Ngã Tư Hoàng Hôn (Truyện Dài – Văn Quang) Chương 6

Ngã Tư Hoàng Hôn (Truyện Dài – Văn Quang) Chương 6

NGÃ TƯ HOÀNG HÔN
* Truyện dài – VĂN QUANG

Tủ Sách Tiếng Quê Hương xuất bản lần thứ nhất tại Virginia, Hoa Kỳ, 2002

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

CHƯƠNG 6

Hồi đó Huy là cậu học sinh lớp cuối trường huyện gọi là “Cours Superieur”. Là một học sinh không xuất sắc lắm song Huy được bạn bè chú ý vì anh đi học bằng xe đạp, đôi khi bằng xe tay khi trời mưa gió, hoặc đôi khi lấy cớ xe hư, Huy cưỡi con ngựa trắng đến trường, buộc vào gốc bàng. Một anh người làm chạy theo chăm nom con ngựa cho đến lúc Huy ra về. Gia đình Huy là một gia đình giàu có trong vùng. Bố Huy chỉ có cái hàm “Cửu Phẩm Văn Giai”, song chú ruột Huy lại được bổ Tri huyện rồi thăng Tri phủ. Bác Huy làm Thông phán tận Phủ Toàn Quyền Tây. Gia đình Huy được toàn huyện nể trọng, ngay cả Quan Tri huyện sở tại cũng đến làm thân.
Năm ấy học sinh “Cours Superieur” đi thi bằng tiểu học – được gọi nôm na là đi thi “Séc” – tận trên tỉnh để được nhảy lên bậc trung học bắt đầu từ “Première Année”. Huy lên tỉnh thi và đã đổ vào loại “Bình”, nghĩa là trên được loại “Bình thứ” và “Thứ”. Thế cũng là hãnh diện lắm rồi. Các thầy giáo trường huyện bèn tổ chức một ngày lễ long trọng tại Văn Miếu để giới thiệu các học sinh xuất sắc của huyện nhà. Đây là dịp cuối cùng Huy gặp các bạn cũ trong trường huyện gồm ba lớp “Moyen Un”, “Moyen Deux” và “Sup”. Bởi sau kỳ thi, Huy sẽ lên học ở trường tỉnh và có một số bạn bè chỉ cố học được mảnh bằng tiểu học rồi ở hẳn nhà để lo việc đồng áng, làm ăn, cưới vợ, đẻ con.
Huy chú ý đến Cúc ngay từ năm cô học lớp “Moyen Un”. Một cô bé từ thành phố về đây. Cô bé có đôi mắt to, mái tóc cắt ngắn như búp bê, trắng như trứng gà bóc, hồn nhiên và dịu dàng làm sao.
Cúc là con gái một người làm thợ rèn trước cổng chợ huyện. Một người thợ rèn khá đặc biệt. Ông ta to cao với khuôn mặt vuông vắn cương nghị để hàm râu quai nón xồm xoàm. Hai cánh tay lực lưỡng luôn luôn kéo lên ấn xuống hai cánh bễ tròn và dài làm bắn lên những tia lửa xanh lè, hoặc giáng những nhát búa chính xác xuống thanh sắt được đặt trên cái đe thép cắm xuống giữa căn nhà trên nền đất. Mỗi lần đi học, Huy đều đi ngang căn nhà thợ rèn ấy. Nghe nói ông thợ rèn từng làm tại một hãng lớn của Tây tận Nam Định. Ông là một trong những thợ cả về nghề “nguội” tức là uốn cong, đánh dẹp các thanh sắt để bắt chúng phục vụ cho nhu cầu của con người. Nhưng rồi ông bị thương trong một tai nạn, chân trái dập xương, được chủ Tây bồi thường một số tiền lớn. Ông nghỉ việc, đưa vợ con về quê sinh sống bằng cái cửa hàng nhỏ bé này với căn nhà gạch ba gian khang trang phía sau cửa hàng xập xệ. Ông có người bạn làm đội lính khố xanh ở một đồn lính cách huyện hai cây số. Họ quen nhau từ hồi còn ở thành phố Nam Định. Chiều chiều, ông đội lính khố xanh phóng chiếc mô-tô “Bécane” đến chở ông đi ăn, đi uống vài chén rượu. Một chân ông khập khiễng làm cho cả cái thân hình to lớn bè bè luôn luôn lắc lư. Nhưng rồi một đêm cả hai người bị giết chết, người đội khố xanh và ông thợ rèn phơi xác giữa mặt đường trải đá xanh. Người ta đã đâm ông bằng chính những thứ do ông làm ra, thuổng, cuốc, mai, liềm, mã tấu. Thi thể ông nát nhừ. Đây là một đòn trừng trị của phong trào cách mạng toàn dân đang lên cao. Mặt trận Việt Minh còn hoạt động bí mật song đã bắt đầu có những hành động bạo lực giáng lên chính quyền phong kiến thực dân đang bị phát-xít Nhật đánh cho những đòn trí mạng. Phong trào yêu nước của toàn dân, của tất cả các đảng phái, của những tâm hồn yêu nước Việt Nam như bão táp đang sôi sục chuẩn bị cho một ngày giành lại quyền tự do, quyền độc lập. Người đội khố đỏ và ông thợ rèn từng làm việc cho Tây đã là miếng mồi ngon làm con vật thí thân.
