Người Vợ Ngoại Tình (Tiểu Thuyết Phóng Tác – Hoàng Hải Thủy) Chương 4

Người Vợ Ngoại Tình (Tiểu Thuyết Phóng Tác – Hoàng Hải Thủy) Chương 4

NGƯỜI VỢ NGOẠI TÌNH
* Tiểu Thuyết Phóng Tác Hoàng Hải Thủy
* Chiêu Dương xuất bản (Sài Gòn, 1973)
* Nguồn: Blog Hoàng Hải Thủy (https://hoanghaithuy.wordpress.com);
https://vietmessenger.com

* Để đọc những phần đã đăng, xin vào khung Search this site (Tìm Kiếm) và gõ tên tác giả: Hoàng Hải Thủy

CHƯƠNG 4

Bô sung sướng như một người đàn ông hạnh phúc nhất đời. Chàng yên trí hưởng hạnh phúc bên cô vợ trẻ mà không phải bận tâm lo nghĩ đến một chuyện cỏn con gì cả. Mỗi bữa ăn có nàng ngồi trước mặt buổi tối, chàng cặp tay nàng dạo chơi dưới ánh trăng suông, một nụ cười của nàng, một cử chỉ rất tầm thường của nàng như bàn tay vuốt nhẹ làn tóc mai… đó là những cái bất cứ lúc nào cũng có thể làm cho Bô ngạc nhiên và sung sướng. Mỗi sáng ngủ dậy, chàng vẫn nằm yên hé mắt nhìn ánh sáng từ ngoài cửa sổ lùa vào, lung linh trên gò má đầy có những sợi lông tơ mịn của nàng. Gần nhau như thế, chàng thấy đôi mắt nàng đột nhiên như to hơn, nhất là khi nàng chớp chớp mắt lúc vừa tỉnh dậy. Đôi mắt nàng có mầu huyền khi nàng ở trong bóng râm, xanh đậm ngoài ánh nắng và lúc thì như xanh nhạt, lúc thì nâu nâu khi nàng nằm trong giường. Bô say sưa thành kính nhìn vào đôi mắt ấy và sung sướng khi thấy bóng mình nhỏ tí in trong tròng mắt nàng.

Khi chàng ra đi, nàng ra đứng trên bao lơn giữa hai chậu hoa dạ lan hương xinh xắn. Ở dưới đường, chàng lên mình ngựa, nàng dặn dò mấy câu và ngắt một bông hoa đưa lên miệng cắn những cánh hoa theo gió bay lả tả xuống đầu chàng. Họ gửi cho nhau những cái hôn trên đầu ngón tay. Chàng thúc ngựa ra đi trên những con đường cát trắng, một mình đi sâu vào những cánh đồng lúa ngập đến ngang mình ngựa, với ánh nắng mai rực rỡ trên đầu. Lúc nào nhớ đến nàng, chàng lại mỉm cười. Đời chàng như vậy là hoàn toàn hạnh phúc.

Còn Ánh, trước khi về nhà chồng, mang hy vọng rằng nàng đã yêu và đã được yêu. Nhưng sau đó, nàng hơi ngạc nhiên khi thấy nàng vẫn không được sung sướng với một mối tình như vậy. Nàng nghĩ rằng nàng đã lầm, và cố moi óc tìm hiểu người ta định nói gì khi dùng những danh từ yêu đương, hạnh phúc, say đắm, thiết tha v.v… mà nàng vẫn thấy người ta diễn tả một cảch mê ly trong các cuốn tiểu thuyết diễm tình.

Ánh đã đọc truyện “Paul et Virginie” [tiểu thuyết của nhà văn Pháp Jacques-Henri Bernardin de Saint-Pierre, 1788] và nàng đã mơ nhiều về căn nhà tre nhỏ nằm ven rừng xanh, mơ đến chú mọi Domigo, đến con chó Fidèle, và nhất là mơ đến tình yêu trong sạch của một người anh trai hiền lành nào đó, lúc nào cũng sẵn sàng leo lên những ngọn cây cao chót vót để hái những trái chín thơm lành, hoặc chớp lấy những tổ chim non, đem xuống dâng cho những cô em gái…

Khi Ánh được mười ba tuổi, ông Năm đích thân đưa nàng ra tỉnh Gò Ruân, để gửi nàng vào học trong trường Nhà Trắng. Trong những ngày đầu tiên sống trong trường, Ánh không thấy buồn rầu chút nào. Trái lại nàng còn vui thích vì được gần gũi những Dì Phước hiền lành, khéo chiều chuộng. Các Dì thường đưa nàng vào Nhà Thờ chơi. Nàng học rất khá. Chính nàng là người vẫn trả lời trôi chảy ông Cha Sở về những câu hỏi giáo lý khúc mắc của ông.

