Những Tên Biệt Kích Cầm Bút (Hồi Ký – Hoàng Hải Thủy) Chương 23 & 24

Những Tên Biệt Kích Cầm Bút (Hồi Ký – Hoàng Hải Thủy) Chương 23 & 24

NHỮNG TÊN BIỆT KÍCH CẦM BÚT
* Hồi Ký Hoàng Hải Thủy
* Làng Văn xuất bản (Canada, 2000)
* Nguồn: Blog Hoàng Hải Thủy (https://hoanghaithuy.wordpress.com)

* Để đọc những phần đã đăng, xin vào khung Search this site (Tìm Kiếm) và gõ tên tác giả: Hoàng Hải Thủy

CHƯƠNG 23

Chúng tôi, bọn văn nghệ sĩ Sài Gòn bại trận, chúng tôi có anh có em. Trong nhục nhã, trong khổ cực, chúng tôi vẫn có nhau, chúng tôi vẫn là những văn nghệ sĩ Sài Gòn. Cảnh “phi cầm, phi thú” hiện ra rõ nhất trong những cái gọi là buổi sinh hoạt tại Hội Văn Nghệ Sĩ Thành Phố Hồ Chí Minh, trụ sở đặt trong tòa nhà có vườn rộng trước 75 là một cơ sở nghe nói là Tình báo của Việt Nam Cộng Hòa, góc đường Trương Minh Giảng, Tú Xương.

Bọn trong Ban Chấp Hành cái gọi là Hội Văn Nghệ, thường là Tổng thư ký Việt Phương, lên Ủy ban Thành phố họp nghe chỉ thị gì đó về phổ biến với các văn nghệ sĩ. Những buổi như thế gọi là buổi sinh hoạt.

Trong những buổi sinh hoạt này bọn trong Ban Chấp Hành Hội ngồi hàng ghế chủ tọa đối diện với hàng ghế của văn nghệ sĩ Sài Gòn. Hai bên ngồi đối mặt với nhau. Hai anh Kỳ Nhông, Kỳ Đà Phạm Trọng Cầu, Trịnh Công Sơn cũng dự buổi sinh hoạt. Hai anh không thể ngồi cùng hàng ghế hay ngồi sau lưng bọn Giải Phóng Miền Nam. Sức mấy chúng nó cho hai anh ngồi chung.

Hai anh không ngồi chung chỗ với bọn chúng tôi, chắc hai anh sợ ngồi với chúng tôi hai anh xấu hổ…

Hai anh ngồi sau đít bọn Văn nghệ Giải phóng đối diện với bọn văn nghệ sĩ Sài Gòn bại trận không được, hai anh không muốn ngồi chung với bọn văn nghệ sĩ Sài Gòn nhục nhã. Dzậy thì trong những buổi họp chia hai phe rõ rệt mặt đối mặt, chính tà hai phái như dzậy hai anh Kỳ Nhông đặt đít ở đâu???

Hai anh ngồi ở hai ghế bên cạnh. Hai anh không ngồi trong phe giải phóng, hai anh cũng không ngồi trong phe Việt Nam Cộng Hòa bại trận.

Dường như Phạm Trọng Cầu – Phạm Trọng: Em ra đi mùa thu, mùa thu không trở lại… – cũng đã được sáng mắt, sáng lòng đôi chút trước cái gọi là xã hội chủ nghĩa do cách mạng vô sản dựng lên vì thấy nó bê bối, bết bát, dơ dáy quá đỗi. Nhiều anh chị nhờ gia đình có tiền cho sang Tây ăn học đớp phải bả xã hội chủ nghĩa, tưởng bở, hung hăng con bọ xít, theo đuôi cộng sản mần “cách mạng”, bị cộng sản cho hộc máu, vỡ mặt khi chúng cướp được chính quyền. Điển hình và đại diện cho giới “phi cầm, phi thú” này là Mợ Dương Quỳnh Hoa. Nghe nói chỉ sau vài mùa kỷ niệm bác Hồ đầu thai, Phạm Trọng đã có vẻ thất vọng. Phạm Trọng có mần lời ca theo điệu nhạc bài Quê Em – Quê em miền Trung du. Đồng quê lúa xanh rờn. Giặc tràn lên cướp phá. Anh về quê cũ. Đi diệt thù giữ quê. Giặc tan đón em về. Lời ca của Phạm Trọng theo nhạc Quê Em có câu mở đầu:

