Người Vợ Ngoại Tình (Tiểu Thuyết Phóng Tác – Hoàng Hải Thủy) Chương 6

Người Vợ Ngoại Tình (Tiểu Thuyết Phóng Tác – Hoàng Hải Thủy) Chương 6

NGƯỜI VỢ NGOẠI TÌNH
* Tiểu Thuyết Phóng Tác Hoàng Hải Thủy
* Chiêu Dương xuất bản (Sài Gòn, 1973)
* Nguồn: Blog Hoàng Hải Thủy (https://hoanghaithuy.wordpress.com);
https://vietmessenger.com

* Để đọc những phần đã đăng, xin vào khung Search this site (Tìm Kiếm) và gõ tên tác giả: Hoàng Hải Thủy

PHẦN THỨ HAI
CHƯƠNG 6

Bình Đô là một quận lỵ dân cư trù mật, cách châu thành chừng mười ba cây số, Quận có một bến sông, một cái chợ khá lớn, một ngôi nhà thờ khá to, một cái nghĩa địa khá rộng và những hai nhà hàng ăn. Điều này chứng tỏ là thực khách thường qua lại trên quận này khá nhiều. Đêm đầu tiên khi vợ chồng ông Đốc Bô dọn nhà đến quận này, hai ông bà sẽ phải ăn bữa tối tại nhà hàng Sư Tử Vàng của Bà Ba Bủng.

Sư Tử Vàng là tiệm ăn đông khách nhất ở Bình Đô. Bà Ba Bủng ngoài nghề bán rượu, bán thức ăn và chứa trọ còn kiêm cả nghề vận tải chuyên chở thuê. Chiếc xe song mã cổ lỗ sĩ chở khách chạy đường Bình Đô về tỉnh là xe của bà. Bởi vậy, bao nhiêu hành khách đi xe tới Bình Đô đều là thực khách của Bà Ba hết.

Nhưng nếu kể cửa hàng trông vui mắt nhất quận Bình Đô thì người ta phải kể đến cửa hàng bán thuốc Tây của ông Cả Bài. Tiệm thuốc này ở ngay trước cửa nhà hàng Sư Tử Vàng. Mỗi buổi tối khi ánh đèn trong tiệm đã bật lên, người ta thấy hình dáng cao lớn nghiêm trọng của ông trữ dược viên Cả Bài sừng sững hiện ra giữa những chồng chai lọ đủ sắc đỏ, màu xanh cao nghễu nghện. Trước cửa tiệm một tấm bảng gỗ đập vào mắt người qua đường hai hàng chữ vàng “Hiệu Thuốc Tây Trịnh Văn Bài”. Trên mặt cửa kính, vẫn hai dòng chữ “Hiệu Thuốc Tây Trịnh Văn Bài” ấy lại đập vào mắt người ta một lần nữa, nhưng lần này thì bằng chữ đỏ. Rồi nếu bước chân vào tiệm, người ta còn phải giật gân vì hàng chục dòng chữ “Trịnh Văn Bài Dược Sư” nữa, kẻ lung tung trên khắp các quầy hàng, mặt tủ, với đủ các cỡ chữ và màu sắc. Sau cùng, trong một góc phòng, người ta còn thấy dòng chữ “Phòng Thí Nghiệm” bằng đồng trên một cánh cửa gỗ nhỏ lúc nào cũng đóng kín, và hai chữ “Cấm Vô” to tổ bố gắn ở dưới.

Buổi tối hôm ấy, trong lúc bà Ba Bủng đang bận rộn tíu tít trong bếp – vì ngày mai đã là phiên chợ Quận, khách khứa đông – thì một người đàn ông đẫy đà đẩy cửa bước vào phòng ăn của tiệm Sư Tử Vàng. Người đó là ông Cả Bài, ông trữ dược viên Trịnh Văn Bài.  Ông ta đi đôi giầy vải ra cái điều già lão, mặc áo choàng da đen, đội mũ nỉ che tai, mặt lại hơi điểm mấy nốt rỗ. Ông Cả Bài đi thẳng tới đứng bên lò sưởi hồng. Khuôn mặt hồng hào, phì nộn của ông biểu lộ một niềm yêu đời và vui đời mãnh liệt. Trông ông ta cũng hài lòng và vô tư với cuộc đời chẳng kém gì con chim vẹt của bà Ba Bủng, đang gật gù ngủ một mắt trong chiếc lồng tre treo gần đấy.

Phòng ăn của tiệm Sư Tử Vàng lúc ấy còn vắng tanh, chỉ có dăm bác lái heo đang đánh bi-da, vừa uống rượu, vừa thọc bi, vừa cười nói ầm ỹ. Bà Ba Bủng vừa than phiền vì chuyến xe về chậm, vừa thắc mắc vì bọn lái heo đùa cợt tục tằn, ồn ào, sợ hai ông khách ăn cơm tháng là ông Xếp Phan và thầy Ký Lợi không bằng lòng.