Buổi tối, trước giờ đọc kinh, người ta thường đọc cho các cô trò nhỏ nghe vài trang truyện đạo. Ánh say sưa nghe những lời than thở ngân vang qua những trang sách, với những nỗi buồn vô biên, như lời than của cả ngàn năm xưa cũ bỗng nhiên trở về nức nở trong tâm hồn rung động của nàng.

Nếu như thời thơ ấu của Ánh đã trôi dài sau một cái quầy hàng trong một cửa hiệu tạp hóa chật chội, tối tăm nào đó, chắc nàng đã say mê muốn được sống giữa những cảnh trời cao, sông rộng nơi đồng quê, những cảnh mà người thị thành chỉ được cảm, được thấy qua những trang tiểu thuyết, Nhưng Ánh đã biết quá rõ cảnh sống nơi làng quê rồi, nàng đã chán ngấy với những chuyện đi cầy, gặt lúa, vắt sữa bò v.v… Quen thuộc với những cảnh bình yên, phẳng lặng, Ánh lại thích được sống giữa những cảnh náo động và sôi nổi.

Trong trường Nhà Trắng, nơi Ánh học, có một chị gái già thường đến trường một tháng đôi lần để khâu và sửa soạn lại mùng mền quần áo. Được Cha Cả che chơ và nâng đỡ vì chị ta thuộc một gia đình dòng dõi quí phái bị suy tàn từ ngày cách mạng đến giờ, chị ta được phép ngồi ăn chung bàn với các bà Sơ, và thường trò chuyện thân mật với các bà trước khi trở lên lầu làm việc. Bọn học trò gái nhỏ thường lén rủ nhau lên xem chị ta khâu vá. Chị ta thuộc lòng những bài ca tình tứ lãng mạn ngày xưa, và vừa đẩy những mũi kim khâu đi trên làn vải dầy, chị ta vừa khe khẽ hát. Chị kể chuyện, chị loan những tin tức mới vừa xẩy ra bên ngoài, nhận mua giùm những món vặt vãnh, nhận gửi thư và bí mật cho các cô học trò lớn mượn vài cuốn tiểu thuyết tình.

Chị ta thường mang theo luôn luôn một cuốn truyện, dấu dưới đáy rổ may và lúc nào ngồi một mình, là dở ra đọc ngấu nghiến từng trang dài. Đó là những cuốn truyện nói riêng về ái tình, về Chàng và Nàng, về những người đàn bà đẹp bị đời hất hủi, hành hạ, ê chề, những cô gái ngây thơ, kiều diễm ngất lịm đi giữa những cảnh lâu đài hoang vắng, trong đó có những trận phi ngựa đuổi bắt, chém giết nhau đến kinh hồn giữa những chàng trai trẻ hào hoa mã thượng, đánh nhau như máy vì đôi mắt đẹp của giai nhân, có những cảnh rừng cây u tối, những trái tim rung động, những lời thề nguyền đời này kiếp khác, những tiếng lòng nức nở, những giọt nước mắt long lanh, và những chiếc hôn say đắm, nồng nàn, có những tiếng đàn thánh thót dưới bóng trăng xanh, có tiếng chim ca tưng bừng trong hoa lá, có những chàng trai trẻ kiêu dũng như những con sư tử, nhưng trước người đẹp lại hiền như những chú cừu non, những con người hùng đức hạnh như là không ai có thể đức hạnh đến như thế, lúc nào ăn bận cũng đàng hoàng, và thỉnh thoảng lại khóc như mưa như gió.