Ba tôi trồng khoai lang
Đào lên thấy khoai mì
Thật là điều phi lý…

Những anh Kỳ Nhông đi theo cộng sản mần “cách mạng xây dựng xã hội chủ nghĩa” tưởng bở: Xã Hội Chủ Nghĩa nhất định phải tốt đẹp hơn xã hội tư sản dân chủ. Mấy ảnh vỡ mộng khi thấy sao nó bẩn quá. Thứ củ có thể ăn được người Bắc gọi là sắn, người Nam gọi là mì hoặc khoai mì. Những chị đi bán rong trong những xóm nghèo thường rao: “Ai khoai lang, khoai mì…” Thứ củ người Nam kêu là củ sắn, người Bắc gọi là củ đậu. Ông bố mấy anh Kỳ Nhông trồng khoai lang, đào lên thấy khoai mì cũng còn là khá, ông nội anh không có trồng khoai lang, khoai mì, ông nội ác ôn của anh trồng người. Các em nhỏ bất hạnh bị đem ra trồng đầu vùi dưới đất, chân chổng lên trời. Ở những cánh đồng cách mạng vô sản ấy, khi đào đất lên người ta không thấy khoai mì, khoai lang chi cả, người ta chỉ thấy có sọ người, có xương người và máu người.

Lo việc mười năm trồng cây
Lo việc trăm năm trồng người.

Câu nói của một Quân Tải Tàu nào ngày xưa, được ghi trong sách Minh Tâm Bảo Giám do ông Đoàn Trung Còn biên soạn. Già Hồ mượn dùng cũng được đi. Nhưng trồng là trồng cây: trồng cây si, trồng đậu, trồng gạch, trồng gì cũng được, “trồng người” nghe sao man rợ quá trời. Những anh cộng sản coi đồng bào như những con vật để họ sai khiến, bóc lột, như những cái cây để họ đem trồng. Những em bé Việt Nam bất hạnh được coi là những khúc măng non:

Em là khúc măng non…
Em chín queo trong nồi cách mạng

và:

Cháu lên ba… Cháu vô mẫu giáo
Cô thương cháu là cháu không khóc nhè…
Không khóc nhè… È é e…
Em vào trường học
Mẹ cha vào nhà máy
Ông bà lo cấy cầy…

Ông bà lo cấy cầy??? Chèng đét théng thèng ơi… Ông bà xã hội chủ nghĩa cho có trẻ lắm cũng phải sáu mươi, bẩy mươi…

Khứa lão lọm cọm sống trong xã hội thối nát tư sản đến tuổi sáu bó là đã bị con cháu cho ngồi chơi xơi nước. Khứa ông buổi sáng nhâm nhi ly trà tầu nếu có tiền, ly nước vối nóng nếu sống giản dị, để móng tay dài, râu ba chòm, tay phe phẩy cái quạt, chống gậy đi chơi, gặp ông bạn cũng khứa lão đánh vài ván cờ tướng, trưa mùa rét ăn cơm uống ly rượu tăm rồi ngáo. Khứa bà trông nom các cháu, giúp con dâu, ngày rằm, mùng một lên chùa lễ Phật, sáng sáng chiều chiều đến nhà thờ cảm ơn và xin ơn Thiên Chúa.

Đấy là đại khái vài hình ảnh, cuộc sống những ông già, bà lão trong xã hội tư sản. Những ông già bà lão trong xã hội vô sản ra đồng làm trâu bò cho đến lúc ngã xuống thở hơi cuối cùng. Trong khi đó thì thi sĩ Đảng Tố Hữu mần thơ diễn tả tấm lòng cao cả của bác Hồ muôn kính, ngàn yêu, ngày đêm bác vẫn mơ mộng làm sao để có:

Sữa tặng em thơ, lụa tặng già

oOo

Trích “Những Tên Biệt Kích Cầm Bút” của Nam Thi – Minh Kiên, trang 82 đến 91:

Thời gian một tuần đã trôi qua. Như thường lệ, sáng hôm ấy, Tư Tuân đến cơ quan từ sáu giờ rưỡi sáng. Còn đúng một tiếng đồng hồ nửa mới đến giờ làm việc, chỉ có các cán bộ trực đêm có mặt. Anh tự nấu nước để pha trà. Đêm qua, anh thức quá khuya để đọc đi đọc lại những bài đăng trên các báo phản động của bọn di tản. Dạo này, trời cuối năm trở lạnh làm những khúc xương của anh đau ê ẩm. Những năm tháng gian khổ trong ngục tù, những trận đòn man rợ của quân thù, những cơn sốt rét kéo dài đã tàn phá sức khỏe của anh như mưa nắng dội lên cội tùng già. Dường như bộ phận nào trong lục phủ, ngũ tạng của anh cũng suy yếu. Anh đã cố gắng chăm chút giữ gìn sức khỏe, thường xuyên luyện tập để có thể tiếp tục đứng vững. Năm mười hai tuổi chưa phải lúc cam chịu tụt về tuyến sau của cuộc sống đang rực lửa.

