Phiên Bản Tình Yêu (Tiểu Thuyết – Vũ Biện Điền) Chương 106

Phiên Bản Tình Yêu (Tiểu Thuyết – Vũ Biện Điền) Chương 106

PHIÊN BẢN TÌNH YÊU
* Tiểu Thuyết VŨ BIỆN ĐIỀN
* Tác phẩm của một nhà văn trong nước
* Tủ Sách Tiếng Quê Hương xuất bản lần thứ nhất tại Virginia, Hoa Kỳ, 2012

* Để đọc những phần đã đăng, xin vào khung Search this site (Tìm Kiếm) và gõ tên tác giả: Vũ Biện Điền

CHƯƠNG 106
– Z.45
Ngoan cố. Ngụy biện. Nghịch lý. Gào thuội theo cách của cha. Tranh thủ theo cách của mình.

Một chiều, giờ tan tầm, tôi nhận được điện của Mơ hẹn gặp ở nhà hàng đặc sản Cao Nguyên. – Em đã đặt bàn rồi, anh nhớ hí! Cô ta dặn thêm. Đương nhiên tôi nhớ nhưng yêu cầu Mơ gọi điện cho Liên bảo đi cùng thằng bé đến đó. Tôi muốn có một bữa tối gia đình bên ngoài để thay đổi không khí.

– Không nên, chỉ hai ta thôi! Mơ nhất quyết. – Em đã gọi báo cho con và chị Liên!

Chuyện gì? Tôi chững lại lúc ra nhà xe.

Khi đến nơi, một bữa ăn đơn giản đã bày sẵn ở một phòng tận lầu năm, nơi đây khách ít lên tới.

– Bấy lâu anh có theo dõi tình trạng lạm phát của đồng bạc Việt Nam không?

Tôi vừa ngồi vào chiếc ghế đối diện, Mơ hỏi ngay. Thì ra không phải bàn chuyện đưa con đi du học ở Mỹ.

 – Có! Tôi nói, vẫn ngờ ngợ.

– Bao nhiêu phần trăm? Mơ hỏi tiếp.

– Theo các đài BBC, VOA, RFI, năm qua khoảng một ngàn bảy trăm phần trăm. Tôi nói.

– Điều đó có nghĩa mười bảy đồng đầu năm giá trị còn lại bằng một đồng cuối năm?

Mơ diễn dịch theo cách nôm na của mình, tôi gật đầu xác nhận. Cô ta nói tiếp:

– Một đồng đó cộng với lãi 0,10%, khi đáo hạn ta phải hoàn trả ngân hàng cả cái lẫn con là 1,001 đồng.

Phép tính giản đơn, tôi gật đầu. Mơ kết luận:

– Vậy cứ vay mười bảy đồng, sau một năm, cộng vào trừ ra ta sẽ kiếm được một giá trị 15,999 đồng.

 – Đương nhiên!

Bài toán dạng sơ cấp, tôi cũng gật đầu. Đề tài bất ngờ thu hút, tôi quên đang trong bữa ăn, quên luôn cả chuyện con cái, hăng say nhập cuộc.

– Em nên nhớ tiền trong tài khoản, tiền gởi ngân hàng của mình cũng mất giá như thế! Tôi cảnh báo.

– Anh quên có một thứ cũng chịu quy luật ấy nhưng giá trị biến động không đáng kể? Mơ cười cười.

– Ngoại tệ mạnh, như đồng đô chẳng hạn! Tôi nói.

– Không, vàng! Mơ nói.

Đồng đô còn tùy thuộc Mỹ, nhưng vàng là kim bản vị tự do. Nó vượt qua tất cả quy định và biên giới, bất chấp mọi thế lực thống trị kể cả độc tài. Chưa biết vợ hướng tới đâu, nhưng nghe ra mỗi lúc một hào hứng.

– Hiện nay các công ty con đang hoạt động cầm chừng do thiếu vốn mua sắm máy móc thiết bị, không dám nhập hàng và nguyên vật liệu dự phòng. Đầu vào vì thế không theo kịp đầu ra! Anh hãy gọi các vị giám đốc đến và báo họ hay tổng công ty sẽ tăng vốn đầu tư cho các vệ tinh bằng quỹ tín dụng ngân hàng, đương nhiên họ sẽ biết ơn, hân hoan đón nhận. Không phải chúng ta lợi dụng, nhưng vì non gan, họ không mạnh dạn và không thấy sâu bằng ta. Bài bản chuyên chính cổ hủ còn trong bộ nhớ, thế nào năm tới trung ương cũng xuất chiêu đánh tư sản, lạm phát phi mã còn dữ dội hơn nữa, ta và họ sẽ trúng lớn.