Từ ngày bố chết, hai mẹ con Cúc sống trơ trọi trong căn nhà gạch vắng lạnh. Cúc vẫn đi học, mặc đồ tang, trông cô vừa đáng thương vừa xinh đẹp hơn. Huy học trên Cúc một lớp. Anh đã kiếm nhiều dịp để nói chuyện với Cúc, song chỉ có những cơ hội ngắn ngủi giữa giờ ra chơi của buổi học. Tất nhiên câu chuyện chỉ là vớ vẩn rất trẻ con. Nhưng dù là trẻ con cũng đã hiểu những cảm tình riêng tư dành cho nhau.
Cuối buổi lễ “giới thiệu học sinh xuất sắc của huyện nhà”, Huy mời vài người bạn về nhà mình chơi một ngày và quyết định mời Cúc. Anh đường hoàng tiến lại, chững chạc như một cậu con trai trưởng thành:
– Cúc này, tôi tính mời mấy người bạn về thăm nhà tôi.
Cô bé búp bê ngước lên bối rối:
– Anh nói gì kia?
Huy bỗng trở nên ấp a ấp úng:
– À… à… tôi mời mấy người bạn về thăm nhà tôi.
Cúc đứng im, đôi mắt to như tinh nghịch khiến Huy càng cà lăm thêm:
– Tôi… tôi… muốn nói là hôm nay… vui quá… hôm nay là ngày cuối cùng…
– Cuối cùng cái gì cơ?
– Ngày cuối cùng… tôi học ở trường này.
– À phải. Hết hè này anh đã là học sinh “ban thành chung” trường tỉnh rồi.
Đôi má Huy đỏ bừng:
– Tôi… tôi… vẫn thích trường chúng ta hơn.
– Nhưng lên tỉnh vui hơn và oai hơn.
Câu chuyện ấm a ấm ớ, suýt nữa Huy đã không nói được ý chính, anh phải vòng vèo mãi mới diễn tả được lời mời long trọng đầu tiên trong cuộc đời mình:
– Tôi… tôi muốn mời Cúc đến chơi nhà tôi cùng mấy người bạn nữa…
Cúc ngần ngừ rồi cúi đầu:
– Cúc về xin phép mẹ đã, không biết mẹ có cho Cúc đi không.
Bần thần vài giây, Huy bỗng nảy ra một sáng kiến:
– Tôi sẽ đến nhà Cúc xin phép mẹ cho Cúc, được không? Cả mấy cậu kia nữa cũng tới nhà Cúc ngay bây giờ.
Lại ngần ngừ một lát, Cúc gật đầu:
– Được rồi, để Cúc về trước rồi các anh hãy tới nhé.
Huy không ngờ khi đến xin phép được mẹ Cúc chấp thuận ngay. Mẹ Cúc còn trẻ và đẹp, một sắc đẹp mặn mà của người thành phố. Nghe nói mẹ Cúc vốn là một cô gái nhan sắc, con một ông chủ hàng tạp hóa khá giàu. Bà rất tự nhiên, phóng khoáng, lịch thiệp. Bà cho phép Cúc dùng xe đạp của bà và chỉ được đi đến bốn giờ chiều. Huy cùng ba cậu bạn cam đoan sẽ đưa Cúc về tận nhà.
Thế là hôm sau bốn người bạn kéo đến nhà Huy. Họ được gia đình Huy đón tiếp niềm nở. Căn nhà Huy là một dinh cơ đồ sộ ngay đầu làng rộng khoảng một mẫu tây. Trước hết là chiếc cổng gạch bề thế, hai cánh cổng gỗ lim nặng nề lên màu đen bóng như thép. Xung quanh là hàng rào tre dày đặc. Bao vây phía trong dinh cơ là ao cá thay cho những hào sâu. Phía trong nữa là một hàng rào gạch cao vút. Lối đi vào được lát gạch trên hai cái ống cống lớn. Bên trong lại một lần cổng gạch cánh gỗ y như cổng trước. Bốn góc dinh cơ là bốn cái chòi gác nhô cao khỏi những mặt tường cắm đầy mảnh chai sắc nhọn. Trong cổng là một chiếc sân gạch bát tràng mỗi chiều khoảng ba mươi thước. Phía tay phải là tường hoa chạy dọc để phân cách sân và một khu vườn xanh tốt đủ các loại cây bưởi, vải, na, chanh, lựu… Phía trái là một căn nhà kiểu Tây được gọi là nhà khách. Sát đầu nhà khách là một căn nhà gỗ rộng thênh thang, lợp ngói, nền cao được gọi là nhà thờ từ đời ông cố ông kỵ. Nhìn từ cổng thẳng vào là một căn nhà đối diện cũng giống như nhà khách dùng làm nhà ở gồm nhiều phòng. Phía sau đó lại là một sân gạch bát tràng vừa bằng sân trước. Xung quanh là “hậu dinh” gồm các loại nhà ngang, nhà trống, nhà bếp dài. Tiếp đó là một nhà kho dùng để thóc với những cót thóc kềnh càng sát mái nhà và đầu kho là gian để các loại nông cụ. Rồi đến các loại chuồng gà, chuồng chim bồ câu…
Cái dinh cơ đồ sộ ấy luôn luôn hoạt động trong một không khí tĩnh lặng, khuôn phép. Mọi người đều lặng lẽ làm công việc quen thuộc của mình. Ngay cả mấy con chó cũng ngoan ngoãn ve vẩy đuôi khi thấy Huy đi tới. Chỉ có vài chú ngỗng gây ồn ào mỗi khi thấy khách lạ bước tới khu cổng sau. Mọi người đều chào hỏi các bạn Huy một cách vui vẻ, lễ phép. Huy dẫn các bạn tung tăng khắp nhà rồi anh ra lệnh mở cổng sau, đưa các bạn ra khỏi nhà bằng một lối đi hẹp giữa hai bờ ao. Anh mở cửa khu vườn trồng chè tươi. Xuyên qua những luống chè cao ngất ngưỡng, họ bước tới một bờ ao khác, mặt nước đầy lá sen, đây đó vươn lên vài bông sen còn trong nụ non xanh biếc. Giữa ao là một chiếc cồn tròn xoay, đường kính khoảng hơn mười thước, trên cồn là những cây ổi trĩu đầy trái chín. Bầy chim ríu rít nhảy nhót trong khung cảnh no đủ thanh bình.