Vào khoảng hơn một giờ sáng, vợ anh thức giấc dục anh đi ngủ. Thấy anh vẫn chong đèn đọc, chị dậy pha cho anh ly sữa. Chị cũng là cán bộ, có thể hiểu và chia xẻ trách nhiệm nặng nề của chồng, nhưng cũng không thể để cho anh ngã bệnh.

– Này ông, ông tính làm cho mau chết hay sao? Việc gì cũng để đến mai làm tiếp có được không?

Anh cười giả lả:

– Bà lấy cái chết để dọa tôi đấy hả? Tụi mình sống được đến ngày nay là đã lời quá rồi, lẽ ra đã theo ông bà lâu rồi…

– Thôi đừng nói liều ông ơi! Chết thì không ai sợ, nhưng ngã xuống đau thì dừng báo hại vợ con.

– Bà đừng có lo, tôi coi vậy chứ ngon lành lắm, mấy cậu thanh niên theo không kịp đâu – Anh cười làm lành với vợ – Này, vậy chớ bà đã mua thuốc cho tôi chưa?

Chị Tư làm mặt giận:

– Xí, thuốc với thang. Người ta uống thuốc thì phải nghỉ ngơi, chứ làm thí mạng như ông thì uống làm gì. Chừng nào ông xin nghỉ phép năm thì tôi mới mua cho ông uống.

Tư Tuân lặng thinh. Anh không giận vợ – đúng hơn càng thương vợ. Nhưng chính lúc ấy, anh cảm thấy cột xương sống tê buốt. Nó muốn thừa cơ hội để tấn công anh chăng? Bệnh tật, làm thế nào tránh khỏi khi người ta đã ngoài năm mươi với ngần ấy gian truân. Tư Tuân hai mươi năm về trước còn đủ sức mang vác ba lô, vũ khí nặng mấy chục ký lô đi liền mấy ngày không nghỉ. Tư Tuân của tuổi hai mươi đã là một tiền đạo có tiếng của đội bóng tiểu đoàn.

Thấy anh trầm mặc, chị Tư sợ chồng giận, nắm bàn tay chồng thỏ thẻ:

– Thôi khuya rồi, mình đi ngủ đi mai còn đi làm.

Lát sau, Tư Tuân mới nói với vợ:

– Anh bao giờ cũng nghĩ rằng em rất hiểu anh và lo lắng cho anh. Em xem, tụi mình sống, lấy công tác làm vui. Nhiều lúc anh cũng muốn nghỉ vài tuần phép, cũng có lúc muốn xin đi chữa bệnh dài hạn, nhưng anh sợ nhất là sự nhàn rỗi. Vô công rỗi nghề thì buồn bực không gì bằng. Thôi thì cứ làm việc còn hơn. Nói vậy chứ mình đâu có phung phí sức. Nếu em thuốc thang cho anh thì anh còn sống lâu với em và các con chớ đâu đã đến nỗi nào.

Nghe anh nói, chị Tư ứa nước mắt. Chị có tính hay mủi lòng. Thương vợ, anh đã xếp hồ sơ và lên giường ngủ. Đến năm giờ sáng, theo thói quen, anh đã dậy tập thể dục, ăn qua loa mấy chén cơm chiên và đi làm. Khi anh dắt xe ra khỏi nhà, chị chạy theo trao cho anh một lọ thuốc và dặn:

– Em nhờ mấy anh bên Viện Y học dân tộc làm thuốc tễ cho anh đây, nhớ uống năm viên một lần vào lúc nửa buổi sáng và một lần trước bữa cơm trưa nghe.

Giờ đây ngồi ở bàn làm việc, Tư Tuân càng thấy thương vợ. Anh mở cặp lấy lọ thuốc ra, mở nắp đưa lên mũi ngửi. Vị thuốc thơm thơm làm anh sao xuyến.

