Người Vợ Ngoại Tình (Tiểu Thuyết Phóng Tác – Hoàng Hải Thủy) Chương 5

Người Vợ Ngoại Tình (Tiểu Thuyết Phóng Tác – Hoàng Hải Thủy) Chương 5

NGƯỜI VỢ NGOẠI TÌNH
* Tiểu Thuyết Phóng Tác Hoàng Hải Thủy
* Chiêu Dương xuất bản (Sài Gòn, 1973)
* Nguồn: Blog Hoàng Hải Thủy (https://hoanghaithuy.wordpress.com);
https://vietmessenger.com

* Để đọc những phần đã đăng, xin vào khung Search this site (Tìm Kiếm) và gõ tên tác giả: Hoàng Hải Thủy

CHƯƠNG 5

Đêm đêm, khi bọn lái buôn, trên những chiếc xe bò cộc cạch, vừa đi vừa hát bài Marjolaine qua trước cửa nhà, Ánh bỗng thức giấc. Nàng lắng nghe tiếng bánh sắt của đoàn xe nghiến trên con đường sỏi, tắt dần trong đêm khuya. Nàng nghĩ thầm:

– Đến sáng mai, họ sẽ tới Ba Lê.

Nàng thả hồn đi theo đoàn xe, qua đồi, qua rừng, qua các làng quê, trên con đường đá trắng dưới ánh sao lấp lánh, cho đến lúc nàng mệt mỏi lại ngủ thiếp đi.

Nàng mua một tấm bản đồ thành phố Ba Lê, rồi để ngón tay lần theo mặt giấy, nàng tưởng tượng ra những đại lộ, ngần ngừ trước những ngã tư đường, dừng lại trong những công viên. Đôi khi, nàng nhắm mắt lại và tưởng như đang nhìn thấy trong bóng tối lấp lánh những ngọn đèn ven đường, và nghe tiếng vó ngựa chạy lộp cộp truớc cửa những nhà hát lớn.

Nàng đặt mua cả năm tờ Tuần Báo Bạn Gái Tân Thời và tờ Trang Phục Mới. Nàng đọc ngấu nghiến những trang Thời Sự Kịch Trường, chú ý đến từng chi tiết nhỏ nhặt nhất của các đêm trình diễn đầu tiên các vở tuồng mới, theo rõi cuộc đời ái tình và sự nghiệp của những cô đào hát đang nổi tiếng. Nàng nghiên cứu những kiểu áo mới, những kiểu tóc mới.

Nàng tìm đọc những tác phẩm của nhà văn Eugène Sue để hiểu rõ Ba Lê hơn. Trước mắt Ánh, thành phố Ba Lê rộng lớn hơn cả Đại Tây Dương, huyền bí hơn cả rừng già Phi Châu, quyến rũ như một hình ảnh thần tiên, mộng ảo. Và bởi vì nàng chưa từng sống ở Ba Lê ngày nào, cho nên nàng chỉ được biết Ba Lê qua một vài trang sách, qua dăm bảy mẫu người. Chẳng hạn như cuộc sống của những chính trị gia, của những nhà đại sứ, y phục chỉnh tề, bước nhẹ trên những sân gỗ đánh si trơn láng trong những phòng khánh tiết dát gương quanh tường, bên những chiếc bàn tiệc dài phủ khăn nhung đỏ. Đấy là nơi có những chuyện gạ gẫm, đổi chác, những sợ hãi nấp sau những nụ cười khinh thường đời. Rồi đến cuộc sống của những bà quí phải: các bà, các cô này phần đồng đều võ vàng lả lướt, xanh xao, sống một lối sống khác thường: năm giờ sáng mới vào giường ngủ, bốn giờ chiều mới trở dậy. Dưới bóng các bà, các cô này có những người đàn ông lịch sự, tư cách, chẳng biết có tài cán gì không nhưng quanh năm, suốt tháng chỉ sống để cờ bạc, đi săn, để rồi đến năm vào khoảng bốn mươi tuổi, kết hôn với những cô gái nhà giàu. Trong những tiệm nhẩy, những hàng ăn đêm, dưới ánh sáng huyền ảo của những ngọn bạch lạp, có những nhà văn, nhà thơ, nhà báo cười nói hoặc trầm tư bên những cô đào hát, lớp người này tiêu hoang như những ông Hoàng, họ xài phí một cách ghê gớm tiền tài, tình cảm và cả đến cuộc đời của họ. Đó là những cuộc sống siêu việt, trên tất cả những cái thường tình, những cuộc sống ở giữa đất và trời, mạnh bạo như bão tố.