Cả bọn ngồi bên bờ ao có những bực thềm bằng gạch xây nghiêng. Gió mát rượi dù mặt trời mùa hè đã lên cao đang muốn hâm nóng thế gian. Huy kéo đến một con thuyền nhỏ chỉ chở được nhiều nhất ba người, chia làm hai chuyến, chở các bạn ra cồn hái ổi. Buổi trưa họ trở về ăn một bữa cơm thịnh soạn giữa chiếc sập đá nằm chễm chệ giữa căn nhà khách rộng. Một chú bé khoảng mười tuổi ngồi kéo chiếc quạt treo lửng lơ giữa nhà. Chiếc quạt dài bằng vải dầy, nẹp gỗ, mắc một sợi thừng dài xuyên qua con rọc đến một góc nhà. Chú bé ngồi trên chiếc ghế gỗ kéo sợi dây theo một nhịp đều đều cho chiếc quạt vải đong đưa êm ả. Có lẽ đó là loại quạt cuối cùng của thời cổ sơ trong những gia đình thuộc thế hệ phong kiến sau rốt trên đất nước này.
Buổi chiều, Huy đưa bạn bè qua một cánh đồng rộng với những thửa ruộng lúa tươi tốt đang vươn cao, thời điểm của lúa đòng đòng đã lớn chỉ còn chờ ngày chín vàng vào mùa gặt. Huy kể cho các bạn nghe niềm vui rạo rực của ngày mùa với những đêm trăng sáng, những anh tá điền và những cô thôn nữ cùng nhau kéo lúa bằng những chiếc cối đá tròn, càng bằng gỗ, mải miết xoay vòng trên những giạ lúa trải đều khắp bề mặt hai chiếc sàn gạch bát tràng. Những ngày đi “coi lúa” ở cánh đồng rộng thênh thang này, một mình Huy ngồi trên gò cao, dưới bóng rợp của một gốc đa giữa đồng, trông coi đám thợ gặt thoăn thoắt tay liềm quơ những cây lúa xếp thành từng đống, từng hàng. Huy giảng cho các bạn nghe loại ruộng “thượng đẳng điền” thuộc cánh đồng trên của nhà Huy và loại ruộng “hạ đẳng điền” thuộc vùng đồng thấp. Mười lăm tuổi, Huy đã tỏ ra là một ông điền chủ sành sỏi, biết cả những mánh khóe của bọn thợ gặt, bọn “đổi đồng”, và giá cả từng thùng thóc. Các bạn Huy rất thú vị và khâm phục cậu cả con nhà giàu thôn quê này.
Buổi chiều, họ kéo nhau lên bờ đê cao, nhìn xuống một bãi ngô trải dài năm bảy cây số ven con sông Luộc nước chảy cuồn cuộn đầy phù sa vẽ thành một vệt dài đỏ lừ, uốn khúc quanh ở cuối tầm mắt. Hai bên bờ đê trồng hai hàng nhãn, cành lá um tùm che chở cho những chùm trái trĩu trịt đu đưa trong gió. Người ta đã phải làm những chiếc giỏ đan bằng tre mỏng để bảo vệ những chùm nhãn khỏi bị va đập vì gió và ngăn chặn sự xâm phạm của các loài chim tham lam.
Sau cùng bốn người con trai nhào xuống nô đùa thỏa thích với dòng sông mát rượi. Một mình Cúc thơ thẩn dưới rặng nhãn đầy bóng rợp, và cô len vào giữa các luống bắp vươn cánh lá xanh tươi như dang rộng cánh tay chào mời.
Một buổi chiều thật đẹp. Một ngày rất tuyệt đã làm thành kỷ niệm, in sâu vào ký ức. Một khoảng thời gian sáng rực cả một quãng đời thơ ấu. Họ không hề biết rằng vừa uống chung một thứ rượu ngây ngất men say vừa đủ chắp cánh cho một tình cảm nhẹ nhàng bay cao; tình yêu thơ trẻ lãng đãng, như gần rất gần, như xa rất xa, như được như mất, như còn như không. Họ chia tay trong nỗi bồi hồi, trong cơn xúc động mong manh không ai diễn tả thành lời.
Một tháng sau, Huy lên tỉnh lỵ trọ học để chuẩn bị thi vào năm thứ nhất ban thành chung trường công lập tỉnh. Mải học, mải thi, nửa năm sau Huy mới có dịp trở về huyện cũ. Huy đến thăm Cúc, nhưng hai mẹ con cô đã bán nhà trở về quê ngoại. Thế là Huy bặt tin Cúc từ đấy. Những năm tháng qua đi, cuộc đời đã có nhiều đổi thay trong một khoảng thời gian ngắn ngủi. Lịch sử lật từng trang, đảo lộn mọi ước vọng, thay đổi mọi cuộc đời.