Khi Ánh lên mười lăm tuổi, trong vòng sáu tháng trời, nàng đã sống, đã mơ màng trong cái thế giới của những quyển tiểu thuyết ái tình lâm ly ấy. Sau đó, khi đọc những cuốn sách của văn hào Walter Scott, Ánh bắt đầu mê những chuyện lịch sử, mê những pháo đài, những hầm tù, những đoàn cung thủ và những chàng hiệp sĩ mang giáp sắt. Nàng ao ước được sống trong một tòa lâu đài nào đó, như những nàng kiều nữ ngày xưa, trong những tấm áo mầu, chỉ sống để u buồn, ngồi bên cửa sổ, ngày ngày chờ đợi một bóng chàng hiệp sĩ mang kiếm thép, đội mũ có dim lông chim trĩ trắng, cưỡi một con ngựa đen phỉ như bay qua cánh đồng nâu xám ở trước lâu đài,

Vài cô bạn của Ánh dấu diếm đem vào được trong trường dăm quyển tiểu thuyết diễm tình mới. Họ chia nhau đọc trộm, trong phòng ngủ. Trịnh trọng dở nhẹ những mảnh bìa da cứng, Ánh vẫn thường trố mắt nhìn tên những vị tác giả, đối với nàng là người không quen biết, nhưng tỏ ra gần gũi với nàng vô cùng, và thường ký với những tước vị cao sang như Bá Tước, Công Tước hoặc Tử Tước.

Nàng thường ghé môi thổi nhẹ cho những trang giấy lụa mỏng tanh, nằm trên những bức tranh, trong cuốn sách, khẽ bay lên rồi lại từ từ rơi xuống, Có những bức tranh vẽ cảnh một thanh niên khôi ngô tuấn tú, đứng bên một nàng thiếu nữ xinh đẹp, ngây thơ một cách trinh bạch, dưới những vòm cây xanh, hoặc là những bức tranh vẽ hình những thiếu phụ vô danh, đôi mắt u buồn nhìn cuộc đời dưới những hàng mi dài.

Và ánh sáng mờ ảo của ngọn đèn dầu treo giữa phòng đã lung linh nhẩy múa trên những trang sách ấy, dưới mắt Ánh và trong cả tâm hồn nàng, giữa cảnh tịch mịch của đêm trường nơi tu viện. Đôi khi Ánh nhắm mắt ngủ quên đi, má đặt lên trang sách, bên tai nàng văng vẳng như có tiếng ngựa xe…

Khi mẹ nàng qua đời, Ánh đã khóc rất nhiều trong những ngày đầu. Nàng lấy tóc của mẹ kết lại thành một chiếc vòng đen trước ngực, và trong một bức thơ đầy lời lẽ bi ai sầu não gửi về vùng Bà Tô, Ánh ngỏ ý muốn được chôn bên cạnh mộ mẹ nàng khi nàng chết. Ông Năm Hòa tưởng con gái ốm, lật đật ra thăm. Trong thâm tâm Ánh tự cảm thấy hài lòng, vì nàng đã đạt được đến một mức đau khổ lạnh lùng, gần như lâng lâng thoát tục mà những kẻ tầm thường ở cõi đời này, không thể nào có được. Nàng để mặc tâm hồn như một con thuyền bềnh bồng trôi nổi trên những mặt hồ buồn của Lamartine, nghe những tiếng đàn huyền đọng trên sóng nước, những tiếng chim chiều lẻ bạn kêu thương, tiếng gió thu hiu hắt thở dài qua khe lá, tiếng lá rụng rơi êm trên thảm cỏ vàng, tiếng đập cánh của những nàng Trinh Nữ bay về trời, và tiếng nói của Thượng Đế âm vang muôn thuở trong những thung lũng ngàn đời bất biến. Thế rồi nàng cũng cảm thấy chán ngấy và hơi ngạc nhiên khi thấy mình chẳng còn buồn rầu một tí nào, cũng như trên trán nàng, chẳng có một vết răn ưu tư nào cả.

Mấy bà Sơ, trước kia tỏ ra rất hài lòng về Ánh, nay bắt đầu thấy cô học trò nhỏ trở nên kỳ dị và bướng bỉnh một cách khó chịu. Khi ông Năm Hòa đến xin Ánh ra khỏi trường, người ta không lấy làm buồn mấy khi thấy nàng ra đi.

