Phiên Bản Tình Yêu (Tiểu Thuyết – Vũ Biện Điền) Chương 101

Phiên Bản Tình Yêu (Tiểu Thuyết – Vũ Biện Điền) Chương 101

PHIÊN BẢN TÌNH YÊU
* Tiểu Thuyết VŨ BIỆN ĐIỀN
* Tác phẩm của một nhà văn trong nước
* Tủ Sách Tiếng Quê Hương xuất bản lần thứ nhất tại Virginia, Hoa Kỳ, 2012

* Để đọc những phần đã đăng, xin vào khung Search this site (Tìm Kiếm) và gõ tên tác giả: Vũ Biện Điền

CHƯƠNG 101
– Z.40
Một nét ngang tình cờ. Gia đình đoàn tụ.

Một buổi trưa tôi đang chờ thư vợ và muối, một người quen mặt nhưng không biết tên từ buồng xe tải bước xuống tự giới thiệu và cho tôi hay anh ta lên thay tôi.

– Đừng có đùa! Buồn bực, thắc thỏm, tôi cáu gắt.

Anh ta rút túi trưng ra quyết định của giám đốc Võ Văn Cang. Vẫn chưa hết nghi ngờ, tôi hỏi tài xế, anh ta xác nhận có nghe ai đó nói như thế. Tôi đọc thư vợ, Mơ chỉ báo tin mẹ lên thăm đang ở cùng cháu. Cô ta còn xúi dại tôi tìm cách chuồn về nhà vài hôm. Sau khi bàn giao sổ sách cho người mới, tôi gọi Ma Ngát vào trại.

– Từ nay của tôi là của anh, hãy quản lấy mà ăn.

Tôi nói, chỉ tay về đám đất trồng trọt hoa mầu. Ma Ngát gật đầu chớp mắt liên tục, tự tay cuốn mời tôi điếu thuốc bằng lá cải rừng giã nát sấy khô.

– Không rõ họa phúc thế nào, nhưng tôi không thể không chấp hành! Tôi nói thêm.

Ma Ngát ôm chầm lấy tôi một lúc, râu tóc anh ta tua tủa xát vào mặt tôi như cái bàn chà. Của nả chẳng có gì ngoài chiếc ba lô con cóc, xe sạc gỗ xong, tôi theo về ngay, mừng lo lẫn lộn, hoang mang. Biết đâu có một sự nhầm lẫn? Dọc đường, tôi khai thác tài xế chẳng thu được gì thêm. Có thể Võ Văn Cang sắp đi phó hội, cần người thông dịch và nhớ đến tôi? Có thể chuyện trù dập tôi đến tai giám đốc Huỳnh Lộc và ông ta đã ra tay cứu vớt? Dù gì Huỳnh Lộc cũng là cán bộ trung ương cử vào. Cũng có thể lần này Võ Văn Cang vừa nghe ai đâm thọc, gọi tôi về nhận quyết định sa thải? Nghĩ đến trường hợp kỹ sư Đỗ Minh trước đây tôi cảm thấy mình đang mỗi bước cận kề vực thẳm.

Bốn giờ chiều xe về đến xí nghiệp, tôi leo rào chạy bộ băng qua khu nhà tập thể. Mẹ là người tôi nhận ra đầu tiên, vừa quét xong vuông sân bà vội quay vào nhà. Khi tôi vượt qua đám sắn, bà trở lại hiên với một người đàn ông mặc quân phục màu cứt ngựa, mày rậm, tóc hoa râm, bộ dạng chững chạc khỏe mạnh. Tôi khựng lại, đưa mắt ngầm hỏi mẹ, ông ta cũng đứng sững nhìn ra. Phía sau, lấp ló vợ và con trai tôi, cả hai đều háo hức nhưng không ai dám vượt lên. Vợ mới cưới của Lê Viết Kỳ từ xí nghiệp về ngang cũng chững lại nghe ngóng. Mẹ bước xuống sân, đứng giữa người đàn ông lạ và tôi.

– Cha con đó!

Bà nói, giọng khô khao như đuối hơi. Tôi run, chiếc ba lô tuột khỏi vai lúc nào không hay. Buổi chiều se lạnh, cây cỏ bạc màu xuôi xuội như muốn lả theo tôi. Toàn khu tập thể, mọi ánh mắt đều nhắm tới, mọi vành tai đều giỏng lên. Và những đám mây trắng lơ lửng trên cao cũng sừng sững ngỡ ngàng.

