Phiên Bản Tình Yêu (Tiểu Thuyết – Vũ Biện Điền) Chương 100

Phiên Bản Tình Yêu (Tiểu Thuyết – Vũ Biện Điền) Chương 100

PHIÊN BẢN TÌNH YÊU
* Tiểu Thuyết VŨ BIỆN ĐIỀN
* Tác phẩm của một nhà văn trong nước
* Tủ Sách Tiếng Quê Hương xuất bản lần thứ nhất tại Virginia, Hoa Kỳ, 2012

* Để đọc những phần đã đăng, xin vào khung Search this site (Tìm Kiếm) và gõ tên tác giả: Vũ Biện Điền

CHƯƠNG 100
– Z.39
Búa trời lớn nhưng xa, búa nhà nhỏ mà gần.

Vào giai đoạn cấp tập lắp đặt máy móc thiết bị, có khi cả tháng tôi ở bên nhà máy Chế Biến Ván Lạng và cận kề với Henry Thompson.

Giờ ăn, bọn Tây riêng một bàn, nhưng ta thì ba bậc, một bàn dành riêng cho hai nhân viên thông dịch của bộ (Sau này tôi biết họ là công an chìm), một bàn dành riêng cho giám đốc Huỳnh Lộc, những bàn còn lại ở ngôi nhà dài kế cận dành chung cho toàn thể cán bộ công nhân viên nhà máy. Tôi thường bê chén đũa qua đó và chọn góc ngoài cùng. Một bữa, vừa hối hả xới cơm vào chén tôi thấy Henry Thompson bước vào đưa mắt tìm kiếm. Mấy giây sau anh ta tiến về phía tôi.

– Pierre Fourier và Werner Von Merkel về Pháp, tao ăn một mình buồn lắm, hãy qua bên kia đi! Anh ta mời, đưa tay chỉ hướng.

Tôi lắc đầu từ chối.

– Sao vậy?

Thấy tôi dứt khoát thẳng thừng, anh ta chưng hửng, ngờ ngợ.

– Rất khó giải thích, khách mới tới không hiểu được đâu!  Tôi nói.

Anh ta vẫn khẩn khoản. Mọi ánh mắt trong nhà ăn tập thể đổ dồn vào hai chúng tôi.

– Bây giờ thì không thể, xong bữa, tao sẽ qua uống cà phê với mày!

Tôi nói và bắt tay Henry Thompson. Anh ta vui vẻ quay đi, tôi cúi mặt ăn. Loáng một cái, nhà bàn tập thể vắng hoe, tôi ngồi một mình, tỉ mẩn xỉa răng, phì phèo điếu thuốc rê, cố ý kéo dài thời gian. Thế mà khi qua tới, tôi thấy Henry Thompson vẫn nhẩn nha ở bàn, dao nĩa trong tay, khăn ăn đắp ngực.

– Người Việt Nam chúng mày ăn nhanh mà làm chậm!

Tôi vừa ngồi vào ghế, anh ta hóm hỉnh nhận xét.

– Ăn nhanh vì phải tranh thủ khẩu phần thiếu hụt, làm chậm vì cơ bắp thiếu dinh dưỡng dự phòng!

Biết không giấu được, tôi hoạch toẹt, ý tứ tránh không dùng từ hư ăn, gourmand, và lè phè, languissant, tự kiềm chế không ta thán vì anh ta mà trưa nay tôi mất phéng một chén cơm.

– Sơ lược cho tao biết thực đơn hằng ngày bên đó? Anh ta muốn tôi cụ thể.

– Có gì đâu, ba chén cơm lưng, một dĩa rau muống luộc hoặc xào, chút nước mắm hoặc nước muối pha màu, và một tô nước lã nêm tí vị tinh!

Tôi nói, rất khó khăn tìm từ. Henry Thompson kinh ngạc, căng tròn đôi mắt màu xanh da trời.

– Ăn như thế đã bao lâu rồi? Anh ta hỏi.

– Mười lăm năm! Tôi nói.

– Có ai chết không? Anh ta căng mắt, hỏi với vẻ vừa thương xót vừa háo hức.

– Không! Tôi quả quyết, nhìn xuống thân thể cường tráng của mình.

– Thật tuyệt vời! Nhân dân mày thật tuyệt vời!