Tháng 3 năm 1945, phát-xít Nhật ở Việt Nam đảo chính Pháp để tránh mối hiểm họa bị bắn sau lưng trong khi quân đội đồng minh ào ạt tấn công vào mọi địa điểm của tập đoàn phát-xít trên toàn thế giới. Chẳng bao lâu sau, ngày 12-8-1945, Nhật đầu hàng đồng minh, cuộc Cách mạng của toàn dân vào ngày 19-8-1945 hoàn toàn thắng lợi. Sau tuyên ngôn độc lập 2-9-1945, người ta hy vọng đất nước Việt Nam bước tới những ngày tháng hòa bình để kiến tạo một đời sống tươi đẹp sau cả thế kỷ đắm chìm trong nô lệ. Nhưng tất cả đã đảo ngược. Tháng 7-1945 hội nghị Potsdam gồm Liên Xô, Mỹ, Anh, Pháp đã quyết định đưa 20 vạn quân Trung Quốc của Tưởng Giới Thạch qua tước khí giới quân Nhật ở Việt Nam từ vĩ tuyến 16 trở ra miền Bắc Việt, và từ vĩ tuyến 16 vào Nam giao cho quân Anh đảm nhiệm.
Ngày 17-9-1945, quân Anh cho 100 lính chở vũ khí tước được của Nhật trang bị cho 1.400 tù binh Pháp và Việt bị giam giữ ở khám lớn Sài Gòn. Quân Pháp đánh chiếm nhiều nơi trong thành phố này và tạo thành cái mồi bùng nổ cuộc chiến tranh Việt Nam.
Pháp đưa quân trở lại hầu hết các thành phố lớn với mưu toan tái lập ách thống trị trên đất nước nhỏ bé mà họ đã có tám mươi năm bóc lột mọi nguồn tài nguyên, quen ăn trên ngồi trước. Chính phủ Việt Nam lúc đó sau một thời gian điều đình dằng dai, cuối cùng đã kêu gọi toàn dân kháng chiến. Thanh niên Việt Nam buông bút, bỏ cày lên đường chống Pháp. Họ ra đi vì đất nước, vì toàn dân, vì hạnh phúc của chính bản thân và gia đình. Không cần một lý tưởng nào ngoài cái động cơ trong sáng hồn nhiên ấy. Cuộc chiến tranh chống Pháp bắt đầu.
Suốt thời gian đó, Huy vẫn cố bám lấy trường học di tản từ nơi này qua nơi khác trong bốn năm đầu của cuộc chiến. Cuối năm 1948 anh mới phải bỏ học bỏ làng, theo gia đình tản cư lên vùng Việt Bắc. Tại đây, gia đình Huy lại nhìn rõ thành phần “địa chủ cường hào” của mình đã đến ngày bị điệu ra pháp trường, nên tìm cách lẩn tránh lang bạt từ Hòa Bình đến Việt Trì, Thái Nguyên, Tuyên Quang. Hơn một năm sau, Huy cùng gia đình trở lại thành phố. Anh tiếp tục cắp sách đến trường. Nhưng vừa đậu xong mảnh bằng tú tài, tức khắc anh nhận được lệnh động viên vào trường sĩ quan do người Pháp chỉ huy. Lúc này người ta bắt đầu phát động phong trào “Chống Cộng Bảo Vệ Tự Do”. Anh chấp nhận lý tưởng ấy, nhưng từ đáy sâu tâm tư, anh thừa biết nó cũng chỉ là thứ chiêu bài dành cho những mục tiêu khác của các cường quốc mà với tuổi trẻ non nớt, anh chưa thể nắm được là cái gì. Song điều chắc chắn nó phải gắn với quyền lợi của những anh khổng lồ dù diễn ra dưới hình thái nào chăng nữa.
Sáu tháng sau, Huy ra trường với cấp bậc Thiếu Úy, mang một vạch vàng chóe trên vai, bước vào cuộc sống mới, cuộc sống hoàn toàn khác với những điều anh mơ ước. Trở về Hà Nội nghỉ phép mười lăm ngày, Huy gặp lại Giá, người bạn cùng học với anh suốt ba năm ở trường huyện ngày nào. Lúc đó Giá là một công chức ngành Bưu Điện. Giá cho biết về một số bạn bè, Hưng đi theo kháng chiến trong phong trào “học sinh tòng quân”, được đưa vào trường sĩ quan Lục Quân Trần Quốc Tuấn. Nghe đâu bây giờ Hưng ở một đơn vị pháo. Huy mỉm cười:
– Có ngày nó sẽ bắn vỡ đầu tớ.
– Hay là chính cậu sẽ bắn vào ngực nó. Cuộc chém giết không thù hận.
Còn Thịnh chết trong cuộc càn quét của Tây về vùng Hòa Bình. Cái chết lãng nhách khi anh ta chuẩn bị trở về vùng “tề” tiếp tục đi học. Một số bạn khác đi theo kháng chiến chẳng biết ra sao, một số ở lại làng xưa quần quật làm không đủ ăn, vợ con nheo nhóc. Bất ngờ Giá nhắc đến Cúc.
– Cậu còn nhớ Cúc “búp bê” con ông thợ rèn không? Tôi thường gặp cô ta ở bưu điện.
– Quên thế nào được! Bây giờ ra sao?