Đúng sáu giờ, ông Xếp Phan bước vào phòng. Ông này là một người gầy gò, dong dỏng cao, vẻ mặt khắc khổ, lầm lì ít nói. Ông ta là nhân viên, phụ trách việc thâu thuế trong Quận. Gọi là Xếp Phan vì trước kia ông ta vốn là Cò Cảnh Sát ở nhà quê. Ông ta sống cô độc, một thân một nhà, không họ hàng, và cũng chẳng thèm giao du với ai hết. Cái thú tiêu khiển duy nhất của ông là chơi chim. Xếp Phan nuôi đủ các thứ chim: bồ câu, họa mi, vẹt, yểng, sáo, khiếu, lồng chim đề lỉnh kỉnh chật cả một sân gác.

Bà Ba Bủng phải ra nói khéo với ba anh lái heo để họ ngừng cuộc chơi bi-da. Trong khi chờ đợi, Xếp Phan cũng đến đứng bên lò sưởi nhưng chẳng nói, chẳng cười với ông Cả Bài được lấy một tiếng. Khi bàn đã dọn xong, Xếp ta đi thẳng tới bàn, lật chiếc mũ cát-két ra treo lên mắc, ngồi xuống ăn.

Ông Cả Bài khẽ chỉ trích thái độ khiếm nhã của Xếp Phan với Bà Ba Bủng bằng một giọng khinh bỉ. Bà này đáp:

– Ấy, cái tính ông ấy vẫn ít nói thế đấy ông ạ, cứ lì lì ra thôi. Tối qua có hai ông thợ may đến ăn, họ kể nhiều chuyện tức cười lộn ruột vậy mà ông ta cứ thản nhỉên như không ấy.

Ông Cả Bài bĩu môi phê bình:

– Hừ… người vô tình cảm, ngu si như gỗ đá. Tôi đã bảo hắn không phải là người trí thức mà lỵ…

Bà Ba Bủng cãi lại:

– Sao ông lại bảo ông ấy là người ngu si? Người ta cũng là người có học thức đấy chứ?

– Học thức à…? Thằng cha đó mà học thức với ai? Có học với bọn cu ly thì có.

Rồi như người căm thù Xếp Phan điều gì, ông Cả Bài gật gù nói tiếp:

– À… Nếu một nhà thương mãi bận trăm công nghìn việc bán buôn, một luật sư thắc mắc với những tình tiết mờ ám, một nhà khoa học, một nhà dược sư mãi lo chuyện cứu nhân độ thế mà thành ra ít nói, lầm lì hay gắt gỏng thì người ta còn hiểu được, chứ một anh thâu thuế hạng bét như hắn ta thì có cái gì quan trọng mà cũng dám lên mặt khinh khỉnh? Nếu người ta ít nói thì ít nhất người ta cũng phải bận suy tưởng một cái gì. Trong những phút trí óc làm việc mạnh như thế, người ta phải đãng trí thì mới đúng. Như tôi đây chẳng hạn, lắm lúc tôi cứ cuống cuồng lên tìm cái bút để viết mấy chữ mà thật trong lúc ấy tôi vẫn dắt cây bút trên mang tai…

Nhưng Bà Ba Bủng không chú ý đến câu nói ba hoa của ông Cả Bài nữa. Bà lắng tai nghe, trong đêm tối, văng vẳng có tiếng bánh sắt chạy lọc cọc trên con đường đá. Rồi chiếc xe ngựa dừng ngay trước cửa nhà hàng Sư Tử Vàng. Ông Cả Bài vội đi theo bà Ba ra cửa. Một vài người trong quận đã túm tụm quanh chiếc xe. Họ tíu tít hỏi thăm tin tức anh Tư Phèo. Tư Phèo là anh mã phu giữ chân chạy xe ngựa cho bà Ba Bủng. Anh cũng là người giữ việc liên lạc, đem thư từ, mua phẩm vật, và phân phát báo chí cho dân khắp cả quận.

Một việc đáng tiếc xảy ra làm cho chuyến xe về muộn: con chó Lili của bà Đốc Bô đã xổng mất trong cánh đồng. Tư Phèo phải dừng xe lại bên lề đường để chạy đi kiếm nó cả giờ đồng hồ vẫn không thấy đâu cả. Bà Bô mất chó tức quá, khóc và kết tội ông Bô lười không chịu ôm chó cho nó xổng mất… Ông Tấn Phát, một nhà bán tạp hóa và vải vóc tơ lụa trong quận cùng đi chuyến xe hôm ấy, đã phải hết lời khuyên giải bà Bô bằng đủ các loại chuyện chó khôn lạc đi mất rồi lại tìm về với chủ sau nhiều năm dài. Ông quả quyết là có một con chó lần mò đi từ Bá Linh, thủ đô Đức Quốc, đã về với chủ ở thủ đô Ba Lê. Ông ta còn kể rằng chính ông thân sinh ra ông, có một con chó bỗng bị lạc từ mười hai năm, một đêm đã nhảy sổ ra mừng ông già trong lúc ổng đi nhậu nhẹt về nhà.

(Hết Chương 6)

Share this post