Phiên Bản Tình Yêu (Tiểu Thuyết – Vũ Biện Điền) Chương 102

Phiên Bản Tình Yêu (Tiểu Thuyết – Vũ Biện Điền) Chương 102

PHIÊN BẢN TÌNH YÊU
* Tiểu Thuyết VŨ BIỆN ĐIỀN
* Tác phẩm của một nhà văn trong nước
* Tủ Sách Tiếng Quê Hương xuất bản lần thứ nhất tại Virginia, Hoa Kỳ, 2012

* Để đọc những phần đã đăng, xin vào khung Search this site (Tìm Kiếm) và gõ tên tác giả: Vũ Biện Điền

CHƯƠNG 102
– Z.41
Con chiên ghẻ trở lại bầy đàn. Nỗi lòng sâu kín của cha

Giường êm nệm ấm, tôi không ngủ được. Sáng dậy, sau khi điểm tâm, cha bảo lên xe và đưa tôi đến một nơi có thành dài bao bọc, có công an gác cổng, ra vào phải xuất trình giấy tờ. Ủy viên trung ương kiêm bí thư tỉnh ủy, người tiền nhiệm của Nguyễn Thanh Cưỡng, đích thân đón cha tôi. Họ ôm nhau thắm thiết như anh em, nói năng bỗ bã như bạn bè cùng trang lứa.

– Đây là con trai tớ!

Cha ân cần giới thiệu tôi với bí thư. Đang trong bỡ ngỡ, tôi chỉ biết cúi chào. Bí thư tỉnh ủy vồ vập bắt tay, đẩy tôi ngồi xuống chiếc ghế bên cạnh mình.

– Đứa con trai duy nhất mù mịt trong lửa đạn hơn ba mươi năm! Cha tôi xúc động nói tiếp. – Rồi cháu sẽ kể cho bác nghe vì sao cha con ly cách dằng dặc đến thế. Hôm nay tìm gặp, may mắn ở ngay địa bàn thuộc quyền lãnh đạo của đồng chí, tớ rất mừng và an tâm!

Bí thư hỏi tên họ tôi và cơ quan đang công tác, ghi vào cuốn sổ nhỏ có sẵn trên bàn làm việc.

 – Không còn gì phải lo lắng nữa, hãy tin tưởng!

Bí thư hứa với cha tôi rồi dặn riêng tôi:

– Từ nay tết nhất, lễ lạc hãy đến chung vui với chú, nhớ đưa cả vợ con theo cho thím biết mặt!

Vừa lúc ấy, phó bí thư Nguyễn Thanh Cưỡng bước vào, bí thư giới thiệu cha tôi và không quên giới thiệu cả tôi kèm theo mấy lời vắn tắt nói về nỗi bất hạnh của một đứa con mà đáng ra đảng và nhà nước phải có trách nhiệm quan tâm từ lâu. Thêm người thêm vui, bí thư gọi phục vụ mang rượu tới, nâng ly chúc nhau sức khỏe, nói cười rôm rả. Hai vị nhắc lại những ngày ra Bắc vào Nam, những chiến dịch gian khổ, những trận ác chiến. Tôi lắng nghe, tiếp thu ngắt quãng do những thổn thức chợt đến thoắt đi. Nguyễn Thanh Cưỡng tuy đồng sàng nhưng ý tứ giữ phận em út, ăn nói nhỏ nhẹ, lâu lâu mới thêm thắt góp ý đưa đẩy. Đến chừng hút xong điếu thuốc, cha tôi nói lời cám ơn vì đã được đón tiếp ân cần và giúp đỡ tận tình, xin kiếu từ. Bí thư đưa tiễn đến tận bãi xe, hứa từ nay sẽ quan tâm chăm sóc vợ chồng tôi với trách nhiệm của một người cha.

Khi về lại nhà khách, tôi nôn nao hỏi cha:

– Khi lớn lên con nghe kể lại, vâng theo trăng trối của ông, bà quyết tâm nuôi ba ăn học. Thời ấy, công chức nhà nước, lương bổng thông phán, không phải ai muốn cũng với tới. Đang lúc nghề nghiệp ổn định, vợ đẹp con ngoan, sao ba nỡ coi nhẹ hạnh phúc gia đình?

– Vẫn biết sẽ có ngày vợ con vì lầm than mà hận chồng oán cha, nhưng thế hệ chúng tôi sinh ra đã nước mất nhà tan, không ai chấp nhận sống đời nô lệ. Thời ấy gặp bất kỳ tổ chức nào kêu gọi chống ngoại xâm giành độc lập dân tộc thì chúng tôi theo. Tôi gia nhập Việt Minh, một tổ chức do Nguyễn Ái Quốc thành lập không ngoài thỏa mãn khát khao ấy (*). Giải Phóng Quân là danh nghĩa đầu tiên đích thực của chúng tôi. Thực dân Pháp là kẻ thù bất đội trời chung của chúng tôi. Bảo vệ tổ quốc và giải phóng nhân dân khỏi ách thống trị của ngoại bang là mệnh lệnh tối thượng và nhiệm vụ cao cả của chúng tôi! Cha tôi khẳng định.