Ánh chỉ mơ tưởng đến những cuộc đời như thế, còn thì nàng cố tình quên hết những cảnh thực tế khác mà nàng cho là nghèo nàn, gò bó không đáng sống. Trong cơn mê mộng, nàng lẫn lộn tình yêu với sự thèm muốn của xác thịt, nàng lầm những tình cảm cao đẹp của tâm hồn với những sự sung sướng về vật chất. Nàng chỉ thích được yêu đương với những tiếng thở than nức nở, dưới ánh trăng xanh, giữa những căn phòng nhung lụa vàng son, gối chăn thơm phức.

oOo

Mỗi buổi sáng, một chú nhỏ làm tống thơ văn ở nhà bưu điện trong quận đến nhà bà Đốc Bô dọn dẹp chuồng ngựa và thắng ngựa vào xe. Đó là chú mã phu mà bà Bô rất lấy làm bất mãn vì bà thấy chú không được tư cách như những chú mã phu, xà ích tả trong tiểu thuyết. Chú đi guốc gỗ, áo thì thủng năm bảy lỗ.

Để thay thế cái Nụ bị đuổi vì tội hỗn xược với bà chủ, Ánh mướn một đứa ở gái mới mười bốn tuổi và để tâm uốn nắn cho nó trở thành một đứa hầu gái lý tưởng của nàng. Con Nhài, đứa ở mới, là một đứa trẻ mồ côi, mặt mũi ủ dột và ít nói. Nó lại càng ít nói hơn khi được biết rằng chị ở trước nó chỉ vì nói nhiều, lẩm cẩm mà bị bà chủ đuổi. Ánh bắt khoan, bắt nhặt điều gì, con bé cũng vâng dạ, để rồi tự an ủi bằng cách mỗi tối ăn trộm vài cục đường bỏ túi vào giường ngủ nhấm dần, sau khi đã đọc ba kinh Kính Mừng.

Vào những buổi trưa nhàn rỗi, Nhài thường ra đứng trước cửa trò chuyện với dăm anh thợ giặt ủi nhà bên. Bà Bô ở trên lầu, đôi khi ngủ trưa, đôi khi nằm đọc truyện.

Ánh thường bận một chiếc áo bằng voan mỏng, tay rộng. vai bồng, phủ ngoài chiếc áo lót mình cổ tròn có thêu ren. Nàng thắt chiếc giây lưng bằng nhung xanh, và đi một đôi giầy da mỏng mũi cong vút như kiểu giầy của các cung tần Á Rập, Mặc dầu nàng không cấn viết lách gì cả, mà cũng chẳng có ai để viết thư, Ánh cũng vẫn sắm một bộ bàn viết với đủ cả dụng cụ văn phòng, Nàng ra ngồi bàn, soi bóng trong gương, cầm một quyển sách lơ đãng mở ra coi vài dòng, rồi buông sách xuống long, nàng mơ màng thả hồn theo những giấc mộng vẩn vơ, Nàng thèm muốn được làm một chuyến đi về những xứ lạ xa khơi, hoặc là được trở về sống trong tu viện. Nàng vừa mơ được sống ở Ba Lê, vừa chán đời muốn chết cho rảnh chuyện,

Trong lúc đó thì ông Đốc Bô, chồng nàng, vất vả cả ngày trên lưng ngựa, giữa trời mưa tuyết hoặc là mưa bụi bay lạnh giá, mò mẫm, lặn lội đi khắp mọi nơi trong miền. Chàng tới những trang trại hẻo lánh xa xôi nhất, kiên nhẫn nghe người bệnh kêu rên, bạo tay sờ mó lên những ung nhọt, máu mủ không làm cho chàng ghê tởm chút nào. Mỗi buổi chiều, khi trời chạng vạng tối, chàng về tới nhà đã có sẵn một lò lửa hồng ấm áp chờ đợi chàng bên bữa ăn tối thịnh soạn, ngon lành, và một cô vợ trẻ người thơm phưng phức, Bô không hiểu rằng những làn vải mịn trắng tinh may thành quần áo của vợ chàng kia đã làm cho da thịt vợ chàng thơm tho, hay chính là da thịt của nàng đã làm cho quần áo có được cái mùi dễ chịu đến như thế.