Bữa cơm hôm đó, chúng tôi hào hứng, căng thẳng tột độ đến nỗi chẳng biết mình ăn uống những món gì.

Hôm sau, tôi bắt tay vào việc ngay. Tân tổng giám đốc ngân hàng tỉnh là Lưu Vạn Hạnh, tóc rễ tre, da đen như người châu Phi, cao to gân guốc và già mồm. Không biết ông ta học ở đâu và ai dạy mà cuộc họp nào cũng tố cáo âm mưu của bọn phản động cố tình bôi bác đồng bạc Việt Nam, kêu gọi toàn dân đề cao cảnh giác trước luận điệu vô căn cứ của địch.

– Đồng bạc của ta chưa bao giờ lạm phát, nó chỉ mất giá từng vùng!

Ông khẳng định, và hàm ý vùng ta, địa bàn ông giao lưu và quản lý, đồng bạc chưa mất giá. Chuyên môn theo đường cử tuyển, không biết Lưu Vạn Hạnh lấy đâu ra cái lối chế tác: mất giá từng vùng. Vươn theo cái ngu hàm hồ ương bướng ngụy biện ấy, tôi làm đơn xin vay một khoản tín dụng khá lớn và ông ta nhất trí ngay. Chỉ một tuần, hoàn thành thủ tục, chịu thiệt một khoản nhỏ lót đường, tôi rút được nửa tổng số tiền vay bằng tiền mặt, nửa còn lại giải ngân chuyển khoản, chi trả theo hóa đơn mua hàng. Số tiền mặt ấy tôi giao cho Mơ đi các tỉnh thành lân cận chuyển thành vàng. Sau đó đích thân tôi về thành phố Hồ Chí Minh mua sắm một số máy móc thiết bị, yêu cầu hóa đơn khống chỉ. Còn lại một phần tư tiền vay, tôi chuyển theo cách ủy nhiệm chi, thanh toán các khoản thu mua nội tỉnh và chuyển trả lương vào sổ tiết kiệm cho công nhân các công ty con. Các công ty nhờ đó mà phất lên, tiếng lành đồn xa, lãnh đạo tỉnh nở mày nở mặt. Đúng một năm sau, vào thời điểm nợ đáo hạn, Mơ trích ra chừng mười lăm phần trăm số vàng mua vào năm trước chuyển thành tiền mặt đủ chi trả cả vốn lẫn lãi cho ngân hàng. Trong kỳ sơ kết, Lưu Vạn Hạnh không tiếc lời tung hô tổng giám đốc Lê Huy Phong đã giúp ngân hàng tỉnh đạt và vượt chỉ tiêu tín dụng trước thời hạn. Sau vụ này, vợ chồng tôi giảm cân chút đỉnh, nhưng tinh thần phấn chấn hơn bao giờ. Khỏi phải đợi thằng Cu tốt nghiệp phổ thông trung học, chỉ hai lần đi về thành phố Hồ Chí Minh, tuy tốn kém, cuối hè Mơ đã gởi được con sang Mỹ kèm theo thư tay của tôi viết cho người chú họ Lê Hoán và người bạn cũ Trần Xuân Vinh nhờ bảo ban, hướng dẫn cháu.

Người xưa nói họa vô đơn chí. Có một thời, vợ chồng tôi là bằng chứng sống khẳng định châm ngôn ấy, không biết họa từ đâu cứ dồn dập nối đuôi nhau. Người xưa cũng nói phúc bất trùng lai.([1]) Có một thời, vợ chồng tôi là bằng chứng sống phủ định châm ngôn ấy, phúc cũng có khi rộn ràng chung đường chung ngõ. Năm kia bọn lái gỗ ngoại lai ém gỗ bìa rừng biếu không cho Mơ, năm ngoái trúng cái lạm phát phi mã, năm nay Phí Đu gọi tôi lên bày trò nối dáo phủ xanh đồi trọc theo một nghị quyết trung ương. Thoạt nghe, sợ mang vạ tôi muốn lẩn, nhưng Mơ khuyên nên chớp lấy cơ hội.