Anh ta tung hô, đưa cả hai tay về phía trước, hất ngược mái tóc màu vàng hoe về phía sau. Tôi hiểu thâm ý của Henry Thompson. “Mặc xác tao, đồ xạo!” Tôi mắng thầm, cúi mặt, muốn khóc. Rồi để lảng tránh, tôi vói bao Craven “A” ở chiếc bàn nhỏ bên cạnh, châm lửa.

 – Thế lương tháng của mày bao nhiêu? Anh ta lại móc máy, nghi ngờ chúng tôi dè sẻn cái ăn để tích lũy của tiền mua đất, xây nhà, sắm xe.

– Ba mươi sáu Việt Nam đồng! Tôi nói ngay.

– Chắc không? Anh ta hăm hở khai thác.

– Không việc gì tao bịa đặt! Tôi mở ví, lục tìm bằng chứng, anh ta liền gạt đi.

– Tao muốn phanh phui tí đỉnh vì thế này, chúng ta đồng đẳng chức năng và nghề nghiệp. Tao, kỹ sư cơ khí, mày, kỹ sư canh nông, nghề nào xã hội cũng cần cả! Henry Thomson xoay con dao ăn đang cầm trong tay trở cán lăm lăm vào tôi. – Thế mà lương tao ba ngàn sáu trăm, còn mày, ba mươi sáu, chỉ bằng một phần trăm của tao! Anh ta cười khần khật, rất dể ngươi.

 – Có gì đâu, vì tao là người Việt Nam đang sống trong thiên đường xã hội chủ nghĩa, hưởng thụ đặc quyền nhân dân làm chủ. Còn mày là người Anh, đang sống trong địa ngục tư bản chủ nghĩa, và đang chịu sự bóc lột của bọn tư sản! Tôi ngắt lời Henry Thompson, vừa tếu mình vừa lỡm người.

– Vậy mày có thích được người ta bóc lột như tao không? Anh ta đáp trả, cười hô hố, nhô cao hai vai.

– Đừng hòng thuê mướn thằng này làm cu-li nha, chưa bao giờ tao có ý định vượt biên! Hiểu ý anh ta, tôi đón đầu chận họng.

– Ngày còn ở Anh quốc, tao nghe nói Việt Nam anh hùng lắm! Henry Thompson len lách hướng khác.

 – Thì anh hùng chứ sao! Không anh hùng làm sao đánh thắng Mỹ, người anh cả đồng minh của mày?

Tôi quật lại.

– Nhưng qua đây tao mới rõ xã hội chủ nghĩa của bọn mày làm bằng cao su non. Anh hùng của bọn mày làm bằng da thuộc! Ánh mắt anh ta như chụp lấy tôi.

 – Chẳng có gì lạ, đó là quy luật của mọi dân tộc vừa thoát khỏi chiến tranh! Tôi chống chế.

– Cùng dưới bom đạn của Mỹ, Việt Nam của mày là đất nước thắng trận còn Nhật Bản trước đây là đất nước bại trận…

Thoạt nghe, tôi gật đầu. Anh ta nói tiếp:

 – Thế mà mười lăm năm sau, người ta vươn lên cường quốc kinh tế thứ hai thế giới! Hào khí của dân tộc mày để đâu, trí tuệ của dân tộc mày để đâu, thắng trận mà lụn bại thế a? Anh ta hạ thủ.

Một cú đấm vòng, đang ngang ngửa tôi không ngờ mình bị đo ván quá dễ dàng. Và đòn hiểm này như bị nội gián phản phé từ thuở cha ông! Xấu hổ, tôi đứng bật dậy, vứt điếu thuốc hút dở, lao ra cửa.

– I am sorry!

Nghe Henry Thompson kêu lên nhưng tôi không ngoái lui. Buổi chiều, đầu giờ anh ta tìm gặp tôi, xin lỗi lần nữa vì quá thẳng thắn đã vô tình xúc phạm.

oOo

Chừng nửa năm, một hôm tôi đang làm việc cùng Pierre Fourier, cũng với tư cách nhân viên chi viện đơn vị bạn, Huỳnh Lộc cho gọi gặp riêng tôi.

– Anh có muốn làm việc tại nhà máy Chế Biến Ván Lạng này không? Tôi vừa ngồi xuống ghế, ông ta hỏi.