Về nhà quê, trong những ngày đầu tiên, Ánh cảm thấy vui vui vì được tự do sống theo ý muốn, được sai bảo bọn người nhà. Nhưng lâu dần nàng lại thấy chán ngấy cảnh đồng quê và tiếc những ngày sống trong trường Nhà Trắng. Khi nhà y sĩ Trần Văn Bô đến trại lần đầu tiên, Ánh tự cho rằng mình đã thất vọng nhiều rồi, không còn cảm động, còn cần biết gì thêm nữa.

Trong tuần trăng mật, một đôi khi, Ánh cũng nghĩ rằng đó là thời kỳ đẹp nhất của đời nàng, Nhưng nàng cho rằng, muốn hưởng thụ được tất cả những hương vị êm đềm của hạnh phúc, nàng phải được theo chồng sống ở những miền đất lạ xa xôi, nơi có những cái tên làm rung động lòng người, và những buổi sớm mai sau đêm tân hôn ở đấy, những cặp vợ chồng mới cưới sẽ được hưởng những giây phút êm đềm, lười biếng thấm thía hơn. Nàng muốn được ngồi trong những chiếc cáng có rèm che, nghe tiếng ca của những anh phu cáng hát theo nhịp chân dẫm lên dốc núi hòa lẫn với tiếng chim kêu, vượn hú, và tiếng suối reo trên những ghềnh đá bạc. Để đến những buổi chiều hoàng hôn, khi mặt trời gần lặn, chàng và nàng đứng sát nhau trên những đỉnh núi cao, trong gió chiều thơm phức mùi hoa cam, để rồi đêm tối, ngồi bên nhau trong bóng đêm, những ngón tay nắm chặt lấy nhau, họ nhìn lên trời đầy sao mà tính chuyện tương lai. Nàng thấy rằng hình như chỉ có một vài miền trên trái đất này có thể làm cho con người có hạnh phúc, tình yêu như một thứ cây đặc biệt chỉ có thể sống tươi tốt ở một nơi, hễ đem ra trồng nơi khác là chết. Tại sao nàng lại không có thể sống trong một căn nhà gỗ thông bên một mặt hồ mênh mông ở Thụy Sĩ hoặc dấu nỗi sầu trong một gian nhà tranh vàng ở Tô Cách Lan? Tại sao chồng nàng lại không phải là một người bận một chiếc áo bằng nhung đen có vaì bồng, đội mũ nỉ có dắt lông chim, đi giầy da mềm như lụa, và ngón tay sao lại không đeo những chiếc nhẫn kim cương?

Có lẽ đôi khi, Ánh cũng muốn tâm sự với một người nào đó tất cả những nỗi ước mơ lãng mạn ấy của nàng. Nhưng làm sao nàng có thể diễn tả được một thoáng buồn vẩn vơ, một hình ảnh tan biến, thay đổi nhanh hơn những làn mây mỏng trên trời và phảng phất như gió thổi? Nàng thiếu hoạt bát để diễn tả tư tưởng ra thành lời, thiếu cơ hội, thiếu cả can đảm.

Trước những trạng thái tâm hồn ấy của vợ, Bô vẫn bình thản như không. Chàng chẳng có ý kiến gì, chẳng có lập trường, chẳng có quan niệm gì cả, hoặc nếu có, thì là ý kiến, lập trường và quan niệm của tất cả mọi người. Tâm hồn chàng trơn tuột như một mặt vỉa hè mà gót chân ai cũng có thể qua được. Chàng thú thật rằng trong những ngày còn đi học tại Gò Ruân, chẳng có lần nào chàng đi xem hát do các kịch sĩ từ Ba Lê đến trình diễn. Bô không biết đàn, không biết làm thơ, không biết nghe nhạc, không biết thưởng thức văn chương, không biết bơi lội, không biết bắn súng, và không biết cả một vài danh từ lãng mạn hơi khó hiểu mà vợ chàng đã đọc thấy trong một cuốn truyện.

Buổi sáng Bô tiếp khách ở nhà, buổi chiều chàng đi thăm bệnh cho các bệnh nhân trong vùng. Thường thường tối mịt chàng mới về đến nhà, có khi nửa đêm không chừng. Con ở đã đi ngủ, Ánh xuống nhà dọn bữa cho chồng, Bô cởi áo ngoài vắt lên thành ghế để ăn uống cho thoải mái; vừa ăn, chàng vừa kề lại những câu chuyện trong ngày cho vợ nghe. Sau khi ăn hết củ khoai răn reo, vét nốt nồi súp, tráng miệng bằng một mẩu pho-mát, Bô uống một ly rượu nhỏ rồi theo vợ lên đi ngủ. Vừa ngả lưng xuống giường, chàng đã ngáy khò.

