe mới vừa chạy đã hỏng… thiệt hại cho nhà nước hàng trăm tỉ đồng. Còn vài vụ làm ăn mua bán xuất nhập vô lý khác nữa, có đăng báo cả tháng cũng chưa hết. Ngoài ra còn một chi tiết có lẽ không đáng tin lắm là ông Giám Đốc Tuân lăng nhăng với cô thư ký trẻ trung, đẹp như búp bê và họ chỉ âu yếm với nhau trong phòng làm việc, tuyệt đối không đi ra ngoài. Chi tiết tuy nhỏ song lại dễ gây ra sự chú ý của độc giả và đó cũng là chuyện thường rất đáng tin dù có thật hay không có thật, vì nó “phổ biến” từ Âu sang Á, từ Mỹ la Tinh đến vùng đất Phi Châu, từ tư bản đến các nước Cộng sản và các nước thuộc phe gọi là Thế Giới Thứ Ba. Mấy ông Giám đốc thường hay táy máy đùa nghịch trong lúc thanh nhàn. Tuy nhiên lá thư này lại bảo đảm sự việc có thật trăm phần trăm, yêu cầu phóng viên tới gặp bác Hai quét phòng cho ông Giám đốc sẽ tỏ tường sự thật và còn hứa hẹn có nhiều chi tiết lâm ly khác nữa. Đinh Kỷ và Thanh Liễu chạy như con thoi không kịp thở, đến cơ quan nào cũng được đón tiếp nồng nhiệt tuy vẫn bị dè chừng. Họ say sưa làm nhiệm vụ quên ngày quên đêm, quên đói, quên no.

Đinh Kỷ còn được đặc biệt giới thiệu với Sơn Nháy ở Viện Kiểm Sát Nhân Dân Thành Phố và Hùng Vạc ở Công An Thành. Hai vị này rất cởi mở, tôn trọng quyền tự do ngôn luận, quý trọng các nhà báo nên không ngần ngại tiết lộ những tin tức chính xác, những diễn tiến hấp dẫn trong cuộc điều tra sơ khởi. Lẽ dĩ nhiên hai vị Sơn Nháy và Hùng Vạc tiết lộ những loại tin không hề dính líu đến sự liên hệ của các vị ấy với băng Khánh Lỳ, do đó trong những tin tức chính xác nhất vẫn lẫn lộn vài chi tiết cố làm lạc hướng dư luận, hoàn toàn có lợi cho bản thân hai vị viên chức nhà nước vào hàng tép riu. Hai vị này vốn nhiều kinh nghiệm trong những vụ việc tương tự và đã thành tinh trong mấy cơ quan rồi, không ai thay thế được. Những người bị “hy sinh” là mấy anh lớn có tầm cỡ ra đi hay về vườn hay vào trại cải tạo chứ còn các vị ấy là những tay chuyên môn cần cù và đắc lực, cứ mọc rễ ra trên những chiếc ghế gỗ khiêm nhường thôi. Coi bộ mấy anh lơ mơ thế mà giàu sụ, hầu như không ai để ý tới. Láu cá nhất trong thời buổi này là những anh như thế, ấm ớ rù rì ăn tiền và trong mỗi cơ quan có hàng chục, hàng trăm anh cứ ậm ờ như thế.

Trong khi đó, nhà ông Tuân đóng cửa im ỉm, khách khứa lánh mặt hết. Cô con gái từ  ngoài Tuyên Quang vào cũng hấp tấp sách nón ra về, tốn không tiền xe, chẳng được việc gì. Đức ghé nhà một lần rồi chuẩn bị chuyển công tác lên Pleiku đèo heo hút gió. Anh chấp nhận sự ra đi này, bất cứ tới đâu để tìm ra con đường đúng nhất cho cuộc đời chính mình và cho cả con người. Đó là một cánh cửa bí mật mà anh tưởng là mình đã thuộc lòng mà thật ra đến nay thì anh hiểu là anh chưa hề biết. Anh tin rằng mình sẽ tìm ra và phải tìm ra ở trên rừng.