Bô càng ngày càng khỏe ra. Mặt mũi chàng tròn trặn, hồng hào, rõ ra là bộ mặt của một ông thầy thuốc theo đúng phép vệ sinh và được thánh cho ăn lộc, Chàng đã tạo được một địa vị vững chắc trong địa phương. Dân miền quê trong vùng thẩy đều có cảm tình với chàng, vì chàng không khinh khỉnh làm cao, hoặc quan trọng hóa vấn đề như nhiều anh lang tây lẩm cẩm khác. Chàng thích trẻ con và tỏ ra có đức tính chịu đựng trẻ con đáng kể. Chàng không la cà ở các quán rượu, không đánh bạc, không hay nói tục hoặc bông đùa quá trớn. Nói tóm lại Bô là một ông thầy thuốc hiếm có mà người ta có thể giao cho săn sóc đến sức khỏe và cơ thể của vợ và con gái họ mà không sợ thiệt hại gì. Chàng nổi tiếng về khoa trị ghẻ cóc và tức ngực. Vì lúc nào cũng bị ảm ảnh sự vô phúc làm chết con bệnh, cho nên Bô thường cho uống thật nhiều thuốc bổ. Nhưng không phải vì vậy mà Bô tỏ ra nhát sợ trước trường hợp giải phẫu cần đến dao kéo. Khi thấy cần phải trích máu bệnh nhân, chàng vẫn khía hăng như chọc tiết bò, còn về mục nhổ răng, thì chàng bạo tay không thể tả.

Để biết những tin tức mới về y tế, Bô cũng đặt mua cả năm tờ báo Sức Khoẻ Trên Hết, một tờ báo mới ra đời mà chàng được người ta gửi giấy quảng cáo đến tận nhà mời mua. Sau mỗi bữa ăn trưa, chàng thường lấy báo ra đọc. Nhưng chỉ năm phút sau, chàng đã chập chờn lim dim cặp mắt lại rồi ngủ khò, tóc sõa trên thành ghế. Nhìn chồng há hốc mồm ra ngủ, Ánh chỉ nhún vai ra cái điều chán nản. Đáng lý ra chồng nàng phải là một người ít nói, ít cười, một người lầm lì thuộc vào hạng người làm việc viết lách, sưu tầm, nghiên cứu thâu đêm, suốt sáng. Nàng muốn tên tuổi của chàng, tức là tên Trần Văn Bô, phải được nổi tiếng, phải được báo chí dư luận nhắc nhở đến luôn luôn, phải được quần chúng biết đến. Nhưng Bô chẳng có một tí tham vọng nào cả. Được sống bình yên như vậy là chàng đã hài lòng quá rồi.

Một ông thầy thuốc ở tỉnh bên, trong một cuộc gặp gỡ, đã nói dăm câu đụng chạm đến chàng trước mặt một vài bệnh nhân. Buổi chiều về nhà, khi Bô kể câu chuyện đó lại cho vợ nghe, nàng giận dữ sỉ vả ông bạn đồng nghiệp nọ của chàng không tiếc lời. Thấy thế, Bô hơi cảm động, chàng hôn nhẹ lên trán vợ, mắt rưng rưng ướt. Nhưng Ánh giận chồng điên lên vì xấu hổ. Nàng bỏ lên lầu, mở toang cửa sổ ra cho gió lạnh lùa vào phòng, nàng cắn răng lẩm bẩm:

– Khốn khổ… Người đâu mà đần độn! Khốn khổ… khốn nạn!!!

Nàng bỏ không chơi đàn nữa. Đàn mà làm gì, ai nghe nàng đàn? Nếu không bao giờ nàng có thể mặc một chiếc áo nhung đen hở ngực, ngồi dạo những ngón tay ngà trên những phím trắng của một cây dương cầm Érard, trong một phòng hòa nhạc chật nức những người thanh lịch, thì nàng tốn công học đàn mà làm gì nhỉ? Nàng bỏ bộ đồ khâu mốc meo trong tủ, cả hộp thuốc vẽ cũng vậy. Nàng chán cả đọc sách. Thế rồi, nàng ngồi rầu rĩ suốt ngày trong phòng, xem củi cháy, tro tàn trong lò sưởi hoặc ngồi âm thầm bên cửa sổ nhìn trời mưa.

Nhất là vào những buổi sáng Chủ nhật! Trời ơi, buồn biết là chừng nào? Ánh thường ngồi ngây người ra nghe những tiếng chuông nhà thờ, buồn bã đổ hồi trên dẫy phố tẻ lặng. Vài con mèo ốm thõng thượt đi lại trên các ống máng, hoặc nằm dài sưởi nắng trên những mái ngói sáng. Gió thổi cuốn bụi bay mờ trên con đường mòn. Xa xa, thỉnh thoảng lại có tiếng chó sủa vọng về.