Vẫn như ngày xưa, mỗi lần có chuyện xô xát dữ đội với chồng bà Quản Bành thường tạ sự đi thăm con để vắng mặt ít lâu cho đỡ giận. Nhưng bây giờ bà Quản có vẻ hơi kỵ cô con dâu, Bà thấy Ánh có tật tiêu hoang. Than củi, mắm muối trong nhà Bô tốn phí một cách quá đáng. Bà chỉ bảo cho Ánh cách xếp đặt quần áo cho ngăn nắp, và dạy nàng kiểm soát anh hàng thịt khi anh này mang thịt đến bán.

Ánh giả vờ ngoan ngoãn nghe lời mẹ chồng, Bà Quản Bành cố tình lên lớp con dâu, những tiếng “thưa mẹ” và “con ạ” ngọt sớt trao đổi nhau suốt ngày như những mũi tên nhọn có tẩm thuốc độc bắn đi bắn lại giữa hai kẻ tử thù không đội trời chung.

Trong thời bà cả Bút, tức là bà Bô cũ, bà Quản Bành còn thấy mình được Bố quý mến hơn. Nhưng đến nay, trước mối tình của Bô đối với Ánh, bà cảm thấy như Bô đã lừa dối, đã phản bội bà, đã đem lại một cái gì đáng lẽ là của bà đi cho người khác. Và bà yên lặng đứng ngoài cái hạnh phúc của đứa con trai duy nhất một cách buồn rầu, như một kẻ bị khánh tận, bị vỡ nợ, đứng ngoài đường nhìn qua cửa sổ thấy những người lạ mặt đang cười đùa, ăn uống trong căn nhà cũ của mình. Bà nhắc lại cho Bô nghe những chuyện xưa, những nỗi khổ cực của bà đã chịu đựng cho Bô để so sánh với sự thờ ơ, lãnh đạm của Ánh bây giờ, và để đi đến kết luận rằng Bô cưng chiều vợ như vậy thật là vô lý.

Bô không biết trả lời bà Quản ra sao cả, chàng kính mến mẹ rất mực và cũng yêu thương vợ vô cùng. Chàng cho rằng mẹ chàng nói bao giờ cũng đúng, nhưng vợ chàng thì lại hoàn toàn không thể chê trách điều gì. Khi bà Quản về rồi, Bô rụt rè nhắc lại một vài câu phê bình nhẹ nhất cho vợ nghe, nhưng chỉ một câu nói, Ánh cho chồng thấy chàng đã lầm to, và gạt chàng về với mấy cái bệnh vặt.

Theo những lý thuyết mà nàng tin rằng sẽ thâu lượm được những kết quả tốt đẹp, Ánh cố gắng đem lại ái tình trong đời nàng. Những đêm sáng trăng, trong mảnh vườn nhỏ, ngồi sát bên Bô trên chiếc ghế đá, trước bồn nước nhỏ, và bức tượng ông thầy tu đứng đọc sách, Ánh rủ rỉ đọc cho chồng nghe tất cả những bài thơ tình mà nàng thuộc lòng, nói cho chồng nghe tất cả những câu yêu đương trong tiểu thuyết mà nàng còn nhớ, hát cho chàng nghe những bài ca mùi đứt ruột, nhưng sau đó Ánh hơi ngạc nhiên khi thấy chính nàng cũng chẳng rung động hơn trước tí nào, và Bô thì vẫn sì sì ra như cũ.

Sau khi đã mỏi tay quẹt diêm châm vào trái tim mà vẫn không thấy bốc một ngọn lửa yêu đương nào cả, Ánh cho rằng chồng nàng là người không thể nào có những tình cảm nồng nhiệt được. Yêu đương đối với chàng chỉ là một thói quen, chàng yêu vợ có giờ giấc, có điều độ y như là người ta ăn bánh, uống nước.