– Lớn và đẹp lên nhiều. Nhà cô ấy ở Phố Hàng Gai, cô ấy cứ nhắc tới chơi mấy lần mà… thấy không tiện nên tôi không lại. Tôi hỏi thăm sức khỏe bà mẹ, cô ta trả lời cũng vẫn bình thường. Nhưng cô ta lại nói bây giờ cô ta ở với ông bà ngoại. Tôi chắc mẹ Cúc đã bước đi bước nữa.
– Cũng là chuyện tự nhiên thôi. Khi chồng chết, bà ấy còn trẻ quá mà.
Từ giã Giá rồi Huy mới băn khoăn, không hiểu trong khi họ nói chuyện với nhau, Cúc có nhắc tới anh không? Cúc còn nhớ anh không? Nhớ thì có lẽ còn nhớ, nhưng tình cảm Cúc lúc này ra sao? Bởi vậy nên đã ghi nhớ số nhà Cúc rồi, Huy vẫn do dự chưa dám lại thăm ngay. Phải đợi hai ngày sau khi chỉ còn bảy ngày phép, Huy mới quyết định lại thăm Cúc. Anh mặc bộ đồ nhà binh bằng vải Kaki Mỹ mới may, đeo cặp lon Thiếu Úy hơi cũ cho ra vẻ Thiếu Úy lâu năm, đầu đội “cát-két” vàng. Anh vừa bước chân đến cửa đã gặp ngay Cúc và được đón tiếp niềm nở không ngờ. Cúc chỉ nhìn anh vài giây rồi hỏi ngay:
– Anh Huy phải không?
– Cúc còn nhớ tôi?
– Anh đổi khác nhiều và đã là sĩ quan, song anh Huy vẫn là anh Huy, làm sao không nhận ra được.
Cúc mời Huy vào nhà. Cô mặc chiếc sơ-mi bằng vải phin trắng ngắn tay, cổ thêu hoa tím. Mái tóc ngắn uốn cong úp lấy chiếc cổ trắng ngần. Đôi mắt mở to tròn linh động. Nụ cười tươi tắn khoe hàm răng đều đặn. Bộ ngực thiếu nữ dậy thì thấp thoáng sau làn áo rộng. Cúc mang một vẻ đẹp nảy nở, rực rỡ như cuộc đời chưa một lần biết đến lo âu.
Huy vừa ngồi xuống ghế, Cúc đã tiếp ngay:
– Tôi đợi anh suốt từ chiều hôm qua đến giờ, không dám đi đâu.
Huy kinh ngạc:
– Sao Cúc biết mà đợi?
– Chiều hôm qua tôi đi đánh điện tín cho ông ngoại, gặp anh Giá…
– À , tôi hiểu rồi. Hèn nào vừa gặp tôi Cúc đã nhận ra.
– Không phải vậy. Anh có những đặc điểm rất dễ nhận. Anh Giá nói với Cúc là chắc chắn anh sẽ tới, bảo đảm trăm phần trăm.
– Thằng Giá bảo đảm à?
Cúc gật đầu. Huy cười:
– Nó bảo đảm bằng gì? Biết vậy tôi cho nó thua cuộc.
– Anh mà không đến thì… chính anh thua cuộc. Sẽ chẳng bao giờ còn tình nghĩa bạn bè gì nữa.
Biết mình nói hớ, Huy chữa:
– Nhưng tôi đã đến và rất bằng lòng cho nó thắng. Kẻ thắng chưa chắc đã có hạnh phúc. Phải vậy không?
Cúc hóm hỉnh:
– Điều đó còn tùy thuộc vào mỗi người quan niệm hạnh phúc là cái gì và hình dáng của nó ra sao.
– Khó mà hình dung được. Người ta chỉ có thể cảm nhận được hạnh phúc từ trong trái tim mình toát lên.
– Anh nói không có vẻ “con nhà lính” chút nào.
– Bề ngoài của chúng tôi thời buổi này chỉ là cái vỏ bất đắc dĩ. Nếu còn ở “hậu phương”, tôi sẽ là sĩ quan Việt Minh, tôi sẽ phải nói những điều tôi không nghĩ. Còn ở đây tôi nói những điều tôi nghĩ dễ dàng hơn, song tất cả chỉ là phù phiếm. Cả hai thứ đều đáng buồn như nhau.
– Vậy ở trường sĩ quan người ta không dạy anh được điều gì sao?
Huy giơ một cánh tay lên:
– Có chứ. Trước hết là học cách tự vệ, sau đó là học cách bắn giết kẻ thù, mà kẻ thù lại là bạn bè tôi, đồng bào ruột thịt của tôi. Kẻ thù của tôi là thằng Hưng, thằng Quý, cô Hằng, cô bán nước chè tươi và anh bán kẹo kéo ở cổng trường, các thầy cô giáo dạy chúng ta học từ tấm bé.
– Nếu cứ nghĩ như thế anh chẳng bao giờ trở thành một người lính tốt chứ đừng nói là một sĩ quan giỏi.
– Đó không phải là điều tôi mong đợi.
– Cúc cũng mong như thế và mong rằng tất cả sĩ quan của các anh cũng nghĩ được như thế.
Tiếng cười của Huy vẳng lên:
– Nếu vậy thì chúng tôi sẽ thua.
– Không! Sĩ quan cả hai bên “Quốc gia” và “Cộng sản” đều phải nghĩ như thế.