– Sao đến bây giờ cha mới tìm về? Sau một lúc im lặng, rưng rưng tôi nói.

– Đó là một câu chuyện dài…

Ông bước xuống, ôm lấy tôi, rờ rẫm dọc sống lưng. Đúng là một câu chuyện dài lê thê theo chiều lịch sử khổ đau của dân tộc, nhưng tôi gặp cha giản đơn như một nét ngắt ngang tình cờ. Mẹ vừa khóc vừa đẩy hai cha con vào nhà, thằng bé ì ạch kéo lê chiếc ba lô qua cửa.

Tắm rửa xong, tôi chạy quanh khu tập thể hỏi vay mượn thực phẩm, nhưng chỉ xin được Phạm Khánh tí dầu ăn và Lê Viết Kỳ gói nhỏ vị tinh, rồi vào bếp vừa hỏi chuyện vừa phụ giúp vợ.

– Đột ngột quá, em không biết phải xoay xở làm sao! Sau khi kể lại những gì diễn ra từ trưa hôm qua, thời điểm cha mẹ tôi tìm tới, Mơ than.

– Ba bữa ăn vừa rồi chỉ có cá khô mục, mắm cua đồng với rau dại hái quanh rào giậu! Tủi thân nghèo khó, xấu hổ ở bạc với cha mẹ chồng, Mơ khóc.

– Thế con gà mái chị Ma Ngát cho đã đẻ chưa?

Chợt nghĩ tới món chả trứng sang trọng, tôi hỏi.

– Chưa! Mơ nói, cắm cúi xới cơm.

– Em tiếc gì mà không bắt làm thịt đãi cha mẹ?

Tôi xúi vợ, hai tay không ngừng lặt rau.

– Còn đâu nữa! Chị ấy sai con mang tới tuần trước, tuần sau đã có đứa nẫng mất! Mơ nói, đẩy qua tôi một hũ chao lỏng lúc nhúc giòi và khóc to hơn.

– Mất thì thôi! Nó ăn thì mình nhịn, chớ để ông bà nghe thấy! Tôi nhắc, lén nhìn lên phía trước.

Mơ dùng tay áo quẹt nước mũi.

– Hồi hôm không đủ giường chiếu, chỉ mạ ngủ ở nhà, còn cha nghe nói xin lên nghỉ nhờ ở nhà khách của tỉnh. Không biết người ta có bắt trả tiền không? Mơ lo.

– Trả là cái chắc! Tôi nói thầm trách cha xài sang.

– Anh qua bên thím Nụ, cầm tạm chiếc xe đạp, cuối tháng lãnh lương mình lấy lại!  Mơ đề nghị.

– Dễ thôi! Nhưng sau đó, anh về trại, mẹ con em biết lấy chi mà ăn? Tôi nói. Mơ im lăng, cúi mặt.

Khi tôi mang nước lên pha trà, cha tôi ngồi trên chiếc giường gỗ tạp sát cửa sổ đăm đăm nhìn trời. Mẹ tôi cùng cháu tỉ mẩn vá lại chiếc mùng cũ. Có tiếng nấc nghẹn tức tưởi, tôi nghi Mơ bí bức, buồn tình lại khóc. Đặt bình trà xuống, tôi muốn quày lui chái bếp dỗ vợ.

– Anh về xí nghiệp đã bao lâu?

Cha tôi khoát tay bảo ngồi xuống và hỏi.

 – Dạ, hơn mười năm! Tôi thưa.

– Có bao giờ phạm kỷ luật? Ông hỏi tiếp.

– Dạ, không! Tôi cứ tình thật.

– Đã vào đảng?

Ông hỏi nhìn thẳng vào mắt tôi. Câu hỏi này, ở hoàn cảnh tôi rất khó trả lời! Với Lê Huy thì rồi, với Lê Huy Phong thì chưa. Đoàn viên từ hồi còn ở trường đại học Nông Lâm, hai đợt được xếp đối tượng đảng nhưng khi kết nạp lãnh đạo cứ động viên phấn đấu hơn nữa. Suy đi tính lại, tôi cứ bện vào hiện tại mà thưa.