 – Rừng vàng biển bạc, của ông của cha ngàn năm tích cóp, chúng muốn phá sao ta ngăn, chúng đang kiếm ăn sao ta chịu nhịn thèm! Mơ nói.

Tôi miễn cưỡng tán thành. Liền sau đó, cô ta sắm quà bảo tôi mang đến biếu Lò Thị Ngải, vợ Phí Đu. Bà ta hoan hỷ nhận quà. Nhân lúc chồng vắng nhà, bà ta cù tôi cùng đi picnic không phải hòa mình nơi sơn dã mà chỉ vui chơi ở một khách sạn nhỏ của tỉnh kế cận. Ba hôm sau Mơ đến thăm, một tiếng chị Hai Đa, hai tiếng chị Hai Đa. Vợ Phí Đu là người đẹp giảo hoạt nhưng hảo ngọt, bàn với chồng nên ưu tiên vị trí đất cát thuận lợi cho Mơ, đổi lấy một số ngày công hướng dẫn kỹ thuật trồng cây công nghiệp, vài chục ca xe ủi đất san mặt bằng và mở đường. Sáp nhập bầy đàn rồi, đất và tiền gần như đã có người lo, Mơ cứ nằm nhà nhận bìa đỏ quyền xử dụng và ký giấy vay ngân hàng, không phải đi cửa sau, không phải chìu lòn ai cũng có cả trăm hectas cao su! Vợ Ma Ngát kêu van buồn, nhớ núi nhớ rừng, nhớ cái nhà con heo cái nhà con bò, muốn trở về buôn, anh ta dao động, không yên tâm. Cao su đã vươn tới thắt lưng nhưng còn lâu mới khép tán. Chúng tôi nới rộng nhà kho ở trang trại, cắt cho không Ma Ngát ba hectas, bảo đưa vợ con lên đó ở, vừa trông coi ăn lương tháng vừa trồng hoa mầu phụ và chăn nuôi bò dê. Lâu lâu lên thăm, Mơ còn biếu chị ta áo quần và cá mắm.

Ba năm sau nợ đáo hạn, Mơ rao bán bớt mười lăm hectas cao su vừa vượt quá đầu, trả đủ cả vốn lẫn lãi, còn thừa chút đỉnh, chúng tôi mua sắm máy cày tay, máy cắt cỏ. Vợ chồng con cái Ma Ngát một đời chỉ giỏi phát đốt chọt trỉa, nhờ đó biết cơ khí hóa nông nghiệp thuận lợi như thế nào. Thừa thắng xông lên! Mơ rất khoái cách nói của Hồ chủ tịch, đề nghị tôi lập nông trang riêng cho tổng công ty.

– Chúng ta có kỹ thuật, lao động, vốn liếng, phương tiện, tại sao phải ăn theo người ta? Tôi do dự.

 – Tại sao Hai Đa biết lợi dụng nghị quyết phủ xanh đồi trọc, ta không biết lợi dụng nghị quyết xóa đói giảm nghèo của trung ương? Mơ lại nói.

Tôi làm đơn xin cấp đất với mục đích nâng cao đời sống toàn thể cán bộ công nhân viên tổng công ty, kèm theo luận chứng kinh tế kỹ thuật. Chủ tịch Phạm Tư ký ngay và tỏ ý muốn tôi giúp cho tay công an mặc thường phục ở nhà ông ta chừng năm bảy hectas đất cát ở vùng đó. Tôi vui vẻ nhận lời. Tiếp đến Hai Đa đánh hơi cũng muốn xí phần, rồi cả bí thư Nguyễn Thanh Cưỡng. Tất cả đều lập đồn điền trên bàn giấy, cày xới bằng miệng, gieo trồng bằng bút. Cũng được thôi, tôi cho đó là một thuận lợi, có mất gì của mình đâu! Sau khi san đất, mở đường, phân lô, một cuộc thảo luận rộng lớn mở ra ở tổng công ty. Trồng cây gì? Nuôi con gì? Phương cách của chúng tôi là ngoại công mà nội tư, như mô hình hợp tác của các nước tư bản tiên tiến, tất cả đều tự nguyện, có toàn quyền định đoạt và chịu trách nhiệm trên phần đất của mình. Một số nghiệp chủ trồng tiêu, trồng điều, một số trồng cà phê, một số thí nghiệm ca cao. Đúng như Mơ dự đoán, chẳng bao lâu kế hoạch trở nên hiện thực, đạt thành quả đến độ không ai dám mơ. Brazil và một số nước Nam Mỹ bấy lâu dẫn đầu xuất khẩu cà phê không may bị bão tàn phá, cả thế giới bỗng khan hiếm hàng đắng. Ba năm liên tiếp, Tây Nguyên nói chung và nông trang chúng tôi nói riêng đều được mùa vườn và cả mùa chợ. Coi như đánh bạc với trời đã thắng lớn, các nghiệp chủ thành viên vô cùng phấn khởi. Từ đó vợ chồng tôi trở thành ân nhân của mọi nhà.