– Vậy là huề, vì cuộc chiến tranh không phải của ai hết trong chúng tôi. Cuộc chiến tranh của những người khác. Nhưng cho dù cả hai bên chúng tôi nghĩ được như điều chúng ta vừa nói cũng khó thay đổi được gì. Bởi vì cả hai bộ máy lãnh đạo chiến tranh sẽ không để chúng tôi nhìn nhau cười đùa hay thông cảm tình đồng bào, tình bằng hữu. Họ sẽ thúc đẩy, sẽ kích thích lòng căm thù, buộc chúng tôi phải bắn vào người đối diện, bản năng sinh tồn mà, anh không giết nó, nó giết anh. Vả lại, không thiếu gì những thằng ngu nắm phần quyết định số phận chúng tôi. Chúng nó không bao giờ chịu cho chúng tôi ngừng tay bóp cò súng.
– Anh cũng chấp nhận cả điều đó nữa?
Huy nhún vai:
– Không chấp nhận thì giãy bằng cách nào? Hai bên bờ sông đều là đất chết, không lẽ mình bơi mãi ở giữa dòng? Thôi thì đành mặc cho sóng cuốn mình trôi về phía nào, đành về phía đó vậy. Tuy nhiên cũng tùy theo cách người ta chấp nhận cái hoàn cảnh “chẳng đặng đừng” ấy như thế nào.
Cúc lắc đầu:
– Chấp nhận với tư tưởng nào thì kẻ bị anh bắn chết vẫn chết. Những đứa con vẫn mất cha, những người vợ vẫn mất chồng, đất nước này vẫn tan nát. Phải chăng đó là “số phận” của tất cả những nước nhỏ bé nghèo nàn mà người ta thường vẫn hết lời thương xót?
– Cúc nói đúng. Cho nên vấn đề cuối cùng còn lại là lương tri của con người trong tất cả các quốc gia đang tồn tại trên hành tinh này. Vấn đề có vẻ bao quát và mơ hồ song lại rất gần gũi và thực tế với mỗi người. Từ một ông trùm tư bản hay trùm cộng sản đến những người cầm súng đáng thương. Họ chỉ cần nghĩ rằng họ làm gì cho người khác? Họ muốn gì thì người khác cũng muốn cái đó, họ khổ sở vì điều gì thì người khác cũng lo sợ vì điều đó. Lý do chính làm nên tất cả những hành động tàn ác là sự tham lam ích kỷ của mỗi con người. Vậy cách tốt nhất và dễ dàng nhất để chấm dứt khổ đau là từ mỗi con người hãy dừng lại lòng tham lam, hãy cho lương tri mình một chút lòng thương yêu mọi người. Tham vọng, bạo ngược như Hít-le, như Tần Thủy Hoàng, quỷ quái như Nê-rông rồi cũng bị tiêu diệt.
– Anh có tin rằng con người rồi sẽ tiêu diệt được hết lòng tham và sự ích kỷ không?
– Tôi hoàn toàn tin điều đó, mặc dù sẽ còn phải trải qua nhiều giai đoạn thống khổ khác nhau. Nếu không có điều đó thì loài người sẽ được định nghĩa một cách rõ rệt là loài thú thông minh nhất đang tìm mọi cách hành hạ và hủy diệt lẫn nhau mà thôi. Đấy là cuộc sống dã thú hay lịch sử sau này sẽ gọi thời đại của chúng ta là “thời kỳ dã thú của con người”, nó còn tệ hại hơn là “thời kỳ đồ đất và đồ đá”.
Tiếng cười trong trẻo của Cúc vang lên:
– Nói chuyện với anh thật thú vị. Một ông lính triết học.
– Tôi không ưa triết học. Các ông ấy cãi nhau tùm lum mặc dầu triết học chẳng qua chỉ là tổng kết thực tế của đời sống con người nếu nó không viển vông. Tôi vừa nói một điều rất tầm thường mà ai cũng có thể nghĩ được và bất kỳ ai ở cương vị nào cũng có thể làm được. Bởi vậy tôi mới nói là mọi đau khổ sẽ dễ dàng chấm dứt bởi lương tri giản dị trong sáng của mỗi con người từ một hành động nhỏ cho đến một suy nghĩ lớn. Người nào cũng có thể thực hiện được mà không cần đến bất kỳ sự giúp đỡ nào của kẻ khác. Do đó tôi tin chắc rằng rồi đây mọi người sẽ sống như thế.
– Mặc dù ngày ấy còn rất xa phải không anh?
Huy cúi đầu, xoay xoay chiếc cát-két trên mặt bàn:
– Có lẽ thế. Ngay lúc này tôi tin vẫn có rất nhiều người đang hướng về điều này dù ở phe bên này hay bên kia hay chẳng ở phe nào cả. Tình thương yêu không có chủ nghĩa, dù chủ nghĩa nào cũng bám lấy nó làm phương tiện biện minh cho tham vọng. Có chủ nghĩa là có tham vọng.
– Vậy còn chủ nghĩa nhân đạo?
– Nhân đạo không là chủ nghĩa mà chỉ là lương tâm.
Huy uống cạn ly trà đá. Trong cơn say sưa vì một suy nghĩ về chính thân phận của tuổi trẻ cầm súng, nhất là cái mặc cảm cầm súng trong phe được gọi là “thực dân” từng là kẻ thù của dân tộc mình, Huy đã hăng hái lý luận, như vừa tự bào chữa cho mình, vừa hướng về một lối thoát mà anh mong có cho tương lai. Thấy “đính chính” gián tiếp với Cúc như vậy đã là đủ, anh tìm cách lảng chuyện:
– Không lẽ chúng ta cứ ngồi đây để nói chuyện xa lắc xa lơ mãi sao?