– Thế trong lý lịch, về phần cha, anh khai thế nào?

Ông hỏi. Mẹ tôi ngừng khâu, giả bộ nhìn ra sân.

 – Hồi bị địch bắt, con khai cha chết. Sau mùa xuân đại thắng, con khai cha tham gia kháng chiến thời chống Pháp, quãng kế tiếp thì bỏ trống vì sợ khai man, lãnh đạo thường chấm không biết bao nhiêu dấu hỏi vào đó! Tôi nói.

 – Trước khi bỏ nhà ra đi, cô anh không nói gì à?

Cha tôi hỏi.

– Dạo đó con đang học ở Huế! Tôi nói.

Mẹ tôi muốn lên tiếng rồi ngồi im, ôm cứng chéo mùng, thờ thẫn nhìn trần nhà.

– Nghe Mơ nói trước đây anh được biệt phái sang thông dịch bên nhà máy Ván Lạng? Cha tôi hỏi.

– Dạ có! Tôi nói.

– Lúc nhàn rỗi mấy thằng Tây có léng phéng chuyện gì không? Cha tôi hỏi.

– Chính trị thì không, nhưng vặt vãnh cơm áo gạo tiền thì có!  Tôi nói.

Mẹ tôi cau mặt, cuộn tròn chiếc mùng đặt lên đầu giường. Mơ lau sạch khoảng trống nền giữa nhà, dọn cơm ra. Thằng Cu giành chỗ ngồi giữa ông bà, trông nó sung sướng tràn mặt. Cha tôi chỉ ăn chiếu lệ rồi trở lại giường uống trà, hút thuốc Điện Biên. Mơ nhớn nhác nhìn theo, lo lắng vì bữa ăn quá đơn sơ đạm bạc.

Trời vừa chạng vạng, một chiếc xe con len lỏi vào khu tập thể đón cha mẹ tôi về nhà khách của tỉnh. Tôi không rõ anh bộ đội cặp kè xắc-cốt theo xe có vai trò gì nhưng rất ân cần, thận trọng từng lời ăn tiếng nói. Mẹ tôi nhất quyết không đi, cha bảo tôi theo. Nghĩ đến khoản chi phí tăng gấp đôi, tôi ngần ngại. Hiểu ý, anh bộ đội nói khẽ vào tai Mơ, cô ta mạnh dạn thúc hối tôi theo cha.

Cuối thu, không khí Tây Nguyên khô lạnh. Xe vào thành phố, ngang qua ủy ban tỉnh một đoạn rồi dừng lại. Ngỡ ngàng, tôi bám sát cha từng bước. Lên hết hai cầu thang bộ, dừng lại ngưỡng cửa một gian phòng vừa được mở ra, tôi bàng hoàng. Từ cuộc sống trong cái ổ chó tồi tàn hôi hám, tôi bỗng thành người khách ở chốn quyền quí cao sang. Khi cảm giác ngờm ngợp ban đầu lắng xuống, tôi nhận ra mình có chút hả hê, tuy vẫn dè chừng. Của đâu tiền đó, đằng nào cũng phải è cổ mà trả thôi! Ánh sáng và cách bài trí khiến tôi hơi lóa, ngoài mùng màn, chăn nệm trắng muốt, ngoài trà Tàu, rượu Mỹ, bánh Thái thơm nức, còn có cả tủ lạnh, ti vi, máy điều hòa nhiệt độ, bình nước tắm đun bằng nhiệt điện. Sang cỡ này, chí ít cũng mất đứt nửa năm lương của tôi! Một đời một lần, không lẽ bắt cha gánh. Tài sản duy nhất đáng giá của vợ chồng tôi là chiếc xe đạp, có bán đi cũng chẳng được bao lăm. Không biết giám đốc Võ Văn Cang có chịu ứng trước cho không? Từ băn khoăn, giờ thì tôi thật sự lo lắng.