(*) Việt Minh là tên viết tắt của Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội, khởi đầu là một tổ chức chính trị–vũ trang với mục đích đứng về phía Đồng Minh (Mỹ–Nga–Pháp–Anh–Hoa) chống Phát–Xít (Đức–Ý-Nhật), giành độc lập cho Việt Nam. Việt Minh được thành lập ngày 19 tháng 5 năm 1941, bởi Nguyễn Ái Quốc (Tên gọi này được lấy lại từ tên gọi của một tổ chức chính trị chống đế quốc của người Việt Nam, được Hồ Học Lãm thành lập năm 1936 ở Nam Kinh, Trung Quốc). Trong cuộc chiến chống Pháp, Mặt Trận Việt Minh là một chiêu bài do những người Cộng Sản dựng nên nhằm thu hút, lợi dụng sức người sức của của tất cả những ai không Cộng Sản.

– Vậy vô sản chuyên chính và đấu tranh giai cấp để đâu? Tôi chen vào khi cha tôi mồi thuốc.

– Đó là chuyện về sau, tuy có hơi ngỡ ngàng vì lợi dụng mà cưỡng áp…

Cha tôi bỏ lửng, thở dài, rót trà ra tách, bộ tịch đăm chiêu. Sao ông ngập ngừng? Có gì ẩn tàng? Tôi suy đoán. Phải chăng là cái bẫy cài đặt dưới lá cờ tổ quốc? Phất cao hai ngọn cờ, cờ tổ quốc sắm sau phất trước, cờ đảng sắm trước phất sau, cái xoáy đảo tráo trở, cha không nói được với con? Cái hố đen giữa hai thế hệ là khoảng câm lặng ngoắt ngoéo này đây. Tôi muốn thốc thẳng tới nhưng ngại cha đau lòng.

– Mười năm kháng chiến chống Pháp, thu nửa giang sơn, thế hệ của ba đã với tới mục đích?

Tôi lái cuộc trò chuyện sang hướng khác.

– Không! Cha tôi khẳng định.

Như vấp đá ngầm, tôi thảng thốt gượng hỏi tiếp:

– Thế hai mươi năm kháng chiến chống Mỹ, thu cả giang sơn?

– Cũng không! Cha tôi lại khẳng định.

Cú vấp trước chưa hoàn hồn, cú vấp sau khiến tôi điếng lặng. Vậy là mở được hướng nhưng vẫn không tách được dòng. Tôi nhận định. Cha tôi quá cao ngạo hay phải giới hạn với con? Tôi phân vân.

– Vậy là quá tham lam?

Đã lỡ, tôi lao luôn vào cánh cửa hé mở.

 – Bao nhiêu xương máu đổ ra, quân thù đã cuốn cờ về nước, nhưng độc lập vẫn mịt mù, không hoàn thành nhiệm vụ dân tộc giao phó, làm sao người Giải Phóng Quân yên ổn?

Cha tôi thú nhận. Liền sau đó, ông đứng thẳng dậy. Như phát hiện bất ổn, ông đảo mắt khắp phòng. Tôi cũng nhìn theo nhưng tứ bề phẳng lặng. Hình như cha tôi vừa thấy những tiện nghi bao quanh đáng quan ngại. Dùng dằng một lúc, ông tiến về phía cửa, khoát tay làm hiệu bảo tôi theo ra. Lạ? Mỗi bước cầu thang, mắt ông khó đăm đăm.

Ngang qua vườn hoa, tôi muốn lên tiếng, cha tôi phớt lờ, bước nhanh xuống đường.

– Vậy độc lập dân tộc ở đâu? Đến một ngã tư, thấy cha bình ổn, tôi bạo dạn trở lại vấn đề.

– Sau 1954, cả sau 1975, người ở thế hệ chúng tôi ấn tượng nhất là tướng Trần Độ, đã hai lần tự hỏi như thế, và mãi đến hôm nay hiện thực lịch sử mới trả lời!

Quàng vai tôi như đôi bạn, ông run giọng.

– Thực dân Pháp đoạt lấy độc lập dân tộc của nhân dân ta từ tay Tự Đức, ba vua Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân quyết tâm đòi lại nhưng sớm thất bại, bị truất ngôi và lưu đày biệt xứ. Năm 1945, thực dân Pháp ở Đông Dương gục ngã trước họng súng Phát Xít, độc lập dân tộc của ta tự dưng sang tay Nhật, nhưng chúng chưa kịp mang về Tokyo thì Minh Trị thiên hoàng đầu hàng vô điều kiện đồng minh Mỹ-Nga-Anh-Pháp-Hoa. Hồ Chí Minh thừa cơ đảo chính cướp được một ít, phân làm hai, một nửa đem báo công bên Matcơva, thủ đô Nga, một nửa đem thế chấp bên Bắc Kinh, thủ đô Tàu. Qua năm 1946, Hồ Chí Minh bỏ Hà Nội chạy lên Tây Bắc, Bảo Đại nhặt được một ít, nhưng bị Pháp lừa phỉnh trấn lột mang về Paris, thủ đô Pháp. Chín năm sau, Ngô Đình Diệm sai em là Ngô Đình Luyện lén giật đem ký gởi bên Washington, thủ đô Mỹ…

Cha tôi đứng lặng như phi lóa nắng. Thì ra, giấc mơ độc lập suốt ba mươi năm máu lửa của một dân tộc nhược tiểu chỉ là trò chơi bong bóng của ngoại bang!