Ông Tuân bối rối cành hoa vì cái quyết định bổ nhiệm ông về Bộ Kinh Tế Đối Ngoại làm Giám Đốc Thương Nghiệp đã bay tới Sài Gòn và nằm trên bàn giấy của ông cùng những tờ báo tờ Tiến Lên như những cú đấm hiểm hóc tới tấp dáng vào giữa mặt ông. Ông gồng mình chịu đòn, mang hết tài trí ra tìm một lối thoát. Ông tính đến việc bay ra Hà Nội, mang hết của cải “tích lũy” được để lót đường cho tự do, biết đâu chẳng trót lọt hay cũng đỡ đi một phần tội lỗi. Ông vẫn còn thèm cái ghế Giám Đốc Thương Nghiệp ở Bộ Kinh Tế đối ngoại, nhưng ông thèm mà run. Có lẽ ông sẽ phải van xin ông bộ trưởng đàn anh tha cho ông đừng bắt ông làm giám đốc ở bộ ấy nữa. Ông phải thú nhận chân thành rằng ông không có tài cán gì, thiếu cả đức hạnh để ngồi vào cái ghế có thể ảnh hưởng lớn lao đến nền kinh tế đang còn nhiều khó khăn của đất nước ta. Lúc này ông mới vò đầu bứt tai kêu lên trong căn nhà hoang vắng:

– Chao ôi! Nếu tôi biết trước như thế này có phải đỡ khổ cho cái thân tôi, đỡ khổ cho cái dân tộc này không!

Ông cúi đầu trước bàn thờ ông già ông. Ông thấy rõ nét mặt nghiêm khắc của người, đôi mắt sáng long lanh của người. Ông Tuân thấy mình không đáng quỳ gối trước người bố hiền lành, chân thật, suốt đời làm ăn lương thiện chẳng có gì lừng lẫy đặc biệt hơn ai. Người bố không cho ông niềm tự  hào về danh phận, chức vị và chiến công như những người bố của các đồng chí, đồng nghiệp của ông. Đôi lần làm lý lịch, ông đã thầm oán trách bố ông sao không phải là một nhà Cách Mạng anh hùng cho ông thơm lây. Nhưng lúc này ông Tuân thấy rõ chính bố ông mới là niềm tự hào của ông và là tấm gương đức độ trong sáng của ông. Một con người Việt Nam bình dị, chẳng có gì là tuyệt vời song đó chính lại là sự tuyệt vời. Ông già ấy đã nằm xuống, ngủ giấc ngủ muôn đời bình an, thanh thản.

Ông Tuân chẳng khóc bao giờ nên ông quên cả khóc. Ông sách cặp ra Hà Nội thực hiện dự tính của mình. Trước khi đi ông ghé qua bệnh viện thăm vợ. Nhiều người độc mồm đồn đại rằng bà Cúc muốn tránh mặt người cùng xóm, tránh mặt họ hàng, bạn bè nên giả bịnh để chui vào nằm nhà thương. Nhưng bà Cúc ốm thật.

Bà Cúc bị nhồi máu cơ tim, bà ngất đi vài lần, có lần tưởng bà đi luôn, không trở lại. Bà nằm đó, mệt nhọc, đôi mắt nhắm nghiền, tấm chăn đơn đắp ngang người. Ông Tuân không dám đánh thức bà dậy, lặng lẽ nhìn vợ. Ông bần thần ray rứt chẳng nỡ ra đi, cho đến bà Cúc hé mắt, nhìn thấy ông. Cặp mắt bà mở ra, đứng sững. Bốn con mắt nhìn nhau, chẳng biết nói gì. Căn phòng trắng toát cũng câm lặng. Bà Cúc biết ông chồng sẽ ra Hà Nội. Bà cay đắng khép đôi mắt lại. Ông Tuân hiểu rằng bà có ý muốn nói “Ông đi đi”. Bà xua đuổi ông hay khuyến khích ông, ông không biết. Bà thương hại ông hay khinh ghét ông, ông cũng không biết. Có bao giờ bà yêu ông bằng tình yêu thật sự giữa người đàn bà và người đàn ông không, ông cũng không biết nốt. Suốt cuộc đời sống bằng cái vỏ ngoài đạo đức của ông đã được trả lời như thế. Ông giả dối nên không biết gì là sự thật. Tình thương yêu ngay trong gia đình cũng đang tránh xa ông. Ông đã chơi toàn đòn ngầm với cuộc đời thì cuộc đời cũng phang vào mặt ông không nương tay. Ông Tuân lại muốn kêu lên:

– Chao ôi! Nếu tôi biết trước như thế có phải đỡ khổ cho cái thân tôi không, đỡ khổ cho cái dân tộc của tôi!