Mùa Đông lạnh lẽo âm thầm trôi qua. Mỗi buổi sáng, những khung cửa kính bám đầy tuyết trắng. Có khi suốt ngày tuyết không tan. Mới bốn giờ chiều, người ta đã phải thắp đèn.

Những hôm đẹp trời, Ánh ra vườn chơi. Sương đêm còn đọng lại trên các nhánh cây thành những hạt lóng lánh như thủy tinh. Không một tiếng chim kêu, cảnh vật như im lìm say ngủ. Dàn nho phủ rơm nằm ườn như một con rắn ốm. Giữa vườn, bức tượng ông thầy tu đứng đọc sách đã gẫy mất một chân.

Ngày nào cũng vậy, cứ đến giờ ấy, ông thầy giáo ở trước cửa nhà Ánh, long trọng xách cặp đi dậy học, rồi ông cảnh sát đi qua, mũ miện chỉnh tề, tay cầm cây gươm cán bạc. Mỗi ngày hai lần, ba con ngựa của nhà bưu điện lộp cộp dẫn riệu đi uống nước ở bờ ao cuối phố. Thỉnh thoảng, người ta lại nghe thấy tiếng chuông kêu leng keng trên cửa quán rượu gần đấy, và trong những buổi trời nổi gió, có tiếng kẽo kẹt của tấm bảng hiệu treo trên cửa tiệm uốn tóc. Ông chủ tiệm thường hay đứng tễu mặt ra bên cửa kính mà nhìn ra đường, mặt mũi ủ rũ rầu rầu vì vắng khách.

Nhưng Ánh cảm thấy khó chịu nhất là vào những giờ ăn. Trong căn phòng chật hẹp gần nhà bếp giữa bốn tường vôi ám khói, trên nền nhà ướt át, dưới các trần nhà long lở, rỉ nước, Ánh có cảm giác như tất cả những cái gì đắng cay bần bách nhất của cõi đời này đều đã được đặt sắp hàng trước mặt nàng, để bao vây lấy nàng, để bóp nghẹt tâm hồn nàng. Ánh trở nên khó tính, hay bẳn gắt. Nàng nằm ỳ cả ngày ở trong phòng, thỉnh thoảng lại bỏ cơm, uống toàn sữa hoặc là hàng bình nước trà đặc.

Thấy vợ rầu rĩ, xanh xao, vàng vọt ra trông thấy, và nghe nàng than thở về cuộc sống buồn bã ở quận này mãi, Bô cho rằng vợ chàng không hợp với phong thổ địa phương, và quyết định tìm nơi khác để đi lập nghiệp, vì bà Bô cần phải được đổi gió. Sau bốn năm trời sinh sống tại quận Ông Tố, nhất là khi địa vị đã khá vững vàng, vì vợ, ông Đốc Bô phải bỏ ra đi.

Sau một thời gian tìm kiếm khá lâu, Bô được biết rằng ở tỉnh bên có một quận lỵ khá đông đúc đang thiếu thầy thuốc tên là quận Bình Đô. Ông thầy thuốc cũ của địa phương này, một y sĩ người Ba Lan di cư, đã dọn nhà trốn đi đâu mất từ hai tháng nay, Bô lập tức viết thơ hỏi thăm nhà trữ dược viên – tức là ông bán thuốc tây sở tại – để hỏi thăm về các mục nhân số trong quận nhiều ít là bao nhiêu, các thân chủ có được rộng rãi, dễ chịu về tiền nong không v.v… Và trước những câu trả lời rất khả quan, Bô quyết định sẽ dọn nhà, rời quận Ông Tố đi Bình Đô vào khoảng đầu xuân sang năm, nếu bệnh suy nhược của vợ không suy giảm.

Một hôm, trong lúc thu xếp quần áo, tình cờ Ánh chạm tay vào một vật nhọn và bén. Đó là sợi đây thép buộc bó hoa cưới của nàng, Ánh lấy bó hoa ra khỏi ngăn tủ. Những cánh hoa xưa đã úa cong và đầy bụi phủ, mấy sợi bằng sa-tanh đã bạc phếch cả màu. Nàng vứt bó hoa vào lò sưởi.  Nhanh hơn cả một cọng rơm khô, bó hoa phựt cháy trong nháy mắt, rồi chỉ còn là một đống tro tàn.

Vào khoảng tháng Ba năm ấy, khi ông Đốc Bô dọn nhà đi nơi khác, thi bà Bô đã có thai.

(Hết Chương 5)

Share this post