Sau khi đứng nghiêm nghe cha tôi dặn bảo một số việc, anh bộ đội tháp tùng rút lui sang phòng kế cận. Cha chỉ cho tôi chiếc giường trong cùng, sát cửa sổ. Có lẽ đây là chỗ nghỉ dành cho mẹ tôi. Chẳng phải giữ gìn ý tứ, tôi nằm ngay lên giường. Tới đâu hay đó, tôi liều mạng hưởng cái khoái cảm từ chăn ấm nệm êm. Cha tôi vào toa-lét một lúc. Khi trở lại, ông bảo tôi đến ngồi vào chiếc ghế đối diện và bắt đầu gợi mở lộ trình để theo đó tôi nói về sinh hoạt bản thân, gia đình, dòng họ qua những ngày ông thoát ly đi làm cách mạng. Yêu cầu không khó nhưng thiếu chuẩn bị, và thời gian không cho phép, tôi chỉ nhớ đâu nói đó. Cha tôi rất bằng lòng thành tích tôi tạo được ở bậc tiểu học và trung học. Tôi nói tới những ngày mẹ làm lụng vất vả nuôi bà nuôi cháu dưới vòm lửa đạn, vẫn cho con ra Huế theo lên đại học, cha tôi cau mặt thoáng buồn. Tôi nói tới cuộc kỳ ngộ với Cẩm Khuê trong tiệm sách, mối tình trong sáng của chúng tôi, hai lần được ngồi mạn đàm thế sự với Hồ giáo sư, cha tôi ngước nhìn lên, chớp mắt xúc động.

Nhưng khi nghe tôi bãi khóa xuống đường, tham gia biệt động nội thành, bí mật lên bưng về phố, theo học khóa đặc công ngắn hạn, nhận nhiệm vụ mở mặt trận văn hóa trong lòng đô thị địch, âm mưu đánh cầu và bất thành, ông đập tay xuống bàn đứng bật dậy. Tôi hốt hoảng nhìn theo. Tì một tay vào cửa sổ, cha run bắn như đang chịu đựng một cơn đau. Thế mà tôi cứ tưởng ông sẽ hãnh diện có một đứa con từ trong tăm tối lần theo con đường cha mình đã chọn. Tôi nói tới giây phút chia tay với Cẩm Khuê ở nhà xác và cô ta thề căm hận tôi cho tới ngày nhân loại xóa sạch Cộng Sản trên mặt đất, cha tôi rủ xuống tựa tay lên bậc cửa, run rẩy thầm thì. Tôi nói tới trên đường đào tẩu, bị sa lưới, được Bửu Dương, đại úy an ninh quân đội Việt Nam Cộng Hòa cứu thoát, cha tôi liền hỏi hiện nay anh ấy đang ở đâu. Bối rối, tôi ngủng nghỉnh lừng khừng. Cha tôi tặc lưỡi, có vẻ tiếc thầm rất khó hiểu. Tôi liền cho hay sau khi đi tù cải tạo về một thời gian, anh ta vượt biên và bị bắn chìm tàu khi chưa ra tới hải phận quốc tế. Cha tôi xoay lưng, như muốn tránh hướng mắt tôi nhìn tới. Tôi bắt sang những ngày trốn tránh, gặp dì Ngâu ở Vân Thê, sự đùm bọc nuôi dưỡng của ông bà Phan Ne ở làng Thanh Thủy và tình yêu của Mơ… Cha tôi lặng lẽ khóc.

Chi tiết mà tôi cố cài đặt sâu đậm vào đầu cha là đoạn dì Ngâu cho hay vì ai mà mẹ tôi phải xuống đò ca hát rồi mang tai mang tiếng thất thân với kẻ thù. Tôi nói bà nội hết lòng yêu thương mẹ nhưng cô quá coi trọng gia phong mà thiếu cảm thông. Không hóa giải được bất hòa giữa con dâu và con gái, bà đã suy sụp, ốm đau liên miên. Tình tiết mà tôi cố giấu vì tự thân cảm thấy quá oái ăm và cực kỳ xấu hổ, là đoạn ông Phan Ne khổ công lên núi xuống đồng kêu xin lãnh đạo đón tôi về an toàn khu nhưng bị từ chối, còn buộc tôi bí mật quay về thành phố hoàn thành nhiệm vụ mới để khẳng định quan điểm lập trường.