CHƯƠNG 24

Trích “Những Tên Biệt Kích Cầm Bút“, tiếp theo:

Những hàng chữ trên các tập sách báo phản động vẫn lướt qua mắt anh, chúng thoạt nhòe đi khi anh nghĩ đến vợ và hiện ra những vết đen bẩn thỉu trên mặt giấy trắng chẳng khác gì lũ vi trùng trên tiêu bản đặt dưới ống kính hiển vi. Thật gớm ghiếc. Thế mà Tư Tuân vẫn phải đọc, vẫn phải chép trên giấy những đoạn cần thiết để làm tư liệu.

Nghe ấm nước sôi, Tư Tuân buông cây bút xuống bàn. “Mình cũng chưa hiểu hết chúng” – Anh tự nhủ thầm trong lúc pha trà – “Chúng là thế đấy. Đến lúc này mới nắm được là quá chậm”.

Chén trà đầu tiên buổi sáng làm anh nguôi ngoai đi nỗi bực dọc. Chính lúc đó Kiên Trinh tươi tỉnh bước vào. Tư Tuân lên tiếng chào:

– Trà mới pha đấy. Còn sớm nên mình đang lo phải độc ẩm thì buồn chết. Trà ngon không có bạn hiền không ngon.

– Tôi đoán thế nào anh cũng đến sớm mà!

Trên bàn làm việc của Tư Tuân, cạnh ấm trà mới pha là bao thuốc lá Mai còn nguyên. Tư Tuân không nghiện thuốc, nên Kiên Trinh biết chỉ huy đơn vị dành cho anh.

– Thế nào, nhà nghiên cứu văn học! Tư Tuân thường có lối dùng từ ngữ dí dỏm như thế.

Kiên Trinh kéo ghế ngồi, nhận chén trà của người chỉ huy trao. Anh là thí sinh sắp trả bài, mà người chấm thi vui vẻ này lại rất nghiêm khắc khi ra đề thi. Anh lấy từ trong áo ra một tờ giấy nhỏ có ghi độ mươi dòng và cây bút bi.

– Cậu chưa chuẩn bị xong à? Tư Tuân ngạc nhiên hỏi.

– Tôi sẵn sàng báo cáo. Kiên Trinh giọng nghiêm túc.

– Nghĩa là cậu đã thuộc lòng? Tư Tuân cười. Thế thì tốt. Nào ta bắt đầu đi!

– Xin anh cho biết ta nên bắt đầu từ đâu?

Tư Tuân lại cười:

– Chà, cậu khôn lắm. Cậu nhường cho tôi giao bóng trước để thăm dò chứ gì? Thôi được, cậu lần lượt giới thiệu từng chương của “công trình nghiên cứu văn học” của cậu đi. Trước hết, sau khi nghiên cứu các bài vở đăng trên báo chí của bọn phản động lưu vong, được chúng quảng cáo là do các tác giả trong nước gửi ra, cậu thấy thật giả thế nào, nếu có thật thì khả năng tên nào viết? Hai là nếu có bọn trong nước viết bài thì chúng gửi ra bằng đường nào, làm sao phát hiện các đường dây ấy?

Kiên Trinh dụi điếu thuốc vừa mới đốt vào gạt tàn. Anh nhìn vào tờ giấy trước mặt. Chắc chắn với mười dòng chữ trên đó không thể nào gói gọn nội dung trả lời hai câu hỏi ấy. Tuy thế, Tư Tuân biết rõ người cán bộ dưới quyền mình đã chuẩn bị để giải đáp các vấn đề do anh đặt ra. Nhưng cậu ta vẫn có thói quen chừng nào vấn đề còn phải được bàn cãi thì chưa vội viết thành văn bản báo cáo. Kiên Trinh giải thích rằng viết các báo cáo mà vấn đề chưa được nghiên cứu hoàn chỉnh là động tác thừa. Tư Tuân tán đồng quan điểm ấy và anh cũng đã rất tin vào trí nhớ của đồng chí mình. Đối với anh, trí nhớ tốt là điều kiện bắt buộc của nghề nghiệp. Hàng chục năm làm cán bộ quân báo trong kháng chiến, anh đã có thói quen bắt bộ óc phải ghi nhận tin tức, tài liệu thay cho giấy tờ để bảo đảm an toàn, chỉ khi nào cần gửi báo cáo đi xa anh mới dùng đến chữ nghĩa dầu là với mực bí mật hoặc vi ảnh.