Chưa chịu dừng lại, không biết do đâu, Mơ bàn với vợ chồng Lê Viết Kỳ rồi cả ba đều đi Campuchia. Tuần sau họ về, tôi hỏi, Kỳ cho hay bà chị muốn mở chi nhánh qua bên nước bạn. Rồi họ lại đi, lần này có cả phu nhân Nguyễn Thanh Cưỡng. Đầu mùa khô Tây Nguyên, Lê Viết Kỳ đưa gỗ về ém ở bãi kho ngày trước tôi và Ma Ngát từng ở đó. Nghe tin, tôi tự lái xe lên tận nơi và điếng lặng. Không biết đã triệt phá bao nhiêu ngàn hectas rừng nguyên sinh bên đó, một trời gỗ phơi ra bên này, núi đồi không che chắn nổi, hở hang cỡ ấy rất dễ chào mời tai vạ.

 – Anh yên tâm, em làm em chịu!

Thấy tôi bỏ ăn mất ngủ, Mơ nói. Thoáng nghe ngọt xớt nhưng nẫu cả ruột gan, tôi vội cho mở thêm mấy bãi kho trong rừng sâu, làm như gỗ bi khai thác nội địa chờ trung chuyển. Trở lại thành phố, tôi xin gặp bí thư Nguyễn Thanh Cưỡng tại tư thất.

– Anh có biết chị nhà đã phóng tay vượt biên giới?

Dại gì trăm dâu không đổ đầu tằm, tôi đôn lên, quy ngay đầu têu chính phạm là bà ta. Nguyễn Thanh Cưỡng sửng sốt, màu da đã mai mái còn tái hơn nữa.

– Đất trời bên đó là giang sơn bọn quân phiệt, chúng bán cho ai không thằng nào dám ló mặt, nhưng về đến ta, coi chừng trâu cột ghét trâu ăn, thiếu chi tai mắt trung ương ở địa phương mình, lộ liễu như thay quần giữa chợ có mà chết cả đám!

Đợi ông ta lai tỉnh, tôi nói thêm.

– Không phải nhà tôi và cô ấy làm theo ý đồ của chú sao? Bí thư muốn lôi tôi vào cuộc.

– Anh quá biết bấy lâu vợ em làm gì cũng thận trọng. Nay ỷ vào chị nhà, cô ấy nhắm mắt bương theo, làm sao em ngăn cản nổi! Tôi nói.

– Thôi được, cám ơn đã cho hay. Nhưng theo chú, tôi phải làm gì đây? Bí thư vấn kế, thở dài ngao ngán.

– Trước mắt, anh xem bên kiểm lâm có chịu nhận tiền rồi đóng bùa cho chúng ta không? Bỏ qua chuyện đôi co, tôi mớm.

– Bọn đó, chú khỏi lo! Bí thư nói.

– Thế chủ tịch Phạm Tư và cả Hai Đa đã biết chi chưa? Tôi đánh sang phía khác.

– Ngoài mặt thì chưa nhưng bên trong coi như đã, tay chân hai vị đó đều có phần cả! Bí thư nói.

Thì ra ông ta không hời hợt như mình tưởng. Tôi thầm nghĩ và cảm thấy không còn gì phải bàn thêm nữa. Trở lại nhà, tôi gọi Lê Viết Kỳ tới quở mắng.

– La lối có ích gì, tình thế vẫn chưa đến nỗi nào!

Mơ can thiệp, đỡ đòn cho Kỳ.