– Cám ơn, em hiểu thiện chí của thủ trưởng nhưng không có ý kiến! Sau mấy giây đắn đo, tôi nói. – Đó là chuyện của hai cơ quan và của hai thủ trưởng, với em chỉ có chấp hành! Đề phòng, tôi bọc lót.

Mời tôi một chén trà thơm, một điếu ba số 5, ông rời bàn đi lẩn thẩn quanh phòng, vẻ mặt đăm chiêu.

 – Không phải sáng kiến của tôi mà là gợi ý của đồng chí vụ trưởng, và tháng trước Henry Thompson cũng đề xuất như vậy! Ông nói thêm để động viên tôi.

– Thưa ông giám đốc, chuyện ấy nhỏ nhặt nhưng không dễ đâu ạ! Bỗng cảm thấy sợ, tôi đứng dậy nói.

 – Vì sao? Ông ta dừng ngay trước mặt tôi.

– Nhà máy Chế Biến Ván Lạng của trung ương, xí nghiệp em đang công tác của địa phương, búa trời lớn nhưng xa, không bằng búa nhà nhỏ mà gần! Tôi nói.

– Cái khó không phải chỗ đó, Võ Văn Cang và tôi thời kháng chiến chống Pháp từng ở cùng đơn vị, từng chiến đấu sát cánh bên nhau…

Ông nhíu mày, vói tay mở cửa sổ. Vẫn còn thòm thèm, tôi tự rót tách trà thứ hai và uống cạn. Vị chát ngọt lan khắp cổ họng, mùi hương phảng phất trong từng hơi thở. Tổng giám đốc Huỳnh Lộc trở lại ghế.

Ngay lúc ấy, có lẽ nhờ trà ngon kích thích khai mở trí tuệ, tôi chợt nghĩ đây là cơ may trăm năm có một.

– Thưa đồng chí giám đốc, dù ở bên này hay bên kia, bao giờ nhà máy có nhu cầu và được thủ trưởng xí nghiệp cho phép, em hứa đem hết nhiệt tình và khả năng phục vụ! Thấy cần bạo dạn hơn, tôi tranh thủ. – Nhưng để yên tâm công tác tốt, xin giám đốc cho vợ em một chỗ làm loại lao động phổ thông ở mức lương thấp nhất! Nói đến đó, tôi chợt im, hồi hộp, chờ đợi.

– Anh chịu qua bên này, không những vợ mà con anh đến tuổi tôi cũng thu tất. Ông nói.

– Vậy tùy tổng giám đốc sớm liệu giúp cho!

Phấn khởi, tôi xuôi theo.

Tối đó, trong bữa cơm, tôi thuật lại cho Mơ nghe và dặn phải kín tiếng. Chúng tôi hy vọng, nao nức đến nỗi mãi khuya không ngủ được. Tuần sau, tôi đang thông dịch cho kỹ sư Henry Thompson – lúc này là đại diện thường trú của tập đoàn, đặc trách chỉ đạo xây dựng cơ bản hiện trường – một cú điện thoại của phòng tổ chức xí nghiệp gọi tôi về gấp. Bước qua cửa, chưa kịp ngồi vào ghế, Võ Kế chìa ra trước mặt tôi tờ lệnh chuyển đổi công tác, qua đó, ngày mai tôi phải có mặt tại bãi kho tập kết gỗ bi cách biên giới Campuchia chẳng bao xa. Đọc xong, tôi điếng lặng. Không rõ cuộc gặp gỡ của hai thủ trưởng diễn ra thế nào, nhưng quả thật giám đốc Huỳnh Lộc thương mà hại tôi, còn giám đốc Võ Văn Cang vốn ghét tôi, muốn đào mà đổ cho khuất mắt.

Có nên cầu cứu giám đốc Huỳnh Lộc? Có nên xin gặp và thanh minh với giám đốc Võ Văn Cang? Ngẫm nghĩ một lúc, tôi ký nhận và xin phép về nhà sửa soạn để kịp lên đường. Nghe tin chồng đột ngột công tác xa, Mơ ôm con ngồi khóc. Không lấy thì khuấy cho hôi. Tôi thầm nghĩ. Thâm độc cỡ ấy, Võ Văn Cang sẽ hả hê xiết bao khi nghe tin tôi tự ý bỏ việc. Cái bẫy đã giăng, muốn sống tôi phải khổ nhục len lách. Im lặng lên đường, tôi không có một lời giải thích với vợ.