– Xin báo cáo trước với anh, những điều tôi sẽ trình bày chỉ là đánh giá từ những cơ sở chưa có chứng cứ chắc chắn. Tôi đã đọc hai mươi mốt bài ký tên mười bốn tác giả khác nhau. Dựa trên nội dung, cách hành văn, tôi tin rằng ít nhất có mười lăm bài do ít nhất bốn tên từ trong nước gửi ra, nhưng lấy nhiều bút hiệu. Dĩ nhiên không có tên nào dại dột dùng bút hiệu cũ. Cái khó là chỗ đó. Nhưng điều may mắn là văn chương cũng như chữ viết có đặc điểm riêng của người viết. Hình như khoa học hình sự chưa có bô môn xác định văn phong như xác định tự dạng. Tuy thế không phải ai cũng viết văn được. Do đó, số người viết văn không nhiều lắm, nên ta dễ “khoanh” lại.

– Hay lắm – Tư Tuân cười hóm hỉnh – Xem ra cậu có thể là nhà phát minh ra một môn mới trong khoa học điều tra hình sự rồi đấy. Cậu đang giữ bóng tốt đấy, sút đi.

– Trong số 15 bài ấy có hai truyện ngắn, bốn bài thơ, ba bài phóng sự, hai bài nghị luận chính trị, văn học và bốn bài phiếm luận. Tất cả đều là những loại chống cộng “có cỡ” cả. Tôi xin trình bày từng loại dễ “nhận diện” nhất. Đó là loại phiếm luận như bài tựa “Nếu chàng Trương Chi đẹp trai” chắc chắn tác giả của nó trước đây thuộc nhóm “nồi niêu xoong chảo” của báo Hòa Bình do Anh Quân chủ trương. Anh Quân bỏ báo Hòa Bình đem theo cả nhóm này về báo Độc Lập. Hiện nay ở thành phố ta chỉ còn vài ba tên trong cái nhóm đó thôi. Còn những bài ký tên Công tử Hà Đông tôi nghĩ đến Hoàng Hải vì tên này quê quán ở Hà Đông, vốn công tử bột, con thầy Thông phán, cháu ruột quan tri huyện.

– Tạm chấp nhận cách suy luận và “bộ môn xét nghiệm” văn phong của cậu – Tư Tuân suy nghĩ rồi phát biểu – Nếu giả thuyết đó đúng thì vấn đề còn lại là… bắt đối tượng vào lưới nhặt bóng. Nhưng chính sự thành công dễ dàng ấy khiến ta không dễ dàng chấp nhận cách nhìn đơn giản toàn bộ vấn đề. Cậu nghĩ xem đằng sau các tờ báo rẻ tiền ấy là gì? Trong những điều kiện hiện nay, thử hỏi chúng sử dụng loại tay sai nào khác cho những hoạt động chiến tranh tâm lý? Nhiều khi chiến tranh tâm lý chỉ là những thứ hỏa mù để che đậy cho những hoạt động ngầm khác, đành rằng loại kẻ thù này chúng ta đã từng chạm mặt và quá quen thuộc bài bản của chúng: chúng rất “rẻ tiền” nhưng cũng rất xảo quyệt. Bọn trong nước gửi bài, tin, bọn bên ngoài đăng trên báo, tạp chí. Gần đây lại có thêm đài phát thanh của bọn được mệnh danh là “phục quốc” đặt ở biên giới Thái Lan cũng đã léo nhéo phát trên sóng nhiều bài, tin của bọn này. Cứ bên ngoài bọn chúng càng la to, bọn bên trong càng dễ lộ mặt. Việc làm này của chúng nào có khác gì cho “voi đẻ giữa chợ” thì khó nói đến chuyện giấu kín được.