Ngay hôm sau, Mơ và Dung tức tốc vào các tỉnh miền trong, bắt mối với cả bọn người trước đây bỏ của chạy thoát thân. Điện thoại gọi về, tôi bảo Lê Viết Kỳ tập trung xe tải gỗ, tất cả di chuyển trong đêm, kèm theo một ít tiền mặt để đấm mõm dọc đường. Ròng rã hai tháng, tôi gầy tọp nhưng may không ngã bệnh. Trót lọt, Mơ và Kỳ mang vàng và đô-la sang Campuchia, tiếp tục móc nối với bọn quân phiệt đang cát cứ những cánh rừng nguyên sinh nằm sâu trong nội địa.

Tạm thời hạ cánh an toàn. Trong lúc chúng tôi đang thanh thản an vui, đài BBC đưa tin lâm tặc Việt Nam sang phá rừng Campuchia. Là người trong cuộc, lại trực tiếp nghe đài, tôi chẳng còn nghi ngờ gì nữa.

BBC đưa tin kèm phỏng vấn một viên chức cơ quan quốc tế Unesco. Sau khi ước tính diện tích rừng bị phá, bày tỏ quan ngại về khí hậu, ông ta gọi đích danh kẻ chủ mưu mua chuộc quân phiệt Campuchia là Le Viet Ky – chỉ thiếu có ba dấu giọng!

– Mắc mớ gì mà Liên Hiệp Quốc lại xía vô cái xó Đông Dương mù lòa lạc hậu này?

Khi nghe tôi báo, bà Cù Thị The và Mơ nhăn nhó.

– Tại sao không? Họ không mắc mớ thì ai mắc mớ? Tôi nổi cáu. – Campuchia đã nhận tài trợ của Unesco, một tổ chức chuyên trách Văn Hóa Khoa Học Giáo Dục Liên Hiệp Quốc, khoanh vùng rừng nguyên sinh làm lá phổi xanh cho thế giới. Thế mà nay trống đánh xuôi kèn thổi ngược, lật lọng với cả quốc tế…

 – Nhưng bọn họ có cho không chúng ta đâu?

Mơ ngắt lời tôi, cứ một mực khăng khăng.

– Đúng là không cho không! Đứa bán trộm phải chịu trọng án vì hắn là kẻ chủ mưu, người mua nhầm chỉ lây vạ đồng lõa thôi. Nhưng nhà nước ta đã ký công ước về môi trường với Liên Hiệp Quốc, con dại cái mang, bẽ mặt, trung ương khó bỏ qua! Tôi giải thích.

Và không sai tí nào. Chúng tôi chưa kịp chỉnh đốn, Hà Nội cấp tập phái thanh tra vào.

Nguyễn Thanh Cưỡng giấu mặt, chủ tịch Phạm Tư gọi tôi lên đập bàn chí chát, Mơ xách gói đi đêm, Lê Viết Kỳ bố trí ăn chơi cho các thiên sứ đường xa gió bụi. Đương nhiên các ngài hứa hẹn châm chước. Rồi từ vai thanh tra, các ngài hợp đồng cùng chúng tôi đối phó. Nghiệt nỗi, ở trong nước chẳng cần phải trái, nói sao nhân dân cũng vỗ tay, tên nào ương bướng quy cho phản động, dùng bạo lực cách mạng trấn áp là xong, ra chỗ quốc tế, ba hoa bậy bạ ai chịu nghe cho!

Vậy làm sao đây?

Sau cả tuần mật bàn với lãnh đạo, nhiều cuốc gọi giữa địa phương và trung ương, tôi buộc Lê Viết Kỳ chia toàn bộ lợi nhuận phi vụ ấy làm ba, một phần chuyển ra Hà Nội góp vào Quỹ Hỗ Trợ Nạn Nhân Chất Độc Màu Da Cam, một phần chuyển vào quỹ phúc lợi tỉnh để làm đường nông thôn, và một phần chuyển qua sở giáo dục đào tạo để xây trường học ở mấy huyện vùng sâu. Trung ương trả lời Unesco đồng ý.

Vậy là chó tha ra mèo cắp lấy, công cốc! Không!

Láo lếu mà từ quốc gia đến cả quốc tế đều nghe thật, có ai biết sau khi hạch toán chúng tôi đã kiếm được bao nhiêu đâu! Và có ai biết ngựa quen đường cũ, nghề dạy nghề, rút kinh nghiệm, chúng tôi còn tinh xảo hơn nữa trong việc làm ăn vượt biên giới?

(Hết Chương 106 – Z.39 – Z.45)

Share this post