Ông không dám đụng vào con người mà suốt cuộc đời ông đã thương yêu. Ông không xứng đáng đến gần tình yêu của ông nữa. Và có thật ông đã biết yêu không? Có thật ông đã coi tình yêu là hạnh phúc thật sự không hay trên nữa còn là nỗi say mê quyền hành và lòng tham lam vô độ? Ông không biết nữa. Ông đứng trơ như cái tượng gỗ, đầu óc đặc như quả ổi xanh, tâm hồn tối như trong hũ nút. Ông mụ đặc và không chịu nổi cảnh này. Ông nặng nề xoay người bước ra, xách cặp đi Hà Nội.

Bà Cúc nghe tiếng giày của chồng rời khỏi phòng như đi khỏi cuộc đời bà. Đôi mắt bà chậm chạp mở ra. Căn phòng trống rỗng câm bặt. Bà cũng muốn từ nay câm luôn trong sự trống rỗng của chính cuộc đời bà. Thằng con út bà nằm trong nhà tù, thằng con lớn ra đi để cố tìm lại chính nó trong miền rừng núi, đứa con gái cũng vội vàng xa lánh bà. Bà chẳng còn gì nữa. Bà nghĩ rằng tất cả cũng tại bà. “Tôi đã không dám sống khi có tình yêu, tôi muốn cho đi song cuối cùng tôi đã níu lại. Tôi đánh mất tình yêu. Tôi lấy chồng vì cần phải có chồng, rồi tôi sống bên chồng để cố tưởng là tình yêu ở đấy, ở những chung đụng thể xác và chia xẻ cuộc sống gia đình. Tôi đã yên tâm như thế, song không phải. Tình yêu không như thế. Nó mãnh liệt hơn nhiều. Tôi cố gắng sống phẳng lặng và tìm yên vui trong địa vị mới của mình. Rồi tôi nhìn rõ những giả dối trong đời sống hàng ngày của chồng. Tôi cố hiểu đó là sự khôn ngoan cần thiết trong cuộc sống đầy rẫy cạm bẫy rình rập quanh con người, khắp trong xã hội này. Tôi sống đầy đủ và muốn đầy đủ phải gián tiếp đồng lõa với chồng trong mọi công việc. Tôi đóng kịch với mọi người xung quanh, ngay cả với con cái tôi. Tôi sợ đứa con lớn biết bao bởi cái tính chững chạc, ngay thẳng của nó. Tôi chán đứa con gái biết bao vì sự bòn rút, xin xỏ, tham lam của nó. Tôi thương đứa con út biết bao bởi nó phóng khoáng, hồn nhiên hay là bởi cái gì khác từ trong đáy sâu, tôi không rõ lắm. Mỗi ngày sự đồng lõa với chồng tôi trong các hành động càng thêm nặng nề. Khi tôi lo sợ thì đã quá muộn. Tôi không kềm nổi lòng tham lam và sự say mê quyền hành của chồng tôi được. Tôi đã đồng lõa thì chẳng lý do gì có thể ngăn chặn được chồng tôi. Tôi chỉ còn biết lựa lời van xin. Rồi tất cả đã như viên đạn trái phá nổ tan hoang giữa nhà tôi. Và, còn tiếp tục hàng loạt đạn bồi theo cho những thây ma. Những thây ma sẽ được mang ra xây đắp cao vững thêm cho địa vị hiện tại của nhiều người. Tôi chẳng trách cứ ai được. Những kẻ không dám sống thì không bao giờ được sống theo ý muốn của mình. Phải thế không? Suốt đời tôi như trong cái bị lùng nhùng, bị lệ thuộc, bị sai khiến, bị đóng kịch liên hồi trong cái thế “phòng thủ thu động”. Tiếng còi báo động luôn hú lên rền rĩ quanh tôi. Tôi ca hát, tôi nhảy múa, tôi gào thét theo cái nhịp trầm bổng của tiếng còi ấy. Đến bây giờ tôi ngã xuống, tôi nằm đây vẫn còn nghe tiếng gầm gừ của còi báo động. Đến bao giờ nó mới tắt đi cho? Tại tôi, chỉ tại tôi. Tôi phải làm cho tiếng còi báo động rợn người kia tắt bặt đi từ trong trái tim tôi. Chỉ có thế mới thoát nó”.

Đôi mắt bà Cúc mở trừng trừng. Tiếng còi báo động vẫn liên hồi từ chính con tim bà thoát ra khiến bà lên cơn tắc nghẹn, ngạt thở. Bà giẫy giụa ằng ặc, xùi bọt mét. Cô y tá từ phòng bên vội vàng phóng sang nâng bà dậy, người bà héo rũ như bông cúc tàn.

(Hết Chương 23)

Share this post