Bãi kho là nơi tập hợp trung chuyển nhiều nguồn khai thác gỗ, một con đường độc đạo oằn lượn ngang qua, bao quanh toàn rừng già và núi cao chót vót. Ở đây ngày ngắn nhưng đêm dài khủng khiếp, sương mù suốt năm, nắng như ở tầng cao, mặt đất lúc nào cũng ẩm lạnh. Trong căn lều gỗ xiêu vẹo, ngoài tôi còn có Ma Ngát, một bộ đội phục viên người sắc tộc Djarai. Nhiệm vụ của Ma Ngát là bảo vệ lâm trường. Anh ta có súng và được chỉ thị mỗi khi nổ phải bắn đúng bốn viên để tránh tai vạ lúc hầu tòa. Khó mà xác định tuổi tác Ma Ngát vì anh ta đen đúa, râu tóc bờm xờm, tròng mắt nhiều gân máu li ti, lại thêm biết rất ít tiếng Kinh. Vì thế hết thảy công việc tôi phải đảm tất, thủ kho, kế toán, thống kê, vật tư… Nghe rất oai nhưng toàn quyền rơm vạ đá, kiêm nhiệm không có phụ cấp kèm theo. Buổi sáng, tôi chờ xe tải ben lên, giao gỗ. Buổi chiều tôi chờ xe lôi bồi về, nhập gỗ. Lâu lâu có bọn kiểm lâm ghé lại lên gân hoạnh họe. Thấy tôi khờ khạo, có đứa thương tình dạy khôn bày mánh kiếm chác để chung chi. Vài ba tuần, mấy tay thợ rừng mặt bủng da chì ngang qua, đôi khi nghỉ lại một đêm. Họ là con cưng – mũi tiêm kích – của xí nghiệp, nên bổng lộc khá cao. Họ thường cho chúng tôi ít lương khô và rượu đế, nhưng tôi rất ngại những bệnh tật mà họ mang theo. Người tiền nhiệm của tôi là một thanh niên độc thân, con trai một sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa tù cải tạo chưa về, trụ được ba năm với bệnh sốt rét kinh niên nhưng bất đắc kỳ tử vì bị gỗ đè.

Trong hoàn cảnh nghiệt ngã, tôi bàn với Ma Ngát tự lực cánh sinh. Chúng tôi trồng hoa mầu bất cứ nơi đâu có thể bới xới, một đám sắn, mươi vồng khoai, mấy luống cà… Anh ta còn xuống suối bắt cá, rắn, tắc kè, cua đá… Tuy không bao nhiêu nhưng góp phần dinh dưỡng mỗi bữa ăn. Ma Ngát thích hun khói và làm mắm tất cả những gì vớ được, còn tôi, chỉ biết món kho mặn. Dần dà, tôi quen mùi các món ăn của người Djarai, kể cả mắm nhét trong ống tre hôi như cóc chết và cả vị nữa, như món cà da ếch thui đắng đến quéo lưỡi. Tằn tiện như thế, tôi hy vọng góp phần nuôi sống vợ con. Lương hàng tháng tôi ủy quyền cho Mơ lãnh, mỗi kỳ trích ra chút đỉnh mua muối gởi lên. Để bớt lạnh, sẵn củi chúng tôi đốt lửa suốt ngày thâu đêm. Để bớt trống vắng, chúng tôi học tiếng của nhau. Để bớt nhớ thương vợ con, chúng tôi bày cách kể chuyện. Hơn một năm ở bãi kho, sức khỏe tôi giảm sút, ba lần kiết lị, hai lần cảm nặng nhưng chưa có biểu hiện triệu chứng sốt rét.

 Nhiều đêm nằm nghe gió gào, tôi nghĩ đến bỏ việc nhưng chưa bao giờ dám hở hé cho ai hay. Tôi tự hỏi, không có mình, giám đốc Huỳnh Lộc sẽ giải thích thế nào với Henry Thompson. Rồi tôi tự hỏi biết đến bao giờ giám đốc Võ Văn Cang mới hồi tâm.

Tôi lại tự hỏi liệu mình có nên tiếp tục phấn đấu nữa không. Theo bài bản của ông Hà Thúc Lâm, tôi đã cố sống đời kỳ nhông. Nhưng có được gì đâu! Vì sao? Sâu xa, do tôi là kỳ nhông lai, không khéo đổi màu!

(Hết Chương 100)

Share this post