– Ít ra điều đó cũng làm cho Cúc hiểu được anh lúc này thế nào.
– Một cuộc điều tra tư tưởng đấy à? Tôi ngốc quá, lọt vào tay một cô Ma-ta Ha-ri mà không biết.
– Còn hơn thế. CIA, KGB, Intelligence Service… Anh không nghĩ thế à?
– Không bao giờ.
Hai người nhìn nhau cùng cất tiếng cười. Chiếc quạt máy trên trần nhà quay nhè nhẹ làm rung động mái tóc Cúc và chiếc cổ áo tròn khẽ phất lên để lộ làn da ngực trắng hồng. Đôi mắt Huy chớp mau:
– Cúc còn đi học không?
– Cúc bỏ học rồi, từ hồi đầu năm nay. Phải ở nhà trông coi nhà cửa cho ông bà ngoại.
– Còn… mẹ Cúc?
Cúc cúi đầu, một ngón tay dí nhẹ trên mặt bàn:
– Mẹ Cúc đi rồi…
– Tôi hiểu.
– Ông bà ngoại Cúc có cửa hàng bán vải ở chợ Đồng Xuân, cả hai ông bà đi từ sáng đến tối mới về. Trên lầu chỉ còn cậu của Cúc đang ốm nặng. Nhà chẳng còn ai.
– Vậy mà tôi đang tính mời Cúc với cậu Giá tối nay đi ăn, gọi là mừng buổi hội ngộ của mấy đứa học trò trường huyện gặp lại nhau.
Hàm răng Cúc trắng đều lấp lánh:
– Ý kiến thật hay. Nhưng tối nay đi ăn thì không được vì Cúc chưa nói với ông bà ngoại. Nếu biết trước, bà ngoại Cúc sẽ về sớm lo cơm nước. Tuy nhiên anh và anh Giá cứ đi ăn rồi sau đó khoảng 7 giờ chiều quay lại đây đón Cúc đi ăn kem ở quán Mụ Béo ở Bờ Hồ hay là đi xem phim. Đang có một phim tuyệt vời “Autant En Emporte Le Vent”. Khó lấy vé lắm đấy.
– Yên tâm, lính đi đâu cũng lọt. Không có vé thì “xem cọp”, cảnh sát thấy lính cũng làm như không thấy gì xảy ra.
Huy đứng lên từ giã Cúc ra về. Anh đến thẳng bưu điện gặp Giá. Nhưng Giá chỉ nhận lời đi ăn, lấy cớ bận không đi coi phim được, nên tối đó chỉ có Cúc và Huy ngồi bên nhau trong rạp chiếu bóng. Phim hay song họ coi được rất ít. Mục đi ăn được gác lại đến chiều hôm sau.
Rồi liên tiếp những buổi chiều sau nữa trong kỳ phép ra trường của Huy, họ cùng ở bên nhau, đi đến tất cả những nơi có thể trở thành kỷ niệm của Hà Nội ba mươi sáu phố phường. Hồ Gươm, Hồ Trúc Bạch, Chùa Một Cột, Yên Phụ, Láng, Vòng. Nhưng chưa ai nói đến tình yêu mặc dù họ đã hiểu đó là bước mở đầu của tình yêu. Chỉ có những lời lẽ xa xôi, bóng bẩy. Họ lần dở lại những trang kỷ niệm của thuở ấu thơ, những ngày còn học chung, đặc biệt là ngày về thăm nhà Huy, quê hương Huy và một thuở thanh bình. Cúc nói rằng nhiều đêm cô đã ước được sống lại một giờ trong cái ngày tuyệt vời ấy. Cô thú nhận đã có những buổi chiều cô nhớ Huy, hình ảnh Huy đã ăn sâu vào ký ức, xanh thẳm như vì sao độc nhất trong khung trời đêm huyền diệu. Họ đã sống những buổi chiều như trong tiểu thuyết tình lãng mạn của Khái Hưng và Nhất Linh. Với người lính thì đó là buổi chiều của “một thời để yêu và một thời để chết”.

Sau những ngày phép, Huy chuyển tới một đơn vị bộ binh theo lệnh của Đệ Tam Quân Khu ở Hà Nội. Đại đội của anh được chỉ định tăng cường bảo vệ an ninh trực tiếp cho Phi Trường Cát Bi Hải Phòng. Cả đại đội dựng tăng ở sát hàng rào kẽm gai, suốt ngày bận rộn đào công sự chiến đấu, giao thông và bố trí thêm các cộng sự phòng thủ vì tình hình quân sự mỗi lúc một khẩn trương. Quân đội Pháp không còn được coi là một đội quân tinh nhuệ của một trong những cường quốc trên thế giới. Tình hình chính trị khủng hoảng của nước Pháp kéo dài. Sự suy sụp về kinh tế và thắng lợi chính trị của phe xã hội Pháp đã đánh những đòn mạnh mẽ vào chủ nghĩa thực dân của các ông trùm tài phiệt, quân chủ. Tất nhiên, quân đội viễn chinh Pháp tại Đông Dương cũng suy yếu theo. Ngược lại, lực lượng Cộng sản Việt Nam được các nước theo chủ nghĩa Cộng sản tích cực yểm trợ, đã lớn mạnh thêm, đủ sức quật lại những chiến dịch càn quét lớn của Pháp.