Mười hai giờ đêm, phục vụ nhà khách mang bữa ăn khuya vào, cha tôi đã bình thường trở lại. Nhân đó tôi hỏi về cuộc đời của ông. Đang ăn, cha tôi ngừng lại, tôi cảm thấy mình bất nhẫn. Nhưng nếu không bương tới, không mạnh dạn thu nhặt, tôi biết lấy gì lấp đầy khoảng trống bao năm nay trong lý lịch mà lãnh đạo cấp nào cũng bảo có vấn đề. Xét về mặt tình, đây là kêu xin bức thiết. Xét về mặt lý, đây là đòi hỏi tất nhiên. Công bằng mà nói, nếu cha tảng lờ hoặc không thành thật, tôi coi là thiếu trách nhiệm. Thấy cha mãi im lặng, tôi thầm nghĩ biết đâu ông còn nghi ngại. Và chỉ mới manh nha có thế, tôi đã nghe đau.

Cuối bữa, tôi tinh tế gợi lại, cha tôi đành phải lên tiếng. Và cũng như tôi trước đó, ông không theo thứ tự thời gian. Tập trung lắng nghe, tôi tìm cách nối kết những mảng rời rạc, phục chế chân dung và hành tung cha mình. Trên đường đày ra Côn Đảo, nhân khi tàu dừng lại rước khách và lấy nước ở ga Truồi, cha được tổ chức giúp đỡ trốn thoát, đưa lên chiến khu Nam Đông [phía tây Trường Sơn] an dưỡng, sau đó chuyển về trung đoàn Trần Cao Vân [tiền thân của trung đoàn 101] với chức chính trị viên đại đội. Giai đoạn này ông dự nhiều trận đánh nhỏ ở địa bàn các huyện, lâu lâu nhận được thư của cô tôi, kèm theo một ít thuốc men và lương khô. Khi hiệp định Genève ký kết, ông đang đóng quân ở Nam Lào, được lệnh tập kết ra Bắc. Năm 66, cha tôi trở lại chiến trường miền Nam với chức vụ trung đoàn phó. Sau đợt yểm trợ huyện đội làm cỏ một chi khu địch, đơn vị ông từ chiến trường Tu Mơ Rông, Kontum chuyển vào miền Đông Nam Bộ. Đợt tổng tiến công Mậu Thân 68, vào tới Xuân Lộc, trung đoàn trưởng tử trận, ông được chỉ định thay thế, cầm cự nửa tháng rồi địch phản công đẩy lui. Mùa hè đỏ lửa năm 72, sư đoàn của ông đánh và chiếm giữ phần lãnh thổ phía đông bắc Tây Ninh. Chiến dịch Hồ Chí Minh, đơn vị của ông là một mũi nhọn đánh vào Sài Gòn. Hiện ông là sĩ quan cấp tướng, phó chủ nhiệm cục. Tôi mù mờ về cấu trúc bộ máy quân đội nhân dân, cha tôi cũng không nói rõ cơ quan mình công tác. Không sao, vì ngay lúc ấy và cả về sau tôi chưa bao giờ có ý định thư từ hay lần mò đến một nơi như thế.

Đó là nhiệm vụ đối với tổ quốc, còn gia đình, cha tôi thú thật đã âm thầm oán hận mẹ tôi. Thư nào cô tôi cũng đơm đặt mẹ sống đời lăng loàn và khuyên cha nên quên người vợ đã làm bại hoại gia phong. Những liều thuốc độc ấy ngấm kết sâu đậm vào ruột gan ông. Khi trở lại miền Nam, cha tôi nhận được tin em gái tôi đã chết trong một đợt càn quét của địch. Nhiều đợt tìm kiếm cô tôi, nhưng mãi đến giờ ông vẫn không rõ em gái mình xiêu lạc nơi nào.

Sau 1975, một lần dừng chân ở Huế, có người cho hay mẹ tôi đã tái giá, theo chồng di tản ra nước ngoài mang cả tôi theo. Tuy không chặt chẽ, bằng cách đối chứng, tôi cũng xác định cha tôi tục huyền vào khoảng năm 65, người vợ sau này là sĩ quan văn công và có với cha tôi hai người con gái, đang sống ở Hà Nội.

Sự trùng phùng có được hôm nay là tình cờ trên đường công tác biên phòng, ông ngang qua vùng đất Thường Đức năm xưa, ghé lại nhà từ đường và thăm viếng một số bà con họ tộc. Cha gặp lại mẹ với vô vàn ăn năn. Bà không một lời oán hận, chỉ mong ông ngó ngàng tới giọt máu của mình.

(Hết Chương 101)

Share this post