– Thế Chủ Nghĩa Xã Hội là gì? Đưa cha vào bóng âm của một cổ thụ, tôi hỏi luôn.

– Huyễn hoặc! Cha tôi lại ghé sát vào tai tôi.

– Thế a? Tôi kinh hoàng.

– Có ai biết nó là gì đâu! Cha tôi khẳng định.

Thấy tôi thộn mặt, ông nói thêm:

– Mù mờ hết thảy nhưng cứ to mồm huênh hoang. Ở Đức, Marx gào theo kiểu Marx, Engels gào theo kiểu Engels. Ở Nga, Lénine gào theo kiểu Lénine, Staline gào theo kiểu Staline, Trotsky gào theo kiểu Trotsky, Krouchtchev gào theo kiểu Krouchtchev, Breznev gào theo kiểu Breznev… Sang Trung Quốc, Mao gào theo kiểu Mao, Chu gào theo kiểu Chu, Lâm gào theo kiểu Lâm, Lưu gào theo kiểu Lưu, Hoa gào theo kiểu Hoa, Đặng gào theo kiểu Đặng…

– Thế Việt Nam ta? Đã lỡ, tôi thốc tới.

– Anh nào thờ Nga Xô, gào theo kiểu công nhân đói, chị nào thờ Trung Quốc, gào theo kiểu nông dân rách. Bất cứ ở đâu, tất cả đều được cài mớm căm thù giai cấp, khai thác triệt để cái nhân chi sơ tính bản ác của con người, đặc biệt con người đang sa cơ thất thế, tâm tư thui chột vì mặc cảm thấp hèn, dục vọng bí bức vì thiếu cơm thiếu áo…

Cha e ngại nhìn từng lùm cây quanh gốc cổ thụ, rồi khoát tay bảo tôi mặc nắng gió, đi thôi.

– Vậy bao năm qua, là Giải Phóng Quân, ba gào theo kiểu nào? Tôi bạo dạn hơn nữa.

– Gào thuội!

Cha tôi nói rồi cười, vừa hóm hỉnh vừa thẹn thùng. Tưởng cha đùa, tôi hóng mặt cười theo. Nhưng ngay sau đó, ánh mắt ông trở nên u tối.

– Gào thuội là gào theo đám đông, bất luận đúng sai, hay dở, sau đó thì quên ngay.

– Sao vậy? Tôi lại ngớ ngẩn ngắt lời cha.

– Trước âm mưu, thủ đoạn và bạo lực, phải gào để che chắn, để bảo vệ cái mạng sống của mình, rồi sau đó tùy cơ ứng biến!

Ông giải thích. Ngang qua một quán cà phê, tôi có ý mời vào nhưng cha ra hiệu đi luôn và yêu cầu không nên gián đoạn đề tài.

– Còn ở miền Nam… Phút cởi mở, bất chợt tôi quay về mình. – … Không biết có thuội hay không, con cũng gào khi xuống đường, khi lên bưng, khi gài kíp thuốc nổ. Nhưng sau 1975, không thấy gì theo về như mình hằng mơ ước! Tôi thú nhận.

 – Thế anh nghĩ những người như chúng tôi đã thấy gì hả? Ông gắt như bị hiểu nhầm ích kỷ hưởng lấy sung sướng một mình.

– Đương nhiên! Tôi nói, nhìn thẳng vào mắt ông.

– Không! Không có gì, kể cả khi Nam tiến, kể cả khi đột kích Buôn Ma Thuột, kể cả khi thu tóm Huế, kể cả khi đánh vào Sài Gòn! Cha tôi khẳng định.

Một lần nữa, tôi lén nhìn cha.

– Thì ra…

Tôi muốn kêu lên cho hết thẩy thiên hạ cùng nghe.

 – Chín năm nhân danh kháng chiến chống Pháp, đêm đêm du kích lùng sục hô hoán Việt gian chém giết làng trên xóm dưới. Hai mươi năm nhân danh chống Mỹ, triền miên khủng bố, dàn dựng đấu tố từ nông thôn tới thành thị và tàn sát nhân dân sau mỗi đợt tổng tiến công. Mười lăm năm nhân danh cải tạo tư tưởng, cải tạo công thương, lập nhà tù từ Nam chí Bắc, ba lần đổi tiền, cướp sạch, vét sạch, phá sạch… Tất cả, chỉ là vận hành đui mù, hoang tưởng gào thét nhắm tới cái tiêu ảo!

Tôi rùng mình.

Trong cảm giác ghê lạnh rờn rợn thịt da, tôi chợt nhận ra nỗi lòng sâu kín của cha dành cho mình.

(Hết Chương 102)

Share this post