Các tiểu đoàn Việt Nam được thành lập với tên gọi B.V.N. (Bataillon Vietnamienne) bên cạnh quân đội Pháp, nhưng trang bị và vũ khí cùng tổ chức còn rất thô sơ, mới mẻ, non nớt chưa sẵn sàng đối phó với các chiến trường. Để bảo vệ các thành phố, việc tổ chức đồn bót khiến lực lượng Pháp-Việt co lại thành từng cụm, nhường hẳn hầu hết địa bàn nông thôn cho quân đội Việt Minh. Thỉnh thoảng quân đội Pháp-Việt mở một cuộc hành quân tảo thanh rồi rút về. Kết quả là họ bị đánh tiêu hao, tinh thần binh sĩ xuống thấp, lại không được chú ý, nên gần như trở thành một đội quân ô hợp không lý tưởng, sẵn sàng giết chóc, hãm hiếp, đốt phá làng mạc, bắt gà, bắt vịt, cướp phá bừa bãi trong những cuộc càn quét. Các đồn bót dần dần bị “nhổ” rễ, bị tiêu diệt gọn, vùng kiểm soát thu hẹp mãi.
Trong khi đó, người dân Việt Nam ở thôn quê chịu cái cảnh một cổ hai tròng. Ban đêm, Việt Minh kéo về đấu tố, diệt tề, đào đường, phá sập cầu cống, thu thuế, kiểm soát tư tưởng từng người từng nhà, tổ chức chiến đấu du kích. Khi bình minh trở lại, quân Pháp càn quét tảo thanh, bắt dân làm lại những gì mới phá đêm trước, tra khảo để tìm kiếm du kích và tha hồ vơ vét. Làng nào có du kích bắn trả, tức khắc sẽ bị tấn công trả đũa bằng pháo binh, bằng máy bay ném bom, bằng bộ binh bắn giết bừa bãi. Bộ mặt chiến tranh hiện nguyên hình chỉ là những cuộc dày xéo, bắn giết của hai phe đối đầu nhắm thẳng vào người dân thôn quê Việt Nam.
Huy bước vào đời quân ngũ, nhận nhiệm vụ chỉ huy đại đội tăng cường phòng thủ sân bay Cát Bi trong tình cảnh ấy. Đại đội của Huy đặt dưới quyền của viên Đại Tá người Pháp, chỉ huy trưởng căn cứ quân sự tại đây, gồm hầu hết là người Việt, điểm thêm dăm ba chú lính người Thượng Radhé và khoảng chục chú lính Miên đen đủi lầm lì. Huy không dám tin là họ can đảm mặc dầu họ luôn tỏ ra trung hậu và lì lợm. Riêng những người lính Việt Nam hồi đó đã cho Huy cái cảm tưởng là họ đi lính vì bị buộc phải theo cái lệnh “tổng động viên” cũng như Huy, hoặc đi lính để kiếm tiền nuôi vợ con. Ngoài ra, còn một loại khác là loại thanh niên có máu giang hồ coi đời lính như chỗ dừng chân tạm một thời gian. Cấp chỉ huy về phía Việt Nam thì chỉ có một số rất ít xuất thân từ hai trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức và Võ Bị Đà Lạt, còn lại hầu hết là những ông Đại Úy, Thiếu Tá xuất thân từ lính khố xanh, khố đỏ của Tây, nói tiếng Tây như máy nhưng khó chứng tỏ nổi một tài năng quân sự hay đức tính chỉ huy nào. Họ là hình ảnh lai căng từ đầu đến chân – như Đức Hoàng Đế Bảo Đại suốt đời ăn chơi ở bên Tây, buông mặc tổ quốc cũng như tổ cò cho gió bão tả tơi.
Hình ảnh “Quốc gia” và lớp sơn chủ nghĩa “Chống Cộng Bảo Vệ Tự Do” hồi đó là màu đen nhẻm, rách mướp, thảm sầu như thế. Huy không thể nhìn thấy gì ở tương lai. Khi chưa bước chân vào quân đội Huy còn có đôi chút tin tưởng, nhưng bước chân vào rồi anh mới thấy rõ mọi hy vọng là quá mong manh. Trong một lá thư viết cho Cúc sau hai tháng nhận nhiệm vụ, Huy đã không giấu nỗi băn khoăn của mình. Anh viết: “…Tôi như kẻ bị lưu đày, giữa một ngã tư đầy cạm bẫy, tôi đang cô đơn giữa một cù lao hoang với bầy cá sấu bao quanh, phải chăng tôi đang đợi một viên đạn pháo của thằng Hưng gửi tới nổ tung trên đỉnh đầu? Tuy vậy hàng ngày tôi vẫn hò hét, phải đẩy những người khác lao mình vào cuộc chiến để hàng đêm tôi có thì giờ nghĩ đến Cúc và gửi cho Cúc những đóa hoa rướm máu tâm sự này? Tôi đang muốn quên đi mọi hậu quả giữa chiến trường không lối thoát này. Tôi nghĩ rằng người sẽ bắn vào tôi cũng chỉ là kẻ phải bắn bất đắc dĩ. Tôi cũng sẽ phải bắn họ trong cái tâm trạng hung hăng mà rã rời ấy, một tâm trạng nếu kể lại sẽ là chuyện khôi hài hoang đường, bởi vậy tôi sẽ không bao giờ dám hé môi. Người ta có những lúc phải biết ngượng miệng dù đó là lời lẽ chân thành nhất. Tôi chỉ có thể nói với Cúc và tôi tin Cúc hiểu tôi, cũng như Cúc hiểu rằng tôi thèm được gặp Cúc, thèm được nói chuyện với Cúc biết là dường nào…”.

(Còn tiếp)

Share this post