Bọn chúng đánh giá thấp chúng ta chăng? Tư Tuân tự đặt một câu hỏi và liền sau đó anh ta tự trả lời – Chưa hẳn thế. Đánh nhau mấy chục năm, biết rõ nhau quá rồi. Nhưng chúng vẫn chống ta vì hận thù, vì ảo tưởng. Hơn thế nữa, chống cộng là hái ra tiền. Thằng nào cũng có “mánh” riêng. Cái đám Hoàng Cơ Minh, Phạm Văn Liễu lợi dụng chiêu bài “phục quốc” để quyên tiền trong số người Việt di tản và đút vào túi hàng chục triệu đô la của nước ngoài. Trần Tam Tiệp cũng vậy thôi. Có khác nhau chăng là hắn nhân danh hoạt động văn hóa để tổ chức quyên góp và nhận tài trợ của bọn phản động các nước để “cứu tế” văn nghệ sĩ ở trong nước. Giờ đây, nếu nằm im không “lên tiếng” bằng cách này hay cách khác thì moi được tiền của ai, nhất là bọn chủ của chúng cũng chẳng phải bọn ngu ngốc cứ tung tiền mà không thu lại được gì. Đám văn nghệ sĩ phản động còn lại trong nước đối với chúng vẫn còn có tác dụng trong việc gây lung lạc một số quần chúng trong và ngoài nước. Bọn này bị “tóm” ư? Chẳng lỗ lã gì với bọn quan thầy. Thậm chí chúng sẽ vin vào đó để mở chiến dịch vu cáo cộng sản khủng bố tù đầy văn nghệ sĩ. Và đây lại là một cú áp phe mới. Rồi sau đó, chúng tiếp tục tìm cách tạo dựng ra những âm binh mới để tác động, hòng gây tình hình không ổn định thường xuyên cho ta. Tôi nói thủ đoạn của chúng “rẻ tiền” vì hai lẽ: một là nó ít tốn kém mà có hiệu quả, hai là nó không có gì mới lạ. Song đó cũng chính là sự xảo quyệt của kẻ thù. Liên hệ thực tế vụ án này cậu nghĩ thế nào?

– Thú thật với anh, khi khoan lại diện đối tượng như đã trình bày và cho anh em rà lại để xác minh đánh giá của mình, tôi cảm thấy thất vọng vì đã có những cơ sở bước đầu cho thấy giả thiết của tôi có khả năng là hiện thực. Tôi thất vọng vì cái mà anh gọi là thành công dễ dàng và sự “rẻ tiền” của đối thủ mình. Còn điều thứ hai mà anh gợi ý, quả thật tôi chưa nghĩ đến.

– Đừng vội thất vọng, anh bạn trẻ. Hãy đi vào vấn đề cụ thể này là làm thế nào chúng có thể gửi đều đặn các bài viết ra ngoài? Hẳn có đường dây ổn định. Nghĩa là có một tổ chức hẳn hoi, một thứ “tòa soạn tại chỗ” để đặt hàng và trả tiền cho bọn bồi bút đó. Cái tòa soạn bí mật đó là đối thủ trực tiếp của chúng ta. Cậu có tin tức gì chưa? Nếu chưa có thì tính toán để có lời giải tiếp theo“.

oOo

Tư Tuân làm việc không biết mệt mỏi, làm ngày, làm đêm. Mần việc đến một, hai giờ đêm, ngáo đến năm giờ sáng mà đã mò dậy tập thể dục và “ăn qua loa mấy chén cơm chiên…” Mèn ơi, cơm chiên mà đảng viên ta chỉ đớp qua loa mỗi sáng có mấy chén thôi. Cơm chiên mà đảng viên ta buổi sáng đớp qua loa được những mấy chén thì dù không có ưa cộng sản đến mấy, ta cũng phải nhận đảng viên đớp khỏe quá. Đảng viên có thể đau bất cứ bệnh gì, song chắc chắn không phải là đau dạ dày.

Khi anh dắt xe ra khỏi nhà chị chạy theo trao cho anh lọ thuốc và dặn:

– Em nhờ mấy anh bên Viện Y học dân tộc làm thuốc tễ cho anh đây, nhớ uống năm viên một lần vào lúc nửa buổi sáng và một lần trước bữa cơm trưa nghe.

Giờ đây ngồi ở bàn làm việc, Tư Tuân càng thấy thương vợ. Anh mở cặp lấy lọ thuốc ra, mở nắp đưa lên mũi ngửi. Vị thuốc thơm thơm làm anh sao xuyến“.

Ta nói “nửa đêm” nhưng chẳng ai nói “nửa buổi sáng”. Ta nói “giữa buổi sáng” hay chín, mười giờ sáng. Riêng Cớm cộng vợ dặn chồng uống thuốc vào lúc “nửa buổi sáng”. Nhưng thôi, nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ ấy. Ta nên nói đến thứ thuốc tễ đặc bịt mà Cớm Tư Tuân, trong lúc ngồi lên phương án truy tầm tung tích và tóm bọn Biệt Kích Thành Hồ, đưa lên mũi ngửi và thấy thơm thơm.

(Hết Chương 24)

Share this post