Một anh gác rừng trong miền được ông Đốc Bô chữa cho khỏi bệnh tức ngực, đem đến biếu bà Đốc một con chó giống Ý Đại Lợi thật xinh. Ánh thường dắt chó đi chơi quanh quẩn ra khỏi quận để đỡ phải chán mắt nhìn suốt ngày này qua ngày khác mảnh vườn nhỏ hẹp có bức tượng ông thầy tu đứng đọc sách bằng đá trắng.

Trong những buổi chiều đi chơi thơ thẩn một mình như thế, Ánh vẫn thường dắt chó ra tận chùa Bà Banh, một ngôi chùa bỏ hoang từ lâu ở phía đầu quận. Trước cửa chùa có một cái hồ bán nguyệt thả sen và có dăm cây ngô đồng võ vàng dựa trên bức tường xiêu đổ.

Nàng thường đến đây ngồi trên thềm cửa tam quan, mơ màng nhìn ra cánh đồng và những rặng cây xa nơi chân trời. Tâm trí nàng phất phơ như một cánh bướm, bay lượn trên bụi cỏ, cành cây. Nhưng sau cùng, câu chuyện vợ chồng bao giờ cũng trở lại ám ảnh nàng:

– Trời ơi! tại sao ta lại lấy chồng? Ta lấy chồng để làm gì nhỉ?

Ánh tự hỏi không hiểu có một phương tiện nào, một cơ hội nào khác cho nàng gặp được một người đàn ông khác với chồng nàng hay không? Và nếu có thể được, thì sự việc sẽ xảy ra như thế nào? Nàng tưởng tượng ra những cuộc gặp gỡ kỳ dị: con người ấy sẽ khác hẳn với ông Đốc Bô, chàng đẹp trai, học thức, lịch sự, có duyên, quyến rũ. Những cô bạn gái cùng học trong trường Nhà Trắng với nàng trước kia chắc bây giờ đều đang sống với những người chồng dễ thương như vậy. Bây giờ các bạn gái của nàng đang làm gì? Sống ở nơi châu thành rộn rịp ngựa xe, tưng bừng ánh sáng, chắc họ phải có những cuộc sống sôi nổi rung động, mê hồn. Trong khi đó thì cuộc đời nàng đang lạnh lẽo như một căn gác xép bỏ hoang có chiếc cửa sổ mở ra hướng Bắc. Nàng nhớ lại những kỳ phát phần thưởng ngày xưa, khi nàng e lệ bước lên khán đài lãnh những chồng sách thưởng. Với mái tóc tết bím thả trên hai vai, chiếc áo trắng và đôi giày hở gót, nàng có những điệu bộ mắc cỡ đáng yêu của những cô gái dậy thì, làm cho mấy vị quan khách nửa ông, nửa anh phải rù rì bàn tán. Sân trường trong những ngày cuối năm học ấy rộn rịp khác thường, học trò gọi nhau, vẫy nhau qua các khung cửa xe. Ông thầy đờn xách hộp ra về, gặp ai cũng ngả nón chào ra vẻ nhà nghệ sĩ hay đãng trí. Thời gian xa xưa biết chừng nào rồi…

Nàng gọi Lili, con chó nhỏ tới nơi, âu yếm vuốt ve nó và trò chuyện với nó như một đứa trẻ:

– Lili… em có thương cô không? Đời em nào có biết buồn là gì nhỉ?

Buổi chiều, đôi khi có những trận gió lớn thổi từ miền biển xa về, đem theo những hơi nước mặn. Những thân lau già cỗi ngả mình nằm rạp xuống đất theo chiều gió, hai rặng phi lao sau chùa Bà Banh reo vi vu, buồn như những tiếng thở dài não nuột, mấy lá ngô đồng xào xạc bay. Ánh ghì chặt chiếc khăn san trước ngực, chậm rãi đứng dậy.

Trong lối cỏ, một vầng ánh sáng xanh rờn hắt từ vòm cây lá xuống soi sáng đường rêu ẩm. Mặt trời lặn dần, ráng chiều đỏ ối sau những thân cây về hướng Tây. Ánh bỗng thấy rùng mình sợ hãi. Nàng vội vã dắt chó theo con đường lớn về nhà, và cả buổi chiều hôm ấy nàng rũ rượi nằm trong chiếc ghế bành bên cửa sổ, không nói nửa lời.

(Hết Chương